Hans Carl Ludwig Augustinsson (phát âm tiếng Thụy Điển: [ˈlɵd.vɪɡ ˌɑw.ɡɵsˈtɪnˌsɔn]; sinh ngày 21 tháng 4 năm 1994) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Thụy Điển thi đấu ở vị trí hậu vệ biên trái cho câu lạc bộ Pro League Anderlechtđội tuyển quốc gia Thụy Điển.

Ludwig Augustinsson
Tập tin:UEFA EURO qualifiers Sweden vs Romaina 20190323 Ludwig Augustinsson 2 (cropped).jpg
Augustinsson với Thụy Điển năm 2019
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Hans Carl Ludwig Augustinsson[1]
Ngày sinh 21 tháng 4, 1994 (32 tuổi)
Nơi sinh Stockholm, Thụy Điển
Chiều cao 1,81 m[2]
Vị trí Hậu vệ biên trái
Thông tin đội
Đội hiện nay
Anderlecht
Số áo 6
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
1999–2011 IF Brommapojkarna
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2011–2012 IF Brommapojkarna 30 (2)
2013–2014 IFK Göteborg 29 (1)
2015–2017 Copenhagen 78 (3)
2017–2021 Werder Bremen 98 (2)
2021–2024 Sevilla 19 (0)
2022–2023Aston Villa (mượn) 3 (0)
2023Mallorca (mượn) 4 (0)
2023–2024Anderlecht (mượn) 31 (0)
2024– Anderlecht 42 (1)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2009–2011 U-17 Thụy Điển 12 (0)
2011–2013 U-19 Thụy Điển 9 (0)
2012–2015 U-21 Thụy Điển 19 (0)
2015– Thụy Điển 56 (2)
Thành tích huy chương
Bóng đá nam
 Thụy Điển {{{3}}}
Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu
Vô địch 2015
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 20:30, 22 tháng 3 năm 2026 (UTC)
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 20:23, 5 tháng 9 năm 2024 (UTC)

Là sản phẩm của học viện Brommapojkarna, anh thi đấu hai mùa giải ở đội một của câu lạc bộ trước khi chuyển đến IFK Göteborg vào năm 2013. Sau năm đầu tiên bị ảnh hưởng bởi chấn thương, anh phải chờ đến mùa giải 2014 mới có bước đột phá, khi được vinh danh là hậu vệ biên trái hay nhất mùa giải. Tháng 1 năm 2015, anh chuyển đến Copenhagen với mức phí được ước tính là kỷ lục, 1,4 triệu euro. Anh từng hai lần vô địch quốc gia cùng Copenhagen ở mùa giải 2015–16mùa giải 2016–17, đồng thời ba lần về nhì cùng các đội bóng của mình: tại Superettan 2012, Allsvenskan 2014Giải bóng đá vô địch quốc gia Đan Mạch. Anh giành một danh hiệu cúp quốc nội cùng IFK Göteborg ở 2012–13 và ba danh hiệu cúp quốc nội liên tiếp cùng Copenhagen vào các mùa 2014–15, 2015–162016–17. Anh gia nhập đội bóng Bundesliga Werder Bremen vào mùa hè năm 2017, thi đấu bốn mùa giải cho câu lạc bộ Đức trước khi chuyển đến câu lạc bộ La Liga Sevilla.

Augustinsson là thành viên của đội tuyển U-21 Thụy Điển giành quyền tham dự và sau đó vô địch Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu năm 2015, thi đấu cả năm trận tại vòng chung kết và ghi bàn trong loạt sút luân lưu trước Bồ Đào Nha ở trận chung kết năm 2015. Anh có lần đầu ra sân cho đội tuyển quốc gia vào tháng 1 năm 2015 và là thành viên đội hình Thụy Điển tham dự Euro 2016, Giải vô địch bóng đá thế giới 2018Euro 2020.

