Bước tới nội dung

Kinkō, Kagoshima

31°14′36″B 130°47′16″Đ / 31,24333°B 130,78778°Đ / 31.24333; 130.78778
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Kinkō
錦江町
—  Thị trấn  —
Tập tin:Kinko Town Office 2009.jpg
Tòa thị chính Kinkō

Hiệu kỳ

Ấn chương

Vị trí của Kinkō tại Kagoshima
Lỗi Lua trong Mô_đun:Location_map tại dòng 461: Giá trị "<strong class="error"><span class="scribunto-error mw-scribunto-error-8830ed40">Lỗi Lua trong Mô_đun:Thông_tin_khu_dân_cư tại dòng 426: attempt to index field &#039;wikibase&#039; (a nil value).</span></strong>" không phải là kinh độ hợp lệ.Vị trí tại Nhật Bản
Quốc giaNhật Bản
VùngKyushu
TỉnhKagoshima
HuyệnKimotsuki
Chính quyền
 • Thị trưởngNitta Toshirō
Diện tích
 • Tổng cộng163,19 km2 (6,301 mi2)
Dân số (1 tháng 5 năm 2024)
 • Tổng cộng6.276
 • Mật độ0,38/km2 (1,00/mi2)
Địa chỉ963 Shiromoto, Kinkō-chō, Kimozuki-gun, Kagoshima-ken 893-2302
Khí hậuCfa
WebsiteWebsite chính thức
Biểu trưng
HoaWisteria floribunda
CâyCamphora officinarum

Kinkō (錦江町 (Cẩm Giang đinh) Kinkō-chō?) là một thị trấn thuộc huyện Kimotsuki, tỉnh Kagoshima, Nhật Bản. Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2024, thị trấn có dân số ước tính là 6.276 trong 3490 hộ, với mật độ dân số 38 người trên mỗi km2.[1] Tổng diện tích của thị trấn là 163,19 km2 (63,01 dặm vuông Anh).

Lịch sử

Khu vực Kinkō từng là một phần của tỉnh Ōsumi cổ đại. Di tích từ thời JomonYayoi đã được tìm thấy trong ranh giới thị trấn. Vào thời Heian, nơi đây là địa điểm của một điền trang shōen rộng lớn do gia tộc Neshin cai trị cho đến thời Chiến Quốc. Vào thời Edo, khu vực này là một phần của phiên Satsuma. Các làng ŌnejimeTashiro được thành lập vào ngày 1 tháng 5 năm 1889, cùng với sự ra đời của hệ thống đô thị hiện đại. Ōnejime được nâng lên thành thị trấn vào tháng 8 năm 1933, tiếp theo là Tashiro vào tháng 4 năm 1961. Hai đô thị này sáp nhập vào ngày 22 tháng 3 năm 2005 để hình thành thị trấn Kinkō.

Địa lý

Kinkō nằm trên bờ biển phía tây của bán đảo Ōsumi, đối diện với vịnh Kinkō (vịnh Kagoshima) và bán đảo Satsuma ở phía tây. Phần lớn diện tích thị trấn được bao phủ bởi dãy núi Kinomi (dãy núi Kunimi). Khu vực ven biển ở phía tây (trước đây là trung tâm thị trấn Ōnejime) được ngăn cách với các khu vực khác bởi vách đá hình thành từ miệng núi lửa Ata, và cao nguyên Ōnejime trải dài về phía đông. Trên biên giới với thị trấn Minamiōsumi, có một vành đai rừng thường xanh, và núi Inao-dake được công nhận là Di tích Tự nhiên Quốc gia.

Các đơn vị cấp hạt giáp ranh

Khí hậu

Kinkō có khí hậu cận nhiệt đới ẩm (phân loại khí hậu Köppen Cfa) với mùa hè nóng và mùa đông ôn hòa. Lượng mưa đáng kể trong suốt cả năm, và nhiều hơn vào mùa hè, đặc biệt là các tháng 6 và 7. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Kinkō là 16,4 °C (61,5 °F). Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.880,2 mm (113,39 in) với tháng 6 là tháng ẩm ướt nhất. Nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 8, khoảng 26,1 °C (79,0 °F), và thấp nhất vào tháng 1, khoảng 6,6 °C (43,9 °F).[2] Nhiệt độ cao kỷ lục là 35,7 °C (96,3 °F), đạt được vào ngày 18 tháng 8 năm 2020, và nhiệt độ thấp kỷ lục là −10,4 °C (13,3 °F), đạt được vào ngày 25 tháng 1 năm 2016.[3]

Nhân khẩu

Theo số liệu thống kê dân số Nhật Bản, dân số của Kinkō năm 2020 là 6.944 người. Kinkō bắt đầu thống kê dân số vào năm 1920, và dân số của thị trấn đạt đỉnh điểm vào những năm 1950 với hơn 22.000 người; dân số đã tiếp tục giảm kể từ đó. Sau những năm 2010, dân số của Kinkō đã giảm xuống dưới 10.000 người.

Lịch sử dân số
NămSố dân±%
192015.245—    
192515.126−0.8%
193016.080+6.3%
193516.942+5.4%
194017.351+2.4%
194520.760+19.6%
195021.980+5.9%
195522.552+2.6%
196021.967−2.6%
196519.726−10.2%
197016.736−15.2%
NămSố dân±%
197514.959−10.6%
198013.829−7.6%
198513.043−5.7%
199012.239−6.2%
199511.608−5.2%
200010.889−6.2%
200510.015−8.0%
20108.979−10.3%
20157.923−11.8%
20206.944−12.4%
Số liệu dân số Kinkō[4]

Chính quyền

Kinkō có hình thức chính quyền thị trưởng-hội đồng với thị trưởng được bầu trực tiếp và hội đồng thị trấn đơn viện gồm 13 thành viên. Kinkō, cùng với các đô thị khác của huyện Kimotsuki, đóng góp một đại diện vào Hội đồng tỉnh Kagoshima. Về chính trị quốc gia, thị trấn này thuộc khu vực bầu cử số 4 Kagoshima của Chúng Nghị viện Quốc hội Nhật Bản.

Kinh tế

Nền kinh tế của Kinkō chủ yếu dựa vào nông nghiệp và đánh bắt cá thương mại.

Giao thông

Đường sắt

Đảo Kinkō không có dịch vụ đường sắt chở khách. Ga lớn gần nhất là ga Kagoshima-Chūō trên tuyến đường sắt cao tốc Kyūshū Shinkansen.

Đường cao tốc

Giáo dục

Kinkō có sáu trường tiểu học công lập và hai trường trung học cơ sở công lập do chính quyền thị trấn điều hành. Thị trấn không có trường trung học phổ thông.

Tham khảo

  1. ^ "Kinkō Town official statistics" (bằng tiếng Nhật). Japan.[liên kết hỏng]
  2. ^ a b 気象庁 / 平年値(年・月ごとの値). JMA. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
  3. ^ a b 観測史上1~10位の値(年間を通じての値). JMA. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
  4. ^ Kinkō population statistics

Liên kết ngoài

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).