Mile Jedinak
Michael John "Mile" Jedinak (phát âm tiếng Croatia: [milê jědinak]; /ˈmɪleɪ
|
Tập tin:Mile Jedinak Antalyaspor.JPG Jedinak với Antalyaspor năm 2009 | |||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Michael John Jedinak[1] | ||||||||||||||||
| Ngày sinh | 3 tháng 8, 1984 | ||||||||||||||||
| Nơi sinh | Camperdown, New South Wales, Úc[2] | ||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,89 m[3] | ||||||||||||||||
| Vị trí | Tiền vệ phòng ngự | ||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||
Đội hiện nay | Úc (trợ lý huấn luyện viên) | ||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||
| Sydney United | |||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2001–2006 | Sydney United | 84 | (12) | ||||||||||||||
| 2003–2004 | → Varteks (mượn) | 0 | (0) | ||||||||||||||
| 2005 | → South Coast United (mượn) | 18 | (7) | ||||||||||||||
| 2006–2009 | Central Coast Mariners | 45 | (8) | ||||||||||||||
| 2009–2011 | Gençlerbirliği | 38 | (4) | ||||||||||||||
| 2009–2010 | → Antalyaspor (mượn) | 28 | (5) | ||||||||||||||
| 2011–2016 | Crystal Palace | 165 | (10) | ||||||||||||||
| 2016–2019 | Aston Villa | 70 | (2) | ||||||||||||||
| Tổng cộng | 421 | (39) | |||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2003 | U-20 Úc | 9 | (0) | ||||||||||||||
| 2008–2018 | Úc | 79 | (20) | ||||||||||||||
| Sự nghiệp huấn luyện | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||
| 2023–2025 | Tottenham Hotspur (trợ lý) | ||||||||||||||||
| 2025 | Nottingham Forest (trợ lý) | ||||||||||||||||
| 2026– | Úc (trợ lý) | ||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia | |||||||||||||||||
Jedinak sinh ra và lớn lên tại Sydney, và chơi bóng đá trẻ cho Sydney United trước khi bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp tại câu lạc bộ này. Sau các giai đoạn được cho Varteks và South Coast United mượn, Jedinak chuyển đến Central Coast Mariners vào năm 2006. Sau đó, ông có thời gian thi đấu cho các câu lạc bộ Thổ Nhĩ Kỳ Gençlerbirliği và Antalyaspor.
Năm 2011, ông được câu lạc bộ Anh Crystal Palace ký hợp đồng, nơi ông được bổ nhiệm làm đội trưởng câu lạc bộ vào năm 2012, dẫn dắt câu lạc bộ thăng hạng lên Giải bóng đá Ngoại hạng Anh vào năm 2013 cũng như vào đến Chung kết Cúp FA 2016. Năm 2016, ông gia nhập đội bóng Championship Aston Villa, đồng thời giúp đội thăng hạng trở lại Premier League vào năm 2019 trước khi giải nghệ.
Jedinak ra mắt đội tuyển quốc gia Úc vào năm 2008. Ông có tổng cộng 79 lần ra sân cho đội tuyển, giữ vai trò đội trưởng từ năm 2014 cho đến khi giã từ đội tuyển quốc gia vào năm 2018. Ông đại diện cho Úc tại các kỳ 2010, 2014 và 2018. Ông cũng thi đấu tại hai kỳ Cúp bóng đá châu Á, bao gồm việc làm đội trưởng khi Úc giành chức vô địch trên sân nhà tại giải đấu năm 2015.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Jedinak bắt đầu chơi bóng khi được chọn tham gia PDSSSC – một giải đấu giữa các trường Công giáo thuộc Giáo phận Parramatta – nơi ông thi đấu cho St Agnes Catholic High, cùng trường với đồng hương Željko Kalac. Ông cũng thi đấu cho Loyola Senior High School, Mount Druitt tại Jesuit Cup. Với tư cách đội trưởng, Jedinak dẫn dắt đội đến thành công và giành chức vô địch giải đấu. Ông bắt đầu sự nghiệp tại Sydney United và từng có thời gian trong những năm đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ Croatia Varteks, sau đổi tên thành Varaždin, nơi ông có một lần ra sân chính thức cho đội bóng Croatia trong trận vòng loại Cúp UEFA gặp Levadia Maardu.[5][6] Ông là thành viên đội hình Sydney United giành chức vô địch NSW Premier League năm 2006, thi đấu ở hàng tiền vệ và nhờ đó có cơ hội thử việc với Mariners.