Sự nghiệp câu lạc bộ

IF Brommapojkarna

Augustinsson bắt đầu sự nghiệp bóng đá khi mới sáu tuổi tại đội bóng Stockholm IF Brommapojkarna.[3] Anh nổi bật trong suốt những năm thi đấu trẻ, từng làm đội trưởng đội U-17 của câu lạc bộ và thử việc tại các câu lạc bộ như Borussia MönchengladbachSampdoria.[4] Sau khi thăng tiến qua các cấp độ trẻ, anh giành được một vị trí ở đội một khi mới 16 tuổi vào năm 2011[5] và có trận ra mắt tại Superettan cuối năm đó.[6] Với bốn lần ra sân trong mùa giải đầu tiên, bao gồm trận ra mắt cấp độ đội một tại cúp quốc nội,[7] anh gần như thi đấu mọi trận trong năm tiếp theo, kết thúc mùa giải với hai bàn thắng và bốn pha kiến tạo.[8] Sau hai mùa giải ở đội một và 30 trận tại giải vô địch quốc gia cho Brommapojkarna, Augustinsson chuyển đến IFK Göteborg vào tháng 1 năm 2013, từ chối đề nghị từ một số câu lạc bộ chuyên nghiệp khác.[9][10]

IFK Göteborg

Tập tin:Ludwig Augustinsson (2014, cropped).jpg
Ludwig Augustinsson thi đấu cho IFK Göteborg

Việc chuyển đến đội bóng mạnh IFK Göteborg diễn ra thuận lợi và Augustinsson thi đấu phần lớn các trận trong giai đoạn tiền mùa giải. Khi Cúp bóng đá Thụy Điển bắt đầu vào tháng 3, anh là lựa chọn số một ở vị trí hậu vệ biên trái và thi đấu hai trận tại vòng bảng. IFK Göteborg sau đó giành cúp sau khi đánh bại Djurgården trong trận chung kết. Chỉ vài tuần trước khi Allsvenskan khởi tranh, anh dính chấn thương đầu gối khi thi đấu cho đội U-21 Thụy Điển, khiến anh phải nghỉ thi đấu năm tháng.[11] Trong trận ra mắt Allsvenskan vào ngày 25 tháng 8 năm 2013 trên sân Malmö FF, anh lại gặp chấn thương khác, đồng nghĩa với việc phải nghỉ hết phần còn lại của mùa giải.[12]

Augustinsson trở lại sau chấn thương thứ hai kịp thời cho trận đấu chính thức đầu tiên của năm 2014, gặp Värnamo tại Cúp bóng đá Thụy Điển vào đầu tháng 3.[13] Anh ghi bàn thắng đầu tiên tại Allsvenskan vào ngày 24 tháng 9 ở mùa giải 2014, khi IFK Göteborg thắng 4–3 trên sân Örebro SK.[14] Anh thi đấu 28 trận tại giải trong mùa giải đó mà không bị thay ra, đồng thời kiến tạo ba bàn.[8] Sau đó, anh có tên trong Đội hình tiêu biểu năm 2014 của Allsvenskan do các cổ động viên trên trang web SvenskaFans.com bình chọn.[15]

Copenhagen

Augustinsson chuyển đến F.C. Copenhagen vào ngày 5 tháng 1 năm 2015 sau khi ký hợp đồng 4 năm rưỡi vào ngày 6 tháng 6 năm 2014.[16] Thỏa thuận được thực hiện để anh trở thành người thay thế Pierre Bengtsson ở vị trí hậu vệ biên trái khi hợp đồng của Bengtsson với Copenhagen kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm 2014. Phí chuyển nhượng được ước tính là 13 triệu SEK (khoảng 1,4 triệu euro), khiến anh trở thành hậu vệ cánh đắt giá nhất từng được mua từ Thụy Điển.[17]

Mùa giải 2014–15

Sau khi thi đấu mọi trận giao hữu trong kỳ nghỉ đông cho Copenhagen, Augustinsson có trận ra mắt Superliga trước Vestsjælland khi mùa giải trở lại vào tháng 2. Anh kiến tạo bàn mở tỉ số và sau đó tự mình ghi bàn, đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng 2–0 của đội. Ekstra Bladet mô tả đó là "màn ra mắt trong mơ", còn huấn luyện viên Ståle Solbakken nói đây là màn ra mắt hay nhất kể từ màn ra mắt của chính ông cho Copenhagen trước kình địch Brøndby vào năm 2000.[18]

