Bước tới nội dung

Diego Simeone

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Family name hatnote Bản mẫu:Hộp thông tin tiểu sử bóng đá

Diego Pablo Simeone González (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [ˈdjeɣo ˈpaβlo simeˈone]; tiếng Ý: [ˈdjɛːɡo simeoːne, ˈdjeː-];[1][2] sinh ngày 28 tháng 4 năm 1970), có biệt danh là "El Cholo" ([ˈtʃolo]), là một huấn luyện viên bóng đá chuyên nghiệp và cựu cầu thủ bóng đá người Argentina từng thi đấu ở vị trí tiền vệ. Ông dẫn dắt câu lạc bộ Bản mẫu:Spanish football updater Atlético Madrid kể từ tháng 12 năm 2011, và là huấn luyện viên có thời gian tại vị lâu thứ hai tại châu Âu hiện nay.[lower-alpha 1]

Trong sự nghiệp cầu thủ bắt đầu từ năm 1987, Simeone từng thi đấu tại Argentina, Ý và Tây Ban Nha cho các câu lạc bộ Vélez Sarsfield, Pisa, Sevilla, Atlético Madrid, Inter Milan, LazioRacing Club. Ông đã giành được cú đúp danh hiệu quốc nội cùng Atlético Madrid vào năm 1996, lên ngôi tại UEFA Cup cùng Inter vào năm 1998, và tiếp tục giành một cú đúp quốc nội khác cùng Lazio vào năm 2000. Ngoài ra, ông còn sở hữu danh hiệu Siêu cúp châu Âu 1999 và Siêu cúp bóng đá Ý 2000. Ở cấp độ quốc tế, Simeone có hơn 100 lần khoác áo đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina, từng đại diện cho quốc gia tham dự các kỳ World Cup 1994, 19982002. Ông cũng góp mặt trong bốn kỳ Copa América, giành chức vô địch vào các năm 19911993. Các danh hiệu khác của ông bao gồm Cúp Liên đoàn các châu lục năm 1992, Cúp Artemio Franchi 1993 và huy chương bạc tại Thế vận hội Mùa hè 1996.

Trên cương vị huấn luyện viên, Simeone từng dẫn dắt các đội bóng Argentina như Racing Club, Estudiantes, River Plate, San Lorenzo và câu lạc bộ Ý Catania trước khi gia nhập đội bóng Tây Ban Nha Atlético Madrid vào năm 2011. Ông từng đăng quang tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Argentina cùng cả Estudiantes và River Plate.

Simeone đạt được những thành công rực rỡ nhất trong sự nghiệp cầm quân tại Atlético Madrid, biến đội bóng thành đối trọng thực sự tại La Liga và phá vỡ thế độc tôn của bộ đôi Real MadridBarcelona. Trên cương vị HLV của Atletico, ông đã hai lần giành chức vô địch La Liga, giành một Cúp Nhà vua Tây Ban Nha, hai danh hiệu UEFA Europa League, hai Siêu cúp châu Âu, đồng thời có hai lần lọt vào trận chung kết UEFA Champions League. Simeone hiện là huấn luyện viên tại vị lâu nhất tại La Liga với hơn một thập kỷ gắn bó cùng Atlético.

Sự nghiệp cầu thủ

Câu lạc bộ

Khi Simeone 14 tuổi, huấn luyện viên đội trẻ là Victorio Spinetto đã đặt cho cậu biệt danh Cholo vì lối chơi mạnh mẽ làm ông nhớ đến cựu cầu thủ Boca Juniors Carmelo Simeone (không có họ hàng với Diego) từng có biệt danh này.[3]

Sau khi khởi đầu sự nghiệp với câu lạc bộ Vélez Sarsfield, Simeone chuyển tới thi đấu cho câu lạc bộ ở Serie APisa vào năm 1990. Câu lạc bộ này phải xuống hạng trong mùa bóng đầu tiên của anh ở đây, Sau khi câu lạc bộ không thăng hạng ở mùa bóng tiếp theo, Simeone được bán cho SevillaPrimera División. Simeone chơi hai mùa bóng ở Seville, sau đó anh ký hợp đồng với Atlético de Madrid. Tại Atlético, anh là thành viên của đội bóng giành cú đúp chức vô địch quốc gia và Cúp quốc gia mùa bóng 1995–96.

Năm 1997, Simeone trở lại Serie A khoác áo của Internazionale và chơi tại đây hai mùa bóng, giành được Cúp UEFA 1997–98 với Ronaldo đá tiền đạo. Năm 1999, Simeone chuyển sang Lazio thi đấu cùng các đồng hương Néstor Sensini, Matías Almeyda, Hernán CrespoJuan Sebastián Verón dưới sự huấn luyện của Sven Göran Eriksson. Đội bóng suýt giành được Scudetto ở mùa bóng trước khi Simeone đến. Anh đã góp phần giúp đội bóng vô địch quốc gia ở mùa đầu tiên có mặt khi Juventus dẫn trước Lazio 2 điểm trước vòng cuối. Ở vòng cuối Juventus thua còn Lazio thắng Reggina trên sân nhà và giành ngôi. Mùa bóng đó Simeone cũng có cú đúp ở Ý khi Lazio vượt qua Inter giành Cúp quốc gia.

Anh chơi ở Roma ba mùa bóng nữa, trong đó ghi một bàn thắng vào lưới đội bóng cũ Inter ở vòng cuối mùa bóng 2001–02, làm đội này hết hi vọng vô địch.

Simeone trở lại Atlético năm 2003, chơi thêm hai mùa bóng nữa rồi rời châu Âu. Anh kết thúc sự nghiệp cầu thủ ở quê nhà với câu lạc bộ Racing.

Quốc tế

Năm 1992, Simeone khoác áo đội tuyển U-23 Argentina tham dự Giải bóng đá tiền Thế vận hội Nam Mỹ 1992 tại Paraguay; ở giải đấu này, Argentina đã không thể giành vé dự Thế vận hội Mùa hè 1992.[4]

Trong màu áo đội tuyển quốc gia Argentina, Simeone có tổng cộng 106 lần ra sân,[5] lần đầu tiên là vào năm 1988 trong trận thua 1–4 trước đội tuyển bóng đá quốc gia Úc.[6] Ông là cầu thủ đầu tiên đạt cột mốc 100 trận đấu quốc tế cho Argentina, với lần ra sân thứ 100 diễn ra trong trận gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Venezuela vào tháng 3 năm 2002.[6]

Dù không góp mặt trong đội hình Argentina giành ngôi á quân tại World Cup 1990,[6] Simeone sau đó đã cùng Argentina vô địch các kỳ Copa America 19911993.[7] Ông góp mặt tại các kỳ World Cup 1994, 19982002,[6] trong đó ông đeo băng đội trưởng tại kỳ World Cup 1998.[8] Ông cũng nằm trong thành phần đội tuyển dự Copa America 1995[9] và Copa America 1999,[10] đồng thời cùng đội tuyển U-23 Argentina giành huy chương bạc tại Thế vận hội Mùa hè 1996 ở Atlanta với tư cách là một trong ba cầu thủ quá tuổi được phép trong đội hình.[6]

Ở vị trí tiền vệ, Simeone đã ghi 11 bàn cho đội tuyển quốc gia,[5] bao gồm một pha lập công trong trận chung kết thắng 3–1 trước đội tuyển bóng đá quốc gia Ả Rập Xê Út tại FIFA Confederations Cup 1992.[11] Ông cũng giành Cúp Artemio Franchi 1993 sau khi đánh bại đội tuyển bóng đá quốc gia Đan Mạch 5–4 trên loạt sút luân lưu (hòa 1–1 trong giờ thi đấu chính thức), trong đó ông thực hiện thành công quả đá thứ ba cho Argentina.[12]