Central Coast Mariners
Jedinak lần đầu được bổ sung vào đội hình Mariners trong tuần trước trận play-off Cúp Tiền mùa giải 2006 gặp Newcastle Jets, và sau đó được triệu tập vào đội hình cho mười trận cuối của mùa giải 2006–07, nơi ông có tám lần ra sân.
Jedinak gặt hái thành công tại Central Coast Mariners, giúp đội giành Premiers' Plate trong mùa giải A-League 2007–08 và ghi một số bàn thắng đẹp mắt, trong đó có cú đá phạt từ cự ly 25 mét trong thất bại 5–4 trước Sydney FC ở vòng 15. Ông là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai của câu lạc bộ trong mùa giải 2008–09, với sáu bàn thắng.
Gençlerbirliği
Ngày 25 tháng 12 năm 2008, Jedinak ký hợp đồng hai năm rưỡi với câu lạc bộ Thổ Nhĩ Kỳ Gençlerbirliği, có hiệu lực từ tháng 1 năm 2009.[7] Ngày 24 tháng 1 năm 2009, ông ra mắt chính thức cho Gençlerbirliği trong chiến thắng 3–1 trước Kayserispor, thi đấu trọn vẹn trận đấu. Bàn thắng đầu tiên của Jedinak cho Gençlerbirliği được ghi trong chiến thắng 1–0 trước Fenerbahçe.[8]
Crystal Palace
Khi còn một năm trong hợp đồng với Gençlerbirliği, Jedinak thông báo vào tháng 6 năm 2011 rằng ông sẽ rời câu lạc bộ, với hy vọng tìm được một câu lạc bộ mới ở quốc gia khác.[9] Một tháng sau, ông ký hợp đồng với Crystal Palace tại Anh.[10] Jedinak trở thành cầu thủ được cổ động viên yêu thích tại Selhurst Park trong mùa giải 2012–13. Khi đội trưởng thường xuyên của câu lạc bộ Paddy McCarthy dính chấn thương trong mùa giải đó, Jedinak lần đầu được huấn luyện viên Dougie Freedman trao băng đội trưởng và sau đó tiếp tục giữ vai trò này dưới thời Ian Holloway. Jedinak ghi bàn thắng quyết định ở phút 89 trong ngày cuối mùa giải 2012–13, giúp Palace thắng Peterborough United 3–2 tại Selhurst Park để giành suất dự play-off, rồi làm đội trưởng đưa Palace thắng play-off và thăng hạng lên Giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Jedinak được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải 2012–13 của Crystal Palace.
Ngày 3 tháng 12 năm 2013, Jedinak ký hợp đồng mới có thời hạn ba năm rưỡi, dự kiến hết hạn vào mùa hè năm 2017. Ông ghi bàn thắng đầu tiên tại Premier League từ chấm phạt đền trước West Ham United vào tháng 4 năm 2014, và chọn không ăn mừng bàn thắng để bày tỏ sự tôn trọng với đồng hương Dylan Tombides, người được tưởng niệm trong trận đấu đó sau khi qua đời.[11] Jedinak suýt thi đấu mọi phút trong mùa giải Premier League 2013–14 của Palace, điều hiếm thấy đối với một cầu thủ ngoài thủ môn, kể cả đội trưởng, nhưng ông dính chấn thương trong hiệp hai trận hòa 2–2 với Fulham; ông được thay bằng Kagisho Dikgacoi khi trận đấu còn hơn 30 phút.
Ngày 28 tháng 10 năm 2014, Jedinak được trang web Oulala Fantasy Football xếp là cầu thủ hay thứ năm châu Âu, tiền vệ hay nhất châu Âu và cầu thủ hay nhất Premier League sau ba tháng đầu của mùa giải 2014–15 dựa trên thống kê màn trình diễn của Opta, một danh hiệu mà ông tỏ ra khiêm tốn đón nhận theo tường thuật của đài truyền hình Úc Special Broadcasting Service.[12] Ngày 30 tháng 11, ông được vinh danh là Cầu thủ quốc tế châu Á xuất sắc nhất năm. Cú đá phạt tuyệt đẹp của Jedinak trong chiến thắng 3–1 trước Liverpool vào tháng 11 năm 2014 được bầu là Bàn thắng của mùa giải tại đêm trao giải Crystal Palace FC Awards 2015.