Anh thi đấu 15 trận tại giải trong giai đoạn mùa xuân, giúp đội kết thúc ở vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng. Anh được ghi nhận với sáu pha kiến tạo, đứng thứ ba trong bảng xếp hạng kiến tạo và trở thành hậu vệ có nhiều kiến tạo nhất mùa giải 2014–15, dù chỉ thi đấu chưa đến một nửa số trận.[19] Về phòng ngự, Copenhagen chỉ để thủng lưới trong sáu trận, và nhiều chuyên gia cho rằng anh là một trong những cầu thủ hay nhất giai đoạn mùa xuân.[cần dẫn nguồn]

Augustinsson cũng thường xuyên thi đấu tại Cúp bóng đá Đan Mạch trong suốt mùa xuân và ghi bàn thắng quyết định 1–0 từ một quả đá phạt trước Esbjerg ở trận bán kết lượt về.[20] Copenhagen sau đó thắng trận chung kết vào tháng 5 trước Vestsjælland, với anh có một pha kiến tạo trong chiến thắng 3–2 của đội.[21] Chức vô địch cúp này là danh hiệu thứ hai trong sự nghiệp của anh và là danh hiệu đầu tiên của anh cho câu lạc bộ.

Mùa giải 2015–16

Mùa giải 2015–16 là mùa giải thành công nhất trong sự nghiệp của Augustinsson, khi anh giành chức vô địch quốc nội đầu tiên và danh hiệu cúp quốc nội thứ ba. Dù được đồn đoán chuyển đến các đội bóng lớn như Liverpool[22] sau chức vô địch Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu, Augustinsson ở lại Đan Mạch và thi đấu mùa giải trọn vẹn đầu tiên cho Copenhagen.

Tại giải vô địch quốc gia, Augustinsson thi đấu trọn vẹn từng phút trong 30 trận đầu tiên, trước khi được nghỉ ở hai trận sân khách cuối cùng sau khi danh hiệu đã được bảo đảm vào giữa tháng 5.[23] Anh kiến tạo chín bàn trong suốt chiến dịch, đồng dẫn đầu cùng Nicolaj ThomsenRasmus Falk.[24] Ekstra Bladet xếp anh là một trong năm cầu thủ hay nhất của Copenhagen, chấm 5 trên 6 sao cho màn trình diễn của anh, đồng thời nhấn mạnh sự tiến bộ so với giai đoạn mùa xuân của mùa giải trước.[25]

Mùa giải 2016–17

Trong trận derby Copenhagen trên sân Brøndby vào ngày 17 tháng 4 năm 2017, Augustinsson bị cổ động viên chủ nhà ném những con chuột chết về phía anh khi anh chuẩn bị thực hiện một quả phạt góc. Trận đấu bị tạm dừng và các cầu thủ Copenhagen cố gắng đá những con chuột ra khỏi sân trước khi lực lượng an ninh đến thu gom chúng.[26]

Werder Bremen

Ngày 30 tháng 1 năm 2017, Werder Bremen thông báo chiêu mộ Augustinsson cho Bundesliga mùa giải 2017–18 sắp tới.[27] Tháng 8 năm 2018, sau khi trở lại từ kỳ nghỉ sau Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, anh đồng ý gia hạn hợp đồng với Werder Bremen.[28]

Ngày 6 tháng 7 năm 2020, Werder Bremen gặp 1. FC Heidenheim ở trận lượt về play-off trụ hạng Bundesliga, sau khi hòa 0–0 ở lượt đi. Phút 90+4, Augustinsson ghi bàn giúp Werder Bremen dẫn 2–1. Trận đấu kết thúc với tỉ số 2–2, và Bremen trụ lại Bundesliga nhờ luật bàn thắng sân khách.[29]

Sevilla

Augustinsson chuyển đến câu lạc bộ La Liga Sevilla vào tháng 8 năm 2021.[30]

Cho Aston Villa mượn

Ngày 11 tháng 7 năm 2022, Augustinsson gia nhập câu lạc bộ Giải bóng đá Ngoại hạng Anh Aston Villa theo dạng cho mượn trong một mùa giải, trong đó câu lạc bộ Anh có tùy chọn mua đứt khi hợp đồng cho mượn kết thúc.[31][32] Augustinsson có trận ra mắt Aston Villa vào ngày 2 tháng 10 năm 2022, trong trận hòa trên sân khách tại Premier League trước Leeds United, khi đá chính do Lucas Digne chấn thương. Tuy nhiên, chính Augustinsson cũng bị chấn thương gân kheo trong hiệp một và phải rời sân.[33]