Ông đá chính ở hàng tiền vệ trong trận đấu tại vòng 16 đội của Argentina trước Romania tại World Cup 1994. Trong trận đấu này, ông đã góp công vào bàn thắng của Abel Balbo khi tiền đạo này băng vào đá bồi sau cú sút bị cản phá của Simeone, dù vậy ông không thể giúp Argentina tránh khỏi việc bị loại sau thất bại bất ngờ với tỷ số 2–3.[13] Tại vòng 16 đội World Cup 1998, David Beckham của đội tuyển Anh đã bị truất quyền thi đấu vì lỗi đá nguội đối với Simeone để trả đũa một pha phạm lỗi (xem thêm Đối đầu bóng đá Argentina – Anh); chung cuộc Argentina giành chiến thắng trên loạt sút luân lưu. Simeone sau đó thừa nhận rằng ông đã giả vờ chấn thương sau cú đá đó để khiến Beckham bị thẻ đỏ.[14] Tờ Sports Illustrated từng lên tiếng chỉ trích "màn kịch" của cầu thủ người Argentina trong sự cố đó, khi cho rằng Simeone đã thực hiện một pha vào bóng "nặng tay" với Beckham rồi sau đó "ngã xuống như thể bị một tấn gạch đè lên" khi Beckham phản kháng.[15] Ở vòng đấu tiếp theo gặp Hà Lan, Simeone dính chấn thương sau pha tắc bóng của Arthur Numan trong trận thua muộn 1–2 của đội nhà.[16] Tại World Cup 2002, kỳ World Cup cuối cùng trong sự nghiệp Simeone, Argentina bị loại ngay từ vòng bảng,[17] trong đó có trận thua 0–1 trước đội tuyển Anh khi Beckham thực hiện thành công một quả phạt đền.[18] Simeone từng chia sẻ vào năm 2002 rằng ông cảm thấy "ngượng ngùng" khi vượt qua Diego Maradona để trở thành cầu thủ khoác áo đội tuyển Argentina nhiều nhất lịch sử vào thời điểm đó,[6] dù sau này kỷ lục của ông đã bị Roberto Ayala, Javier Mascherano, Javier Zanetti, Ángel Di María, Nicolás OtamendiLionel Messi lần lượt vượt qua.[5]

Phong cách thi đấu

Simeone được đánh giá là một tiền vệ toàn diện, cần mẫn, đa năng và thi đấu vô cùng ngoan cường. Ông hoạt động rất rộng, không chiến tốt, vừa có khả năng đánh chặn thu hồi bóng vừa biết cách phát động tấn công, đồng thời cũng rất có duyên ghi bàn. Nhờ vậy, ông có thể đảm nhận mọi vị trí ở tuyến giữa trong suốt sự nghiệp của mình, dù thường xuyên được xếp đá ở trung lộ trong vai trò của một tiền vệ con thoi (box-to-box) hoặc tiền vệ phòng ngự.[19][20][21] Đôi khi, ông cũng được đẩy lên đá như một tiền vệ công nhờ khả năng dâng cao dứt điểm tốt bên cạnh việc lùi về hỗ trợ phòng ngự, dù đây không phải là vị trí sở trường nhất của ông.[22][23] Tại kỳ World Cup 1998, ông còn được thử nghiệm ở vai trò hậu vệ biên tấn công (wing-back) cánh trái trong trận đấu vòng 16 đội gặp tuyển Anh.[24] Là một cầu thủ tài năng nhưng cũng mang đậm chất máu lửa, ông nổi bật với tố chất thủ lĩnh, sự linh hoạt trong chiến thuật, sự thông minh, sức mạnh và nền tảng thể lực sung mãn,[25] bên cạnh đó giới chuyên môn cũng đánh giá cao ông ở kỹ thuật cá nhân, nhãn quan chiến thuật và khả năng chuyền bóng đa dạng.[19][25] Simeone từng miêu tả lối chơi tắc bóng quyết liệt của mình giống như việc "ngậm một con dao giữa hai hàm răng",[19] đồng thời tự ví bản thân như một "chiến binh, một đấu sĩ luôn cống hiến hết mình".[6] Hình mẫu truyền cảm hứng lớn nhất cho ông khi còn thi đấu là tiền vệ người Brazil Falcão và tiền vệ người Đức Lothar Matthäus.[26]

Sự nghiệp huấn luyện viên

Những năm đầu

Simeone kết thúc sự nghiệp cầu thủ của mình ở CLB Racing, chơi trận đấu cuối cùng vào ngày 17 tháng 2 năm 2006, và rồi trở thành huấn luyện viên của chính đội bóng này. Sau một khởi đầu khó khăn, đội đã tạo được ấn tượng ở giai đoạn kết thúc mùa bóng năm 2006. Khi chủ tịch của đội bóng mới được trúng cử, Simeone rời Racing tháng 5 năm 2006 và người thay thế ông là Reinaldo Merlo.

Vào 18 tháng 5, ông trở thành huấn luyện viên trưởng của CLB Estudiantes de La Plata và rồi lập tức dẫn dắt họ đến với danh hiệu đầu tiên sau 23 năm chờ đợi bằng việc đánh bại Boca Juniors 2-1 trong trận chung kết vào ngày 13 tháng 12 năm 2006. Trong tháng 10/2006 ông được bầu chọn là HLV xuất sắc nhất Argentina trong một cuộc thăm dò ý kiến của nhật báo thể thao Ole. Simeone được ca ngợi là "Sinh ra để làm HLV" bởi cựu HLV người Argentina Roberto Perfumo. Simeone rời CLB Estudiantes de La Plata sau khi kết thúc năm 2007, khi mà CLB có một khởi đầu tồi tuy nhiên CLB chiến đấu ngoan cường với thành tích bất bại 9 trận kết thúc mùa bóng. Vào 15 tháng 12 năm 2007, Simeone đã được thông báo là thuyền trưởng của CLB River Plate. Hợp đồng có thời hạn 1 năm, bắt đầu từ ngày 3 tháng 1 năm 2008. Sau khi sớm bị loại khỏi Cup Copa Libertadores sau thất bại trước San Lorenzo ở vòng 2, Simeone và River Plate đã giành chức vô địch Clausura 2008 sau khi đán bại Olimpo 2-1 ở Monumental. Vào ngày 7 tháng 11 năm 2008, Simeone đã từ chức HLV ở River Plate sau khi đội bị loại khỏi tứ kết của Cúp Copa Sudamericana mùa 2008 bởi đội bóng đến từ Mexico Chivas và phong độ tệ hại của đội bóng sau đó khi 10 trận đấu ở giải quốc nội không biết mùi chiến thắng, điều đó đẩy họ xuống vị trí cuối cùng của bảng xếp hạng Primera Division Argentina trước khi giải đấu còn 6 vòng nữa là kết thúc. Vào ngày 15 tháng 4 năm 2009, Simeone thay thế Miguel Angel Russo làm HLV trưởng CLB San Lorrenzo, sau đó câu lạc bộ bị loại từ vòng 1 của cúp Copa Libertadores mùa 2009. Vào ngày 3 tháng 4 năm 2010, HLV này đã rời San Lorenzo với chuỗi thành tích nghèo nàn và làn sóng chỉ trích ông dâng cao.