Trước mùa giải Premier League 2016–17, câu lạc bộ thông báo rằng Jedinak đã thôi giữ băng đội trưởng và Scott Dann sẽ kế nhiệm ông.[13]
Aston Villa
Chủ sở hữu mới của Aston Villa, Tony Xia, viết trên tài khoản Twitter cá nhân rằng "Chúng tôi sẽ chính thức công bố một bản hợp đồng mới vào 5 giờ chiều hôm nay" vào ngày 17 tháng 8 năm 2016, và sau đó câu lạc bộ xác nhận lúc 5 giờ chiều rằng Jedinak là tân binh mới nhất của Villa và ông chuyển đến câu lạc bộ Championship theo hợp đồng ba năm.[14][15][16] Ông ra mắt Aston Villa vào ngày 27 tháng 8 năm 2016 trong thất bại 3–1 trước Bristol City.[17]
Ngày 23 tháng 12 năm 2017, Jedinak ghi bàn thắng đầu tiên cho Villa trong trận hòa 2–2 trên sân nhà trước Sheffield United.[18] Ngày 12 tháng 5 tiếp theo, ông đánh đầu ghi bàn duy nhất trong chiến thắng ở bán kết play-off trên sân Middlesbrough.[19] Hai tuần sau, trong trận chung kết tại Wembley, Villa thua Fulham 1–0, và Jedinak được thay bằng cầu thủ có xu hướng tấn công hơn là Josh Onomah khi trận đấu còn 13 phút.[20]
Ngày 14 tháng 5 năm 2019, Jedinak vào sân từ ghế dự bị ở cuối hiệp phụ trong chiến thắng của Villa ở bán kết play-off trước đối thủ vùng Midlands là West Bromwich Albion. Là một chuyên gia sút phạt đền với thành tích 100% trong sự nghiệp,[21] Jedinak ghi bàn đưa Aston Villa dẫn 2–0 trong loạt sút luân lưu, trước khi Villa cuối cùng thắng 4–3.[22] Hai tuần sau, vào ngày 27 tháng 5, ông là cầu thủ dự bị không được sử dụng khi Aston Villa đánh bại Derby County 2–1 tại Wembley để giành quyền trở lại Premier League.[23]
Jedinak được Aston Villa giải phóng hợp đồng sau khi mùa giải 2018–19 kết thúc.[24]
Vào tháng 5 năm 2020, Jedinak cho biết ông vẫn chưa giải nghệ bóng đá chuyên nghiệp,[25] nhưng đến tháng 7 năm 2020, ông tuyên bố giải nghệ.[26]
Sự nghiệp quốc tế
Jedinak từng thi đấu cho đội U-17 Úc tại Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, ra sân trước Cộng hòa Séc, Canada và chủ nhà.
Jedinak ra mắt đội tuyển quốc gia trong trận giao hữu gặp Singapore vào đầu năm 2008 và là thành viên quan trọng trong đội hình "Socceroos" của Pim Verbeek trước thềm Giải vô địch bóng đá thế giới 2010. Jedinak có tên trong đội hình 23 cầu thủ Úc tham dự World Cup 2010 và có lần ra sân đầu tiên trong trận mở màn của Úc trước Đức vào ngày 13 tháng 6. Tuy nhiên, đây là lần góp mặt duy nhất của Jedinak tại giải đấu.
Jedinak ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên trước Hàn Quốc tại Cúp bóng đá châu Á.[27] Ông tiếp tục ghi bàn thắng quốc tế thứ hai trong trận kế tiếp của giải gặp Bahrain.[28]
Khi đội trưởng thường xuyên Lucas Neill vắng mặt, Jedinak được trao băng đội trưởng trong thất bại giao hữu 4–3 của Úc trước Ecuador.[29]
Ngày 21 tháng 5 năm 2014, huấn luyện viên Socceroos Ange Postecoglou bổ nhiệm Jedinak