Cho Anderlecht mượn

Tập tin:Ludwig Augustinsson RSC Anderlecht 2025.jpg
Augustinsson tại ngày hội cổ động viên của RSC Anderlecht năm 2025

Augustinsson một lần nữa rời Sevilla theo dạng cho mượn vào tháng 8 năm 2023, gia nhập câu lạc bộ Belgian Pro League Anderlecht trong mùa giải 2023–24.[34]

Anderlecht

Ngày 6 tháng 8 năm 2024, Anderlecht thông báo đã ký hợp đồng chính thức với Augustinsson từ Sevilla theo bản hợp đồng ba năm.[35]

Ngày 17 tháng 8 năm 2024, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho Anderlecht trong chiến thắng 3–1 trên sân KV Mechelen.

Sự nghiệp quốc tế

Các đội tuyển trẻ

Augustinsson đại diện cho U-17 Thụy ĐiểnU-19 Thụy Điển tổng cộng 21 lần từ năm 2009 đến năm 2013.[36] Anh có 19 lần khoác áo U-21 Thụy Điển kể từ năm 2012 và vẫn còn đủ điều kiện thi đấu cho đội. Thành công lớn nhất của anh đến ở đội U-21, khi đội giành quyền tham dự Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu và sau đó vô địch giải đấu, trong đó anh là cầu thủ chủ chốt trong đội hình của Håkan Ericson.

Năm 2016, Augustinsson không được câu lạc bộ Copenhagen cho phép tham gia đội hình U-23 Thụy Điển dự Thế vận hội 2016 vào tháng 8.[37]

Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu

Xuất sắc trong suốt giải đấu và đặc biệt ấn tượng ở trận chung kết, nơi anh khiến cầu thủ năng nổ João Mário có màn trình diễn kém hiệu quả nhất tại giải. Anh thể hiện sự tận tụy và quyết tâm — chưa kể nền tảng thể lực — bằng một pha bứt tốc cuối cùng vào vòng cấm ở phút 121 của trận đấu, rồi sút thành công quả phạt đền của mình trong loạt luân lưu.

— The Guardian nói về màn trình diễn của Ludwig Augustinsson tại giải đấu.[38]

U-21 Thụy Điển giành quyền tham dự Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu tại Cộng hòa Séc lần đầu tiên kể từ năm 2004 sau chiến dịch vòng loại thành công. Trong một trận giao hữu với U-21 Bồ Đào Nha vào đầu năm 2013, Augustinsson dính chấn thương đầu gối và sau đó phải nghỉ thi đấu trong phần còn lại của năm,[11][12] khiến anh bỏ lỡ phần lớn các trận vòng loại. Tuy nhiên, anh là lựa chọn số một của Håkan Ericson ở vị trí hậu vệ biên trái mỗi khi có thể thi đấu và góp mặt trong đội hình vào các trận đấu năm 2014.[39]

Augustinsson thi đấu mọi trận ở vòng bảng của vòng chung kết.[40][41][42] Trước trận thứ hai gặp Anh, trận đấu mà Thụy Điển để thua, đã có thông tin về sự quan tâm từ Liverpool.[22]

Tuy nhiên, U-21 Thụy Điển vẫn vượt qua vòng bảng nhờ chiến thắng trước Ý và trận hòa trước Bồ Đào Nha. Sau khi loại Đan Mạch 4–1 ở bán kết, Thụy Điển gặp lại Bồ Đào Nha trong trận chung kết. Trận đấu không có bàn thắng, đồng thời là trận giữ sạch lưới đầu tiên của Thụy Điển tại giải, nên chức vô địch phải được phân định bằng loạt sút luân lưu. Augustinsson thực hiện thành công lượt sút của mình và Thụy Điển thắng 4–3. Anh nhận được lời khen quốc tế cho màn trình diễn ở trận chung kết, được mô tả là "xuất sắc".[38] Anh cũng có tên trong "Đội hình tiêu biểu của giải" do The Guardian bình chọn.[38]

Đội tuyển quốc gia cấp cao

Augustinsson ra mắt đội tuyển quốc gia vào tháng 1 năm 2015, khi anh đá chính trong cả hai trận giao hữu gặp Bờ Biển Ngà[43]Phần Lan.[44] Sportbladet chấm anh là cầu thủ Thụy Điển hay nhất trong hai trận đấu đó.[45]