Catania/Racing

Vào ngày 19 tháng 1 năm 2011, Simeone bay đến Sicily để gia nhập Catania đang chơi ở giải Seria A, ông thay thế cho Marco Giampaolo vừa rời CLB cách đó ít giờ. Vào 1 tháng 6 năm 2011, ông rời CLB sau khi giúp Catania thoát khỏi xuống hạng. Vào ngày 21 tháng 6 năm 2011, Simeone được xướng danh với tư cách là HLV mới của CLB Racing lần thứ 2 thay thế cho HLV Miguel Angel Russo người vừa từ chức cách đó ít tuần.

Atlético Madrid

Năm đầu tiên

Vào ngày 23 tháng 12 năm 2011, Simeone đã được thông báo là HLV mới của CLB Atletico Madrid, thay thế cho Gregorio Manzano người đã bị sa thải trước đó vài ngày sau khi đội bị thất bại tại vòng 3 trước Albacete Balompie ở Cúp nhà vua Tây Ban Nha. Mùa bóng đầu tiên Simeone đã dẫn dắt toàn đội dành ngôi vô địch Cúp UEFA Europa League sau khi đánh bại Athletic Bilbao với tỉ số 3-0 trong trận chung kết ở Bucharest.

Vào ngày 31 tháng 8 năm 2012 ông giành siêu cúp châu Âu sau khi đánh bại Chelsea với tỉ số 4-1 tại sân vận động Stade Louis II ở Monaco. Vào ngày 17 tháng 5 năm 2013, ông giành thêm cúp nhà Vua cùng Atletico sau khi đánh bại đối thủ Real Madrid 2-1 tại sân vận động Santiago Bernabeu. Simeone dẫn dắt đội giành vị trí thứ ba tại giải La Liga mùa 2012-2013 và ở mùa giải 2013-2014 đội đã kết thúc với ngôi vị vô địch, thành tích tốt nhất của đội bóng kể từ năm 1996.

2013–17: Vô địch La Liga và hai lần lọt vào chung kết UEFA Champions League

Atletico bắt đầu mùa 2013-2014 với đội hình như mùa bóng trước, mặc dù bán đi ngôi sao của họ Ramadel Falcal cho AS Monaco với giá được thông báo là 60 triệu Euro, và có được David Villa từ Barca từ chuyển nhượng tự do. Khởi đầu mùa bóng với thất bại trước Barcalona ở Siêu cúp Tây Ban Nha 2013, toàn đội lập kỉ lục với 8 trận thắng liên tục ở giải La Liga, một khởi đầu tốt nhất của họ trong lịch sử đội bóng. Trong đó có chiến thắng 1-0 trong chuyến làm khách tại Santiago Bernabeu trước Real Madrid, điều đó làm cho Simeone trở thành HLV đầu tiên của Atletico kể từ khi Claudio Ranieri giành chiến thắng ở đó vào năm 1999. Atletico kết thúc lượt đi với vị trí số một trên bảng xếp hạng La Liga với cùng điểm số với Barca, 47 điểm. Ở vòng cuối cùng của mùa bóng ngày 17 tháng 5, Atletico cần ít nhất một điểm tại Nou Camp khi đối đầu với Barcalona để giành ngôi vô địch La Liga, nếu không có điểm nào, họ sẽ dâng cúp cho Barcalona. Một pha làm bàn bằng đầu của Diego Godin từ quả phạt góc ở phút 48 đưa Atletico gỡ hòa và việc giành được 1 điểm trong trận đấu đó đã giúp Atletico lên ngôi vô địch lần thứ 10, cũng là lần đầu tiên kể từ năm 1996 khi Simeone thi đấu trong màu áo của Atletico. Simeone trở thành HLV Argentina thứ 2 sau Helenio Herrera khi dẫn dắt Atletico vô địch giải đấu quốc nội Tây Ban Nha, và là HLV thứ 2 sau Luis Aragones giành ngôi vô địch trong tư cách cầu thủ lẫn HLV. Năm đó, Atletico đạt 90 điểm tại La Liga, vượt qua kỉ lục của chính họ năm 1996 khi được 87 điểm, đưa mùa bóng 2013-2014 trở thành mùa bóng thành công nhất trong lịch sử CLB.

Atletico kết thúc vòng bảng Champions League với vị trí đầu bảng, và sau đó giành chiến thắng trước A.C. Milan với tổng tỉ số 5-1 tại vòng 1/16. Qua đó giúp họ lần đầu lọt vào tứ kết Champions League kể từ năm 1996-1997. Ở trận tứ kết, Atletico thi đấu trước đội bóng đồng hương Barcalona, và giành chiến thắng với tổng tỉ số 2-1 với chiến thuật của Simeone đó là cắt các đường chuyền 1 chạm của tuyến giữa Barcalona, do đó họ không cho đối thủ có khoảng trống và cô lập Xavi và Iniesta từ Messi và Neymar. Ở trận bán kết, Atletico đánh bại đội bóng Chelsea của Mourinho 3-1 ở Stamford Bridge, và ở trận lượt về họ hòa với không bàn thắng nào được ghi từ 2 đội để hướng đến trận chung kết lần thứ 2 trong lịch sử CLB, lần đầu vào năm 1974. Atletico là đội duy nhất bất bại tại Champions League trước thềm chung kết, với 9 thắng 3 hòa và có hàng thủ tốt nhất, lủng lưới 6 bàn trong 12 trận. Trận chung kết ngày 24 tháng 5, Atletico đối đầu đối thủ cùng thành phố Real Madrid tại Estadio da Luz ở Libon. Mặc dù dẫn trước từ pha đánh đầu của Diego Gordin và kiên cường chiến đầu với đội bóng có ngân sách gấp 5 lần đội mình, toàn đội đã sụp đổ sau bàn thắng gỡ hòa vào phút 93 của trận đấu. Bàn thắng đã phá vỡ tinh thần thi đấu của họ và họ đã chịu thua với tỉ số 4-1 sau khi kết thúc hiệp phụ. Simeone đánh mất cơ hội trở thành HLV Argentina thứ 3 giành được Champions League, sau Luis Carniglia và Helenio Herrera. Sau bàn thắng cuối cùng, cầu thủ Real là Raphael Varane đã sút quả bóng về phía Simeone, làm Simeone tức giận lao ra đường pitch. Ông đã được đẩy lên khán đài và Varane gặp rắc rối sau đó. Sau tình huống đó, Simeone đã nói rằng “Tôi đã gây ra lỗi lầm với phản ứng của mình. Cậu ấy còn trẻ và tương lai còn đang sáng sủa”.Simeone đã thừa nhận trong trận đấu đó có lỗi của mình trong việc để Diego Costa xuất phát trong tình trạng chấn thương và bị thay ra sau 8 phút thi đấu.

Vào mùa hè năm 2014, Chelsea đã chiêu mộ Diego Costa, Filipe LuísThibaut Courtois từ Atlético, đồng thời David Villa cũng chuyển đến giải MLS. Để bù đắp cho những mất mát này, Atlético đã đưa về tiền đạo Mario Mandžukić từ Bayern Munich, thủ môn Jan Oblak từ Benfica, cùng các tiền đạo Antoine Griezmann từ Real SociedadÁngel Correa từ San Lorenzo, đồng thời gọi lại tiền vệ trẻ Saúl sau thời gian cho mượn tại Rayo Vallecano. Mùa giải bắt đầu đầy hứa hẹn khi Atlético đánh bại đối thủ cùng thành phố Real Madrid để giành Siêu cúp Tây Ban Nha 2014 vào tháng 8, và một lần nữa ca khúc khải hoàn tại Bernabéu trong khuôn khổ giải quốc nội vào tháng 9. Đến tháng 1, đội bóng mượn được Fernando Torres từ Milan. Tuy nhiên, Atlético chỉ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ ba và bị Real Madrid loại ở tứ kết UEFA Champions League 2014–15 với tổng tỷ số 1–0 sau hai lượt trận.