Anh nhận lần triệu tập thứ hai vào tháng 3 năm 2016, thi đấu trọn 90 phút trong thất bại 1–2 của Thụy Điển trước Thổ Nhĩ Kỳ.[46] Ngày 11 tháng 5, Erik Hamrén thông báo rằng Augustinsson sẽ góp mặt trong đội hình tham dự Euro 2016.[36]

2016–nay

Anh vẫn là cầu thủ dự bị không được sử dụng, xếp sau Martin Olsson, trong suốt vòng bảng đáng thất vọng của Thụy Điển tại Euro 2016. Sau khi Hamrén từ chức và Janne Andersson lên nắm quyền vào cuối mùa hè năm đó, Augustinsson phải đối mặt với sự cạnh tranh lớn hơn khi Oscar Wendt trở lại đội tuyển sau những bất đồng với huấn luyện viên trưởng tiền nhiệm.[47] Khi Andersson thử nghiệm hai cầu thủ kỳ cựu ở vị trí hậu vệ biên trái trong giai đoạn đầu của vòng loại World Cup,[48][49] Augustinsson mở ra khả năng trở lại đội U-21 Thụy Điển, nơi anh vẫn còn đủ điều kiện thi đấu.[50] Tuy nhiên, Andersson vẫn giữ anh trong đội hình đội tuyển quốc gia và Augustinsson vào sân trong 30 phút cuối trước Bulgaria ở trận vòng loại vào tháng 10.[51]

Tháng 5 năm 2018, anh có tên trong danh sách 23 cầu thủ Thụy Điển tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga.[52]

Phong cách thi đấu

Augustinsson thường được xem là một hậu vệ cánh hiện đại, với điểm mạnh nằm ở khả năng tấn công, kiểm soát bóng, tốc độ và cái chân trái tốt.[9][53] Anh khởi đầu ở vị trí tiền vệ trung tâm, nhưng chuyển sang hậu vệ biên trái năm 11 tuổi do sự cạnh tranh khốc liệt ở tuyến giữa.[54] Anh luôn là một chuyên gia trong các tình huống bóng chết và thường xuyên thực hiện phạt góc cũng như đá phạt.[55][56] Những hình mẫu của anh trên sân bóng là các cựu hậu vệ biên trái Gareth BaleDavid Alaba.[57]

Đời tư

Ludwig là con cả và lớn lên trong một gia đình yêu thể thao ở khu vực trung tâm Stockholm. Cha anh, Hans, từng chơi bóng tại Division 1 Thụy Điển, còn mẹ anh, Elisabeth, từng thi đấu bóng chuyền ở cấp độ quốc tế cho Thụy Điển. Em trai anh, Jonathan Augustinsson, cũng là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp thi đấu ở vị trí hậu vệ biên trái.[58][59]

Gia đình anh từng là một phần của cuộc tranh luận trên toàn quốc vào mùa hè năm 2015, xoay quanh việc ngày càng nhiều tuyển thủ Thụy Điển xuất thân từ các gia đình có học vấn tốt ở những khu vực giàu có hơn. Các ý kiến chỉ trích cho rằng những cầu thủ như Augustinsson thành công hiện nay nhờ số tiền mà gia đình đầu tư vào các buổi tập riêng.[60]

Cùng với những người bạn thân và cựu đồng đội thời còn ở Brommapojkarna là John GuidettiSimon Tibbling, Augustinsson không uống rượu.[54] Ludwig theo học các trường tiểu học Aspuddens skolaNybohovsskolan, cả hai đều có định hướng bóng đá.[61][62]

Dù chơi bóng đá suốt đời, anh từng thử sức với khúc côn cầu trên băng khi còn nhỏ và là thành viên của AIK IF.[3] Anh là cổ động viên trọn đời của Manchester United và mơ ước một ngày nào đó được thi đấu cho câu lạc bộ này.[54]

Làm mẫu ảnh

Tháng 12 năm 2015, Augustinsson xuất hiện trong chiến dịch Giáng sinh "The Next Generation" của NLY Man.[63]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Tính đến trận đấu diễn ra ngày 22 tháng 3 năm 2026[64]
Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia Cúp Liên đoàn Châu lục Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
IF Brommapojkarna 2011 Superettan 3 0 1 0 4 0
2012 Superettan 27 2 0 0 27 2
Tổng cộng 30 2 1 0 31 2
IFK Göteborg 2013 Allsvenskan 1 0 3 0 0 0 4 0
2014 Allsvenskan 28 1 5 0 5[a] 0 38 1
Tổng cộng 29 1 8 0 5 0 42 1
Copenhagen 2014–15 Giải bóng đá vô địch quốc gia Đan Mạch 15 1 4 1 19 2
2015–16 Giải bóng đá vô địch quốc gia Đan Mạch 31 1 3 0 4[a] 0 38 1
2016–17 Giải bóng đá vô địch quốc gia Đan Mạch 32 1 2 1 16[b] 0 50 2
Tổng cộng 78 3 9 2 20 0 107 5
Werder Bremen 2017–18 Bundesliga 29 1 4 0 33 1
2018–19 Bundesliga 34 1 5 0 39 1
2019–20 play-off Bundesliga 12 0 1 0 2[c] 1 15 1
2020–21 Bundesliga 23 0 5 0 28 0
Tổng cộng 98 2 15 0 2 1 115 3
Sevilla 2021–22 La Liga 19 0 3 0 5[d] 0 27 0
Aston Villa (mượn) 2022–23 Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 3 0 1 0 1 0 5 0
Mallorca (mượn) 2022–23 La Liga 4 0 4 0
Anderlecht (mượn) 2023–24 Belgian Pro League 31 0 1 0 32 0
Anderlecht 2024–25 Belgian Pro League 24 1 3 0 9[a] 2 37 3
2025–26 Belgian Pro League 18 0 4 0 4[e] 0 26 0
Tổng cộng 42 1 7 0 13 2 62 3
Tổng cộng sự nghiệp 335 9 45 2 1 0 43 2 2 1 424 14
  1. ^ a b c Lần ra sân ở UEFA Europa League
  2. ^ Twelve lần ra sân ở UEFA Champions League, bốn lần ra sân ở UEFA Europa League
  3. ^ Lần ra sân ở Bundesliga relegation
  4. ^ Ba lần ra sân ở UEFA Champions League, hai lần ra sân ở UEFA Europa League
  5. ^ Một lần ra sân ở UEFA Europa League, three appearance in UEFA Conference League

Quốc tế

Tính đến trận đấu diễn ra ngày 5 tháng 9 năm 2024[65][66]
Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Thụy Điển 2015 2 0
2016 4 0
2017 8 0
2018 10 1
2019 4 0
2020 2 0
2021 12 1
2022 8 0
2023 3 0
2024 3 0
Tổng cộng 56 2
Tỉ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Thụy Điển trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Augustinsson.
Danh sách bàn thắng quốc tế được ghi bởi Ludwig Augustinsson
Thứ tự Ngày Địa điểm Đối thủ Tỷ số Kết quả Giải đấu
1 27 tháng 6 năm 2018 Sân vận động Trung tâm, Yekaterinburg, Nga   México 1–0 3–0 Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
2 28 tháng 3 năm 2021 Sân vận động Fadil Vokrri, Pristina, Kosovo   Kosovo 1–0 3–0 Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2022