Trước thềm mùa giải 2015–16, Filipe Luís trở lại từ Chelsea; đội bóng cũng chiêu mộ hậu vệ người Montenegro Stefan Savić và tiền vệ người Bỉ Yannick Carrasco. Ở chiều ngược lại, Mario Mandžukić chuyển sang đầu quân cho Juventus. Trong mùa bóng 2015–16, Atlético là đội bóng có hàng phòng ngự xuất sắc nhất trong "năm giải đấu lớn" hàng đầu châu Âu khi chỉ để lọt lưới 18 bàn sau 38 trận tại La Liga. Họ cũng là đội có số trận giữ sạch lưới nhiều nhất. Atlético đã duy trì cuộc đua đến ngôi vô địch cho đến tận vòng đấu cuối cùng với Barcelona và Real Madrid, trước khi chấp nhận vị trí thứ ba với 88 điểm.

Tại UEFA Champions League 2015–16, Simeone đã dẫn dắt Atlético lọt vào trận chung kết Champions League lần thứ hai trong vòng ba mùa giải, giúp ông trở thành huấn luyện viên người Argentina đầu tiên sau Héctor Cúper góp mặt ở hai trận chung kết của giải đấu này. Trên hành trình đó, Atlético đã vượt qua PSV trên chấm luân lưu ở vòng 16 đội, hạ gục nhà đương kim vô địch Barcelona với tổng tỷ số 3–2 và đánh bại ứng cử viên vô địch Bayern Munich nhờ luật bàn thắng sân khách (tổng tỷ số hòa 2–2). Trận chung kết năm 2014 được tái hiện khi họ một lần nữa đối đầu với Real Madrid. Trận đấu kết thúc với tỷ số hòa 1–1 sau hiệp phụ và phải phân định bằng loạt sút luân lưu. Juanfran là cầu thủ duy nhất sút hỏng, tạo điều kiện cho Cristiano Ronaldo thực hiện thành công quả đá quyết định, khiến Atlético lần thứ hai phải nhận thất bại trong trận chung kết Champions League chỉ trong vòng ba mùa bóng.

Simeone vào năm 2017

Mùa hè năm 2016, Atlético chiêu mộ tiền đạo Kevin Gameiro từ Sevilla, tiền vệ Nicolás Gaitán từ Benfica và hậu vệ Šime Vrsaljko từ Sassuolo. Họ cũng mua đứt Fernando Torres (trước đó thi đấu theo dạng cho mượn từ Milan). Đội bóng tiếp tục cán đích ở vị trí thứ ba tại giải quốc nội và dừng bước tại bán kết UEFA Champions League 2016–17, một lần nữa trước đối thủ Real Madrid.

2017–21: Chức vô địch Europa League thứ hai và vinh quang tại La Liga

Ngày 5 tháng 9 năm 2017, Simeone đã gia hạn hợp đồng với Atlético thêm hai năm, kéo dài đến tháng 6 năm 2020.[27] Trong mùa giải 2017–18, Atlético cán đích ở vị trí thứ hai tại La Liga, xếp sau Barcelona nhưng đứng trên đối thủ cùng thành phố Real Madrid.[28]

Tại Vòng bảng UEFA Champions League 2017–18, Atlético không thể giành quyền đi tiếp và phải xuống chơi tại UEFA Europa League 2017–18. Vào tháng 1 năm 2018, Diego Costa từ Chelsea trở lại khoác áo Atlético. Ngày 16 tháng 5 năm 2018, đội bóng đã giành chiến thắng trong trận Chung kết UEFA Europa League 2018 trước Marseille.[29] Simeone bị truất quyền chỉ đạo ngay từ trận bán kết lượt đi với Arsenal và nhận án đình chỉ, buộc ông phải theo dõi trận lượt về cũng như trận chung kết từ trên khán đài.[30]

Bước sang mùa giải 2018–19, Atlético chiêu mộ Thomas Lemar từ Monaco[31]Rodri từ Villarreal.[32] Đến tháng 1 năm 2019, họ mượn thành công Álvaro Morata từ Chelsea,[33] trong khi đội trưởng lâu năm Gabi chuyển sang câu lạc bộ Al-Sadd của Qatar trước khi mùa bóng khởi tranh.[34] Đội bóng một lần nữa kết thúc mùa giải ở vị trí á quân sau Barcelona và đứng trên Real Madrid. Tại Champions League, họ lọt vào vòng loại trực tiếp đầu tiên nhưng bị loại bởi Juventus; dù thắng 2–0 ở lượt đi tại Wanda Metropolitano, họ lại để thua 0–3 trong trận lượt về ở Turin. Simeone đã dẫn dắt đội bóng lọt vào vòng 16 đội Champions League lần thứ sáu kể từ khi bắt đầu triều đại của mình vào năm 2011, trong khi trước khi ông đến, Atlético chỉ đạt được thành tích này 7 lần trong suốt 60 năm.[35] Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Atlético Madrid đã biến Liverpool thành cựu vương châu Âu với chiến thắng 3–2 sau hiệp phụ ngay tại Anfield, qua đó thắng chung cuộc 4–2 sau hai lượt trận (trước đó Saúl đã ghi bàn duy nhất ở phút thứ 5 giúp họ thắng 1–0 trong trận lượt đi).[36]

Vào ngày 27 tháng 6 năm 2020, Simeone đã có trận thắng thứ 195 tại giải đấu hạng cao nhất Tây Ban Nha khi Atleti hạ gục Alavés 2–1. Với kỳ tích này, chiến lược gia người Argentina đã vượt qua huyền thoại của câu lạc bộ là Luis Aragonés (194 trận thắng) để trở thành huấn luyện viên có nhiều trận thắng nhất lịch sử đội bóng tại La Liga.[37]

Vào ngày 7 tháng 7 năm 2020, trong trận đấu với Celta Vigo, Simeone đã vượt qua John Toshack để trở thành huấn luyện viên có số trận dẫn dắt một câu lạc bộ nhiều thứ ba trong lịch sử giải đấu hạng cao nhất Tây Ban Nha với 323 trận tại La Liga. Chỉ có Miguel Muñoz (Real Madrid, 424 trận) và huyền thoại của câu lạc bộ Luis Aragonés (407 trận) là có thành tích xếp trên ông.[38]

Simeone vào năm 2019

Trong mùa giải 2020–21, Atlético đã chia tay tiền đạo kỳ cựu Diego Costa và chiêu mộ thành công Luis Suárez sau khi anh rời Barcelona. Đội bóng cũng đón chào sự trở lại của Yannick Carrasco từ Đại Liên Nhân, đồng thời sở hữu thêm Geoffrey Kondogbia từ Valencia, mượn Lucas Torreira từ ArsenalMoussa Dembélé từ Lyon; ở chiều ngược lại, Thomas Partey chuyển sang Arsenal và Álvaro Morata được đem cho Juventus mượn. Ngày 17 tháng 10 năm 2020, Simeone đạt cột mốc 200 chiến thắng tại giải quốc nội sau trận thắng 2–0 trên sân của Celta Vigo.[39] Đến ngày 30 tháng 12 năm 2020, ông chính thức có trận đấu thứ 500 dẫn dắt Atlético Madrid trong chiến thắng 1–0 trước Getafe.[40] Ngày 10 tháng 3 năm 2021, với trận thắng 2–1 trước Athletic Bilbao trên sân nhà, Simeone chính thức vượt qua Luis Aragonés để trở thành huấn luyện viên có nhiều trận thắng nhất lịch sử câu lạc bộ với tổng cộng 309 chiến thắng.[41]