Danh hiệu

IFK Göteborg

Copenhagen

U-21 Thụy Điển

Tham khảo

  1. ^ "FIFA World Cup Russia 2018: List of Players: Sweden" (PDF). FIFA. ngày 15 tháng 7 năm 2018. tr. 29. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2019.
  2. ^ "2018 FIFA World Cup Russia – List of Players" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 4 tháng 6 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018.
  3. ^ a b "Augustinsson om det enorma fotbollsintresset" (bằng tiếng Thụy Điển). Göteborgs-Posten. ngày 9 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2014.
  4. ^ "Ludwig siktar högt" (bằng tiếng Thụy Điển). TipsElit. ngày 23 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2016.
  5. ^ "Silly Season 2011/2012" (bằng tiếng Thụy Điển). SvenskaFans.com. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2014.
  6. ^ "Ludwig Augustinsson". Soccerway. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2014.
  7. ^ "Brommapojkarna 3–1 Gefle" (bằng tiếng Thụy Điển). Soccerway. ngày 12 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015.
  8. ^ a b "Ludwig Augustinsson" (bằng tiếng Thụy Điển). SvenskFotboll. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015.
  9. ^ a b "Augustinsson in, Bärkroth ut" (bằng tiếng Thụy Điển). IFK Göteborg. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013.
  10. ^ "Klart: Augustinsson går till IFK Göteborg" (bằng tiếng Thụy Điển). Sportbladet. ngày 6 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2015.
  11. ^ a b "Augustinsson borta fem månader" (bằng tiếng Thụy Điển). Göteborgs-Posten. ngày 28 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2014.
  12. ^ a b "Första matchen sen mars – skadad igen" (bằng tiếng Thụy Điển). Sportbladet. ngày 25 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2014.
  13. ^ "IFK Göteborg vs. Värnamo 2 – 0" (bằng tiếng Thụy Điển). Soccerway. ngày 1 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2015.
  14. ^ "Örebro – IFK Göteborg" (bằng tiếng Thụy Điển). SvenskFotboll. ngày 24 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015.
  15. ^ "Årets lag – Vänsterback" (bằng tiếng Thụy Điển). SvenskaFans.com. ngày 17 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015.
  16. ^ "Ludde till FC Köpenhamn efter säsongen" (bằng tiếng Thụy Điển). IFK Göteborg. ngày 6 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2014.
  17. ^ "Blåvitt sålde talangen för en rekordsumma" (bằng tiếng Thụy Điển). Expressen. ngày 8 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2014.
  18. ^ "Ståle om ny svensker: Bedste debut siden...MIG!" (bằng tiếng Đan Mạch). Ekstrabladet. ngày 22 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2015.
  19. ^ "Assists, top 20, 2014/2015" (bằng tiếng Đan Mạch). SuperStats.dk. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2015.
  20. ^ "Esbjerg fB – FC København (30. april 2015)" (bằng tiếng Đan Mạch). bold.dk. ngày 30 tháng 4 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2015.
  21. ^ "FC Vestsjælland – FC København (14. maj 2015)" (bằng tiếng Đan Mạch). bold.dk. ngày 14 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2015.
  22. ^ a b "Agenten bekräftar: Liverpool ute efter Augustinsson". Fotbollskanalen. ngày 28 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2016.
  23. ^ Bản mẫu:Chú thích báo 2015
  24. ^ "Assists, top 20, 2015/2016" (bằng tiếng Đan Mạch). SuperStats.dk. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2015.
  25. ^ "Så meget har de bidraget til guldet: Disse FCK-stjerner gik forrest" (bằng tiếng Đan Mạch). Ekstra Bladet. ngày 29 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2016.
  26. ^ Palazzo, Chiara (ngày 18 tháng 4 năm 2017). "Danish football fans throw dead rats at players during Copenhagen derby". The Telegraph. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2017.
  27. ^ "Augustinsson wechselt im Sommer nach Bremen" [Augustinsson will join Bremen in the summer]. kicker Online (bằng tiếng Đức). ngày 30 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2017.
  28. ^ "Bremen bindet auch Augustinsson langfristig". kicker Online (bằng tiếng Đức). ngày 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018.
  29. ^ "Relegation playoff: Werder Bremen retain Bundesliga status on away goals" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  30. ^ "Ludwig Augustinsson wechselt nach Spanien". SV Werder Bremen (bằng tiếng Đức). ngày 15 tháng 8 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2021.
  31. ^ Evans, Gregg (ngày 11 tháng 7 năm 2022). "Villa to sign Augustinsson mượn từ Sevilla". The Athletic (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2022.
  32. ^ Club, Aston Villa Football (ngày 11 tháng 7 năm 2022). "Aston Villa agree Augustinsson (mượn) deal". Aston Villa Football Club. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2022.
  33. ^ Emons, Michael (ngày 2 tháng 10 năm 2022). "Sinisterra sent off as Leeds draw with Villa". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2022.
  34. ^ "Anderlecht tient son 9e renfort de l'été : Ludwig Augustinsson débarque sous forme de prêt" [Anderlecht holds its 9th reinforcement of the summer: Ludwig Augustinsson arrives in the form of a (mượn)]. La DH Les Sports+ (bằng tiếng French). ngày 16 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2023.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  35. ^ "Welcome back, Ludwig Augustinsson". R.S.C. Anderlecht (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2024.
  36. ^ a b "EM-truppen uttagen" (bằng tiếng Thụy Điển). SvenskFotboll.se. ngày 11 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016.
  37. ^ "Ingen Augustinsson i OS" (bằng tiếng Thụy Điển). Göteborgs-Posten. ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  38. ^ a b c "European Under-21 Championship: our team of the tournament". The Guardian. ngày 1 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015.
  39. ^ "Avbräck i U21-landslaget inför ödesmatchen" (bằng tiếng Thụy Điển). SvT. ngày 9 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2015.
  40. ^ "Sweden surge leaves Italy defeated". UEFA. ngày 18 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2016.
  41. ^ "England beat Sweden through late Lingard goal". UEFA. ngày 21 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2016.
  42. ^ "Last-gasp Sweden join Portugal in U21 EURO semis". UEFA. ngày 24 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2016.
  43. ^ "Startelvan mot Elfenbenskusten" (bằng tiếng Thụy Điển). SvenskFotboll.se. ngày 15 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015.
  44. ^ "Startelvan mot Finland" (bằng tiếng Thụy Điển). SvenskFotboll.se. ngày 19 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015.
  45. ^ "Har en väldigt, väldigt hög nivå" (bằng tiếng Thụy Điển). Sportbladet.se. ngày 20 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015.
  46. ^ "Turkiet-Sverige 2–1" (bằng tiếng Thụy Điển). SvenskFotboll.se. ngày 24 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2016.
  47. ^ "Wendt tillbaka i landslaget" (bằng tiếng Thụy Điển). Aftonbladet. ngày 23 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  48. ^ "Wendt tillbaka: "Jättekul"" (bằng tiếng Thụy Điển). Sydsvenskan. ngày 7 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  49. ^ "Janne om startelvan mot Bulgarien" (bằng tiếng Thụy Điển). SvenskFotboll. ngày 10 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  50. ^ "Bänkade – då kan de hjälpa U21" (bằng tiếng Thụy Điển). Sportbladet. ngày 8 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  51. ^ "Sweden v Bulgaria". BBC Sport. ngày 10 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  52. ^ "Revealed: Every World Cup 2018 squad – 23-man & preliminary lists & when will they be announced?". Goal.com. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2018.
  53. ^ "Ludwig Augustinsson "Jag är 100 procent fotboll"" (bằng tiếng Thụy Điển). SvenskaFans. ngày 28 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015.
  54. ^ a b c Lundh, Olof (ngày 18 tháng 11 năm 2015). "Guidetti fick U21-stjärna att skippa alkohol: "Har blivit arg när de pushat på"" (bằng tiếng Thụy Điển). Fotbollskanalen. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015.
  55. ^ "Augustinsson fortsätter producera framåt: Stabilt" (bằng tiếng Thụy Điển). Sportbladet. ngày 10 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2016.
  56. ^ "Blåvitts sätt att spela är kanon för mig" (bằng tiếng Thụy Điển). Fotboll Direkt. ngày 19 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2016.
  57. ^ "Ludwig Augustinsson – FC Köpenhamns "24/7"" (bằng tiếng Thụy Điển). Viasat Sport. ngày 18 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2016.
  58. ^ "Jag får gåshud bara jag tänker på det" (bằng tiếng Thụy Điển). Expressen. ngày 28 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2015.
  59. ^ "Jonathan Augustinsson klar för Djurgården" (bằng tiếng Thụy Điển). Djurgårdens IF. ngày 15 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2016.
  60. ^ "Sveriges nya fotbollscentrum" (bằng tiếng Thụy Điển). Aftonbladet. ngày 13 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015.
  61. ^ "Rektorsbrev juni 2016" (bằng tiếng Thụy Điển). Aspuddens Skola. ngày 10 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2016.
  62. ^ "Fotbollsprofilen" (bằng tiếng Thụy Điển). Nybohovsskolan. ngày 16 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2016.
  63. ^ "Ludwig Augustinsson: "Det är en ära att få spela för svenska landslaget"" (bằng tiếng Thụy Điển). Metro Mode. ngày 2 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2016.
  64. ^ Ludwig Augustinsson tại Soccerway
  65. ^ "Ludwig Augustinsson" (bằng tiếng Thụy Điển). Svenskfotboll. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2021.
  66. ^ Ludwig Augustinsson tại National-Football-Teams.com

Liên kết ngoài