Sau thất bại 0–4 trước Bayern Munich cùng cuộc khủng hoảng chấn thương của các trụ cột vào tháng 11 năm 2020, Simeone đã thay đổi sơ đồ chiến thuật bằng cách lần đầu tiên áp dụng hàng thủ ba người trong suốt thời gian dẫn dắt Atlético. Với sơ đồ này, Carrasco đảm nhận vai trò hậu vệ biên tấn công (wing-back), trong khi trung vệ lệch trái Mario Hermoso được chỉ thị bọc lót cho vị trí hậu vệ trái khi Carrasco dâng cao, giúp sơ đồ chuyển đổi linh hoạt giữa hàng thủ 3 người và 4 người.[42] Sự thay đổi này đã giúp hàng thủ Atlético trở nên vững chắc và mở ra chuỗi trận thắng liên tiếp, bao gồm cả thắng lợi 1–0 trước Barcelona. Chuỗi phong độ cao đã giúp đội bóng nới rộng khoảng cách với Real Madrid và Barcelona lên tới 10 điểm trong cuộc đua vô địch La Liga tính đến tháng 2. Tuy nhiên, những kết quả không tốt từ tháng 2 đến tháng 4 đã khiến Atlético bị Chelsea loại khỏi Champions League, đồng thời bị Real Madrid rút ngắn khoảng cách xuống còn 2 điểm trước vòng đấu cuối. Ở vòng đấu quyết định, nhờ bàn thắng ở phút 67 của Suárez, Atlético Madrid đã lội ngược dòng thắng Real Valladolid 2–1 để chính thức lên ngôi vô địch La Liga lần thứ hai dưới thời Simeone.[43]

Vào ngày 8 tháng 7 năm 2021, Atlético thông báo gia hạn hợp đồng với Simeone đến năm 2024, đồng thời xác nhận toàn bộ các thành viên trong ban huấn luyện của ông cũng đã ký hợp đồng mới.[44]

2022–nay: Gia hạn hợp đồng và những kỷ lục mới

Ngày 9 tháng 11 năm 2023, Simeone đã ký gia hạn hợp đồng với Atlético Madrid đến ngày 30 tháng 6 năm 2027.[45] Cuối tháng đó, vào ngày 28 tháng 11, ông đã cán mốc 100 trận đấu tại Champions League trong chiến thắng 3–1 trên sân khách trước Feyenoord. Thành tích này giúp ông trở thành huấn luyện viên thứ ba trong lịch sử giải đấu đạt được cột mốc dẫn dắt 100 trận cùng một câu lạc bộ duy nhất, sau Alex FergusonArsène Wenger.[46]

Vào ngày 23 tháng 11 năm 2024, Simeone có trận đấu thứ 700 dẫn dắt đội bóng trên mọi đấu trường và đánh dấu kỷ niệm này bằng chiến thắng lội ngược dòng 2–1 trước Alavés.[47] Đến ngày 2 tháng 5 năm 2026, ông chính thức chạm mốc 1.000 trận đấu trong sự nghiệp cầm quân của mình với trận thắng 2–0 trên sân khách trước Valencia.[48]

Phong cách huấn luyện

Simeone vào năm 2013

Sơ đồ chiến thuật ưa thích của Simeone là 4–4–2, được ông áp dụng lần đầu tiên khi dẫn dắt Estudiantes vào năm 2006. Trong sơ đồ này, hai tiền vệ cánh sẽ di chuyển bó vào trung lộ và hoạt động như những tiền vệ công, nhằm tạo khoảng trống cho các hậu vệ biên dâng cao và mang lại sự linh hoạt cho mặt trận tấn công; về cơ bản, đội hình sẽ chuyển đổi thành 4–2–2–2 khi đội bóng tổ chức tấn công. Hai tiền vệ phòng ngự sẽ cung cấp "chất thép" cần thiết để giành chiến thắng trong các pha tranh chấp ở khu trung tuyến. Bằng việc vận hành sơ đồ này, Estudiantes của Simeone đã giành chức vô địch Apertura mùa giải 2006–07 sau khi đánh bại Boca Juniors 2–1 dù phải thi đấu thiếu người ngay từ hiệp một. Đây cũng chính là hệ thống chiến thuật nền tảng mà Simeone áp dụng tại Atlético Madrid. Simeone từng chia sẻ rằng phong cách huấn luyện của ông chịu ảnh hưởng từ Marcelo Bielsa, Sven-Göran Eriksson, Alfio Basile, Victorio Spinetto, Luigi Simoni, Carlos BilardoRadomir Antić.[49]

Khi còn dẫn dắt River Plate, một đội bóng sở hữu hàng loạt tài năng tấn công sáng giá như Radamel Falcao, Alexis Sánchez, Ariel Ortega, Mauro Rosales, Diego Buonanotte, Augusto FernándezSebastián Abreu, Simeone đã sử dụng sơ đồ 3–3–1–3 thiên về tấn công, mang đậm dấu ấn chiến thuật của vị huấn luyện viên có tầm ảnh hưởng lớn (và cũng là người thầy của ông) Marcelo Bielsa.[50] Với sơ đồ này, River Plate đã vô địch giải Clausura mùa 2007–08. Tuy nhiên, ở mùa giải tiếp theo, khi Sánchez trở lại Udinese và nhiều cầu thủ trụ cột dính chấn thương, hệ thống 3–3–1–3 đã phản tác dụng khiến River rơi xuống vị trí bét bảng, hệ quả là Simeone đã bị sa thải.[50]

Điểm đặc trưng trong các đội bóng do Simeone dẫn dắt là lối chơi phòng ngự lùi sâu chặt chẽ và tổ chức phản công chớp nhoáng. Hệ thống phòng ngự của họ được chia thành hai giai đoạn: lùi sâu phòng ngự ở 1/3 phần sân nhà với sơ đồ 4–4–2 thu hẹp (gồm hai tuyến phòng ngự 4 người giữ cự ly bọc lót sát nhau), và tổ chức phản pressing (counter-pressing) ngay trên 1/3 phần sân đối phương để đoạt lại bóng ở vị trí cao nhất có thể. Ngay khi giành được bóng, toàn đội sẽ đồng loạt chuyển trạng thái tấn công, triển khai đội hình 4–2–2–2 linh hoạt, trong đó các tiền đạo thường xuyên dạt cánh để mở ra nhiều khoảng trống hơn.[51][52] Trong khâu phòng ngự, ý tưởng chủ đạo là ép đối phương phải triển khai bóng ra hai biên, từ đó tạo ra thế áp đảo quân số tại khu vực có bóng để đoạt lại quyền kiểm soát hoặc buộc đối thủ phải chuyền về.[52] Phản pressing là việc bóp nghẹt không gian chơi bóng của đối phương, phá vỡ lối chơi phát triển bóng từ phần sân nhà và giảm thiểu tối đa các vị trí nhận bóng "an toàn" của họ, qua đó triệt tiêu những mối đe dọa lên khung thành.[52] Đội hình vô địch Premier League mùa giải 2015–16 của Claudio Ranieri tại Leicester City từng được ví như Atletico Madrid của Simeone, khi họ cũng liên tục tạo nên bất ngờ trước các ông lớn nhờ áp dụng sơ đồ 4–4–2 hẹp cùng sự gắn kết chặt chẽ giữa hàng thủ và tuyến tiền vệ.[53][54]

Trong quãng thời gian ngắn ngủi dẫn dắt câu lạc bộ Ý Catania vào năm 2011, ông đã luân phiên sử dụng các sơ đồ 4–2–3–1 và 4–3–1–2 nhằm phát huy tối đa năng lực của tiền vệ kiến thiết Adrián Ricchiuti, đồng thời áp dụng nhiều mảng miếng phản công vốn sau này trở thành bản sắc của ông tại Atlético. Ricchiuti được giao trọng trách kết nối tuyến tiền vệ với hàng công, đồng thời kiến tạo cơ hội cho những cầu thủ thi đấu ở vị trí tiền đạo cắm, bất kể đó là Maxi López, Gonzalo Bergessio hay Francesco Lodi. Simeone khẳng định ông không muốn "đóng khung bản thân vào một chiến thuật cứng nhắc". Ông cho rằng các huấn luyện viên không thể chỉ có duy nhất một sơ đồ ưa thích "vì một thực tế đơn giản là chúng ta phải thích nghi với những nhân sự đang có trong tay chứ không phải với những gì chúng ta muốn".[55] Các cầu thủ của ông luôn duy trì cự ly đội hình hẹp và kết khối chặt chẽ khi phòng ngự. Những cầu thủ đá cánh – được luân phiên sử dụng giữa Ezequiel Schelotto, Giuseppe Mascara, Raphael MartinhoAlejandro Gómez – có nhiệm vụ lùi về và bó vào trong mỗi khi đội nhà mất bóng; trong khi đó, nhạc trưởng Ricchiuti và tiền đạo cắm – thường là López – sẽ lùi về hỗ trợ tuyến giữa thay vì dâng cao pressing các trung vệ đối phương, với mục đích chính là ngăn chặn những đường chuyền đơn giản xuyên phá trung lộ.[55]

Simeone cũng nổi tiếng với sự tỉ mỉ đến từng chi tiết và khả năng thích ứng nhanh chóng trước những diễn biến trên sân. Trong thời gian dẫn dắt Atlético Madrid, ông rất chú trọng vào việc tạo ra cơ hội từ các tình huống cố định, đồng thời không cho đối phương làm điều tương tự. Rất nhiều bàn thắng quan trọng, bao gồm cả pha lập công mang về chức vô địch La Liga năm 2014 cho Atlético, đều xuất phát từ các pha bóng cố định.[56] Mặc dù các đội bóng của ông không nổi bật về tỷ lệ kiểm soát bóng, nhưng họ luôn được ca ngợi ở khả năng kiểm soát nhịp độ và không gian chơi bóng. Ông rất nhạy bén trong việc đưa ra những thay đổi chiến thuật nhằm định đoạt kết cục trận đấu. Lấy ví dụ ở trận bán kết UEFA Champions League 2015–16 gặp Bayern tại Munich, khi đội nhà đang bị dẫn 1–0 sau 45 phút đầu tiên, ông đã kéo Saúl Ñíguez từ cánh phải vào vị trí tiền vệ phòng ngự, chuyển đổi sơ đồ từ 4–4–2 sang 4–1–4–1 với Yannick CarrascoAntoine Griezmann hoạt động ở hai biên. Dù trên lý thuyết Saúl dường như phải thi đấu trái với sở trường, nhưng thực tế sự điều chỉnh này giúp các tiền vệ Gabi và Koke – những người bị ngợp trước sức ép khủng khiếp của Bayern trong hiệp một – được che chắn bởi sự hiện diện của Saúl ở phía sau, qua đó giúp tuyến giữa lấy lại sự điềm tĩnh vô cùng cần thiết. Rốt cuộc, sự thay đổi đã mang lại kết quả như ý khi Atlético có bàn gỡ hòa nhờ công của Griezmann và giành quyền vào chơi trận chung kết Champions League.[57][58]

Simeone cũng nhận được vô số lời khen ngợi trong việc truyền sự tự tin và tính kỷ luật cho các học trò, giúp đội bóng của ông lách qua khe cửa hẹp trong những hoàn cảnh bất lợi. Một minh chứng tiêu biểu là ở vòng đấu cuối cùng của La Liga 2014 chạm trán Barcelona tại Camp Nou, nơi Atlético chỉ cần một kết quả hòa để lên ngôi vô địch, cả Diego Costa lẫn Arda Turan đều phải rời sân sớm do chấn thương ngay trong hiệp một, và Barcelona đã có bàn mở tỷ số. Tuy nhiên, Simeone đã xốc lại tinh thần toàn đội trong giờ nghỉ, và cú đánh đầu của Godín ở hiệp hai đã mang về tỷ số hòa quý giá cho họ. Simeone kể lại: "Trong giờ nghỉ, tôi bảo họ hãy cứ thoải mái đi. Hiệp một chúng ta đã chơi tốt. Tôi biết nếu chúng ta ghi bàn, họ sẽ phải trả giá. Và điều đó đã xảy ra. Đó là một nỗ lực tập thể phi thường của tất cả mọi người."[59]

Trong trận bán kết lượt đi UEFA Europa League 2017–18 gặp Arsenal trên sân Emirates, Atlético đã phải thi đấu mà không có sự phục vụ của các trụ cột như Diego Costa, Juanfran, Filipe LuísVitolo. Thêm vào đó, ngay ở phút thứ 10, Šime Vrsaljko đã phải nhận thẻ đỏ rời sân, kéo theo việc chính Simeone cũng bị truất quyền chỉ đạo. Dù phải chơi với 10 người trên sân, không có huấn luyện viên trên băng ghế huấn luyện, hầu hết các cầu thủ phải chắp vá đá trái sở trường và chỉ đạt tỷ lệ cầm bóng 24%, toàn đội vẫn không hề đánh mất cự ly đội hình hay sự điềm tĩnh. Họ chiến đấu kiên cường để giành lấy kết quả hòa 1–1, vừa đủ tạo lợi thế để tiến vào trận chung kết.[60] "Simeone đã dạy chúng tôi cách tận hưởng sự đau khổ," Arda Turan chia sẻ vào năm 2015, minh chứng cho việc vị chiến lược gia người Argentina luôn biết cách chắt lọc những điều tốt đẹp nhất từ những nghịch cảnh tồi tệ.[50] Diego Godín cũng từng nói về người thầy của mình: "Các cầu thủ sẵn sàng sống chết vì ông ấy [Simeone]. Ông ấy mang lại niềm tin rằng chúng tôi có thể cạnh tranh sòng phẳng với những đội bóng lớn hơn rất nhiều. Chúng tôi đặt trọn niềm tin vào ông ấy, chúng tôi sẽ sát cánh cùng ông ấy đến cùng và ông ấy cũng vậy – điều đó được thể hiện rõ trên sân cỏ. Tôi tin rằng toàn đội đều tín nhiệm huấn luyện viên và tất cả chúng tôi đều biết con đường mình phải đi: ông ấy vạch ra lối đi, và chúng tôi sẽ theo ông ấy tới cùng. Đó là cách để bạn gặt hái thành công."[61][62]

Trong mùa giải 2020–21, giữa bối cảnh đại dịch COVID-19 và cơn bão chấn thương quét qua hàng công, Simeone đã mạnh dạn thử nghiệm các sơ đồ với ba hậu vệ như 5–3–2 và 3–5–2.[63] Sự thay đổi này giúp họ thích nghi với một phong cách mới, kiểm soát bóng nhiều hơn. Đây là lần đầu tiên kể từ mùa giải vô địch 2013–14, tỷ lệ kiểm soát bóng trung bình của họ trong cả mùa giải đạt mức áp đảo đối thủ.[64]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Nguồn:[65]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải quốc nội Cúp quốc gia[lower-alpha 2] Châu lục Khác Tổng cộng
Hạng đấu Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Vélez Sársfield 1987–88 Primera División 28 4 28 4
1988–89 16 2 16 2
1989–90 32 8 32 8
Tổng cộng 76 14 76 14
Pisa 1990–91 Serie A 32 4 1 0 33 4
1991–92 Serie B 24 2 4 0 28 2
Tổng cộng 56 6 5 0 61 6
Sevilla 1992–93 La Liga 33 4 2 0 35 4
1993–94 31 8 7 4 38 12
Tổng cộng 64 12 9 4 73 16
Atlético Madrid 1994–95 La Liga 29 6 8 2 37 8
1995–96 37 12 8 0 45 12
1996–97 32 3 3 0 7[lower-alpha 3] 4 2[lower-alpha 4] 0 44 7
Tổng cộng 98 21 19 2 7 4 2 0 126 27
Inter Milan 1997–98 Serie A 30 6 2 0 9[lower-alpha 5] 1 41 7
1998–99 27 5 7 0 9[lower-alpha 3] 2 43 7
Tổng cộng 57 11 9 0 18 3 84 14
Lazio 1999–2000 Serie A 28 5 7 2 11[lower-alpha 3] 0 1[lower-alpha 6] 0 47 7
2000–01 30 2 2 0 8[lower-alpha 3] 1 1[lower-alpha 7] 0 41 3
2001–02 8 1 0 0 5[lower-alpha 3] 0 13 1
2002–03 24 7 4 0 7[lower-alpha 5] 0 35 7
Tổng cộng 90 15 13 2 31 1 2 0 136 18
Atlético Madrid 2003–04 La Liga 28 2 4 0 32 2
2004–05 8 0 1 0 6[lower-alpha 8] 1 15 1
Tổng cộng 36 2 5 0 6 1 47 3
Racing Club 2004–05 Primera División 18 2 18 2
2005–06 20 1 20 1
Tổng cộng 38 3 38 3
Tổng cộng sự nghiệp 515 84 60 8 62 9 4 0 641 101
  1. ^ Người giữ kỷ lục tại vị lâu nhất là Frank Schmidt, bắt đầu dẫn dắt Heidenheim từ năm 2007.
  2. ^ Bao gồm Coppa Italia, Copa del Rey
  3. ^ a ă â b c Ra sân tại UEFA Champions League
  4. ^ Ra sân tại Siêu cúp Tây Ban Nha
  5. ^ a ă Ra sân tại UEFA Cup
  6. ^ Ra sân tại Siêu cúp châu Âu
  7. ^ Ra sân tại Siêu cúp bóng đá Ý
  8. ^ Ra sân tại UEFA Intertoto Cup

Quốc tế

Nguồn:[66]

Argentina
Năm Trận Bàn
1988 2 1
1989 3 0
1990 1 0
1991 9 2
1992 3 1
1993 13 1
1994 10 0
1995 8 2
1996 6 2
1997 9 1
1998 12 0
1999 11 1
2000 11 0
2001 6 0
2002 2 0
Tổng cộng 106 11

Thống kê sự nghiệp huấn luyện

Tính đến ngày 5 tháng 5 năm 2026
Hồ sơ huấn luyện theo đội bóng và thời gian tại vị
Đội bóng Từ Đến Kết quả Ref.
T Th H B % Thắng
Racing Club 18 tháng 2 năm 2006 4 tháng 5 năm 2006 &000000000000001400000014 &00000000000000050000005 &00000000000000030000003 &00000000000000060000006 0&000000000000003571000035,71
Estudiantes 18 tháng 5 năm 2006 3 tháng 12 năm 2007 &000000000000006100000061 &000000000000003400000034 &000000000000001500000015 &000000000000001200000012 0&000000000000005574000055,74
River Plate 15 tháng 12 năm 2007 7 tháng 11 năm 2008 &000000000000004500000045 &000000000000002000000020 &000000000000001300000013 &000000000000001200000012 0&000000000000004443999944,44
San Lorenzo 15 tháng 4 năm 2009 3 tháng 4 năm 2010 &000000000000004700000047 &000000000000002100000021 &00000000000000090000009 &000000000000001700000017 0&000000000000004467999944,68
Catania 19 tháng 1 năm 2011 1 tháng 6 năm 2011 &000000000000001800000018 &00000000000000070000007 &00000000000000030000003 &00000000000000080000008 0&000000000000003889000038,89 [67]
Racing Club 21 tháng 6 năm 2011 23 tháng 12 năm 2011 &000000000000002000000020 &00000000000000080000008 &000000000000001000000010 &00000000000000020000002 0&000000000000004000000040,00
Atlético Madrid 23 tháng 12 năm 2011 Nay &0000000000000796000000796 &0000000000000468000000468 &0000000000000172000000172 &0000000000000156000000156 0&000000000000005878999958,79
Tổng cộng sự nghiệp &00000000000010010000001.001 &0000000000000563000000563 &0000000000000225000000225 &0000000000000213000000213 0&000000000000005624000056,24

Danh hiệu

Cầu thủ

Câu lạc bộ

Atlético Madrid
Internazionale Milan
Lazio

Quốc tế

Huấn luyện viên

Câu lạc bộ

Estudiantes
  • Primera División Argentina (Apertura): 2006
River Plate
  • Primera División Argentina (Clausura): 2008
Atlético Madrid

Cá nhân

  • Huấn luyện viên La Liga của năm: 2013, 2014
  • Cúp Miguel Muñoz: 2014

Chú thích

  1. ^ Luciano Canepari. "Diego". DiPI Online (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2018.
  2. ^ Canepari, Luciano. "Simeone". DiPI Online (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2018.
  3. ^ "Diario Deportivo Olé – El más odiado, el más bancado". Ole.com.ar. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2003. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014.
  4. ^ "Argentina v Bolivia, 02 February 1992". 11v11.com. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  5. ^ a ă â "RSSSF Argentine international players". RSSSF.
  6. ^ a ă â b c d đ "The other Diego". BBC Sport. ngày 9 tháng 4 năm 2002. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2024.
  7. ^ "Diego Simeone Claims Lionel Messi Is World's Best". beIN SPORTS. ngày 20 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2024.
  8. ^ Steinberg, Jacob (ngày 15 tháng 4 năm 2020). "Netherlands 2-1 Argentina: World Cup 1998 quarter-final – as it happened". the Guardian. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2024.
  9. ^ Tabeira, Martín (ngày 20 tháng 6 năm 2013). "Copa América 1995". RSSSF. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2024.
  10. ^ Tabeira, Martín (ngày 31 tháng 5 năm 2012). "Copa América 1999". RSSSF. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2024.
  11. ^ "Argentina - Saudi Arabia (3:1)". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2024.
  12. ^ Bobrowsky, Josef (ngày 9 tháng 6 năm 2022). "Artemio Franchi Trophy 1993". www.rsssf.org. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2024.
  13. ^ McCracken, Craig (ngày 26 tháng 6 năm 2018). "The best ever World Cup match? Romania 3-2 Argentina at USA 94". The Guardian. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2024.
  14. ^ Carlin, John (ngày 19 tháng 5 năm 2002). "England v Argentina – A history". Observer Sport Monthly. London. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2006.
  15. ^ "CNN/SI – World Cup France '98 – The Netherlands pay back controversial loss to Argentina – Saturday July 04, 1998 03:33 pm". Sportsillustrated.cnn.com. ngày 4 tháng 7 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2002.
  16. ^ "CNN/SI – World Cup France '98 – Bergkamp scores in 90th minute to lead the Netherlands to victory – Wednesday September 16, 1998 05:34 pm". Sportsillustrated.cnn.com. ngày 16 tháng 9 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2013.
  17. ^ Powell, Camille (ngày 24 tháng 2 năm 2024). "Argentina Exits World Cup". The Washington Post. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  18. ^ "England's revenge". BBC Sport. ngày 7 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2014.
  19. ^ a ă â Cox, Michael (ngày 10 tháng 3 năm 2014). "Unlike Simeone's Atletico, Seedorf's AC Milan still searching for identity". ESPN FC. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  20. ^ "Lazio:| Simeone 'Io in panchina? Prima o poi...'" (bằng tiếng Ý). Calcio Mercato. ngày 25 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  21. ^ Marco Fallisi (ngày 4 tháng 5 năm 2016). "Simeone, alle origini del Cholo: da Pisa a Catania, dall'Inter alla Lazio leader nato" (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
  22. ^ Parrone, Francesco (ngày 28 tháng 5 năm 2016). "Bergomi: "Lippi cacciò Simeone, nessuno capì. Per tornare nell'Inter di ora serve coraggio"". FC Inter 1908 (bằng tiếng Ý). F.C. Inter 1908. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  23. ^ "Come giocava la Lazio dello scudetto" (bằng tiếng Ý). L'Ultimo Uomo. ngày 11 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2024.
  24. ^ Askew, Joshua (ngày 23 tháng 11 năm 2018). "Goal Analysis: Michael Owen – England 2-2 Argentina 30/6/1998". Holding Midfield. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2024.
  25. ^ a ă "Diego Simeone juntaba garra, carácter y una gran técnica" (bằng tiếng Tây Ban Nha). AS.com. ngày 1 tháng 8 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2014.
  26. ^ Zangari, Mattia (ngày 17 tháng 3 năm 2015). "Simeone e le fonti di ispirazione:"Da giovane ammiravo Falcão, poi ho cominciato ad apprezzare Matthäus"" (bằng tiếng Ý). F.C. Inter News. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2016.
  27. ^ "Diego Simeone: Atletico Madrid manager signs two-year contract extension". BBC Sport. ngày 5 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  28. ^ Martin, Richard; Osmond, Ed. "Atletico clinch second spot, Bale leads Real rout". Reuters (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  29. ^ Malagón, Manuel (ngày 16 tháng 5 năm 2018). "Simeone gana su sexto título como técnico del Atlético". Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). Unidad Editorial Información Deportiva, S.L.U. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2018.
  30. ^ "Simeone banned from Europa final touchline". ESPN. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  31. ^ Marsden, Rory. "Thomas Lemar Transfer Agreement with Atletico Madrid Announced by Monaco". Bleacher Report.
  32. ^ Richards, Alex (ngày 4 tháng 7 năm 2019). "Spain midfielder Rodri completes £62.8million transfer to Manchester City". The Mirror.
  33. ^ "Alvaro Morata joins Atletico Madrid from Chelsea on loan". Sky Sports. ngày 28 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  34. ^ "Atletico captain Gabi agrees to join Qatar's Al Sadd". SBS. ngày 4 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  35. ^ Suárez, Isaac (ngày 12 tháng 12 năm 2019). "Simeone's Long Lasting Atlético Madrid". Marca. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  36. ^ McNulty, Phil (ngày 11 tháng 3 năm 2020). "Liverpool 2–3 Atletico Madrid (2–4 agg): Holders out of Champions League". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  37. ^ "Simeone becomes Atleti coach with most top-flight wins". Atlético de Madrid. ngày 27 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  38. ^ "Simeone becomes third coach with most games at single club in Spain top-flight". Atlético de Madrid. ngày 7 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  39. ^ "Simeone reaches 200 LaLiga wins". Atlético de Madrid. ngày 17 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  40. ^ "Simeone reaches milestone with 500th game in charge of Atletico Madrid". Goal.com. ngày 30 tháng 12 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
  41. ^ "Simeone Surpasses Aragones' Win Record as Atletico Madrid Boss". beIN Sports. ngày 3 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  42. ^ Leveridge, Sam (ngày 24 tháng 11 năm 2020). "La Liga 2020/21: Atletico Madrid vs Barcelona - tactical analysis". Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  43. ^ Lowe, Sid (ngày 22 tháng 5 năm 2021). "Atlético Madrid clinch La Liga title after Luis Suárez seals win at Real Valladolid". The Guardian. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  44. ^ "Simeone signs contract extension until 2024". Atlético Madrid. ngày 8 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2021.
  45. ^ "Club Atlético de Madrid - Simeone renews until 2027". Club Atlético de Madrid. ngày 9 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2023.
  46. ^ "Diego Pablo Simeone celebrates 100 Champions League appearances". Atlético Madrid. ngày 28 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  47. ^ "Simeone Celebrates His 700th Match with Atlético Madrid with an Epic Comeback". beIN SPORTS. ngày 23 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  48. ^ "Simeone reaches 1,000 matches as a manager". Atlético Madrid. ngày 3 tháng 5 năm 2026.
  49. ^ "Investigating the origins of Diego Simeone's Cholismo". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2018.
  50. ^ a ă â Malyon, Ed (ngày 27 tháng 5 năm 2016). "How finishing bottom of the Argentine league helped make Diego Simeone the manager he is today". The Mirror. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  51. ^ "Atletico Madrid 4–0 Real Madrid: Atletico solid in central areas when defending and fluid to cause overloads out wide when attacking". www.zonalmarking.net. ngày 10 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2021.
  52. ^ a ă â "Atletico Madrid Defending Analysis - YouTube". www.youtube.com. ngày 18 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  53. ^ "Filipe Luis: Leicester are like Atletico | Goal.com". www.goal.com. ngày 27 tháng 4 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2018.
  54. ^ Aarons, Ed (ngày 7 tháng 4 năm 2017). "Atlético Madrid's title win was just like Leicester's, says president". The Guardian. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  55. ^ a ă Lea, Greg (ngày 20 tháng 2 năm 2019). "The five months in Italy that shaped Diego Simeone's managerial career". The Guardian. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  56. ^ "Barcelona 1–1 Atletico: Simeone's side seal historic title victory at the Camp Nou". ngày 9 tháng 5 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2018.
  57. ^ "Bayern München vs Atletico Madrid Champions League 2015/2016". Football-Lineups.
  58. ^ "Atletico Madrid 2–2 Bayern Munich (agg): Atletico progress on away goals". www.zonalmarking.net. ngày 5 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2021.
  59. ^ Willoughby, James (ngày 17 tháng 5 năm 2014). "Diego Simeone says sure Aragones was defending with Atletico Madrid in spirit after claiming La Liga title | Goal.com". www.goal.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2018.
  60. ^ "Arsenal vs Atletico Madrid Europa League 2017/2018". Football-Lineups.
  61. ^ Boullosa, Adrian (ngày 9 tháng 11 năm 2016). "Godin: We're with Simeone until the death | Goal.com". www.goal.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2018.
  62. ^ "Simeone : Godín players die Simeone belief compete bigger teams". Scoopnest.
  63. ^ Keble, Alex (ngày 10 tháng 12 năm 2020). "How miracle worker Simeone driving Atletico Madrid above Barcelona, Real Madrid - Tribal Football". www.tribalfootball.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.
  64. ^ Askew, Joshua (ngày 13 tháng 5 năm 2021). "Diego Simeone's new look Atlético Madrid". holdingmidfield.com. Holding Midfield. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2021.
  65. ^ Bản mẫu:NFT
  66. ^ "Diego Pablo Simeone – Century of International Appearances". Rsssf.com. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026.
  67. ^ "Simeone: Diego Pablo Simeone González: Matches 2010–11". BDFutbol. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2019.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Lịch sử huấn luyện viên bóng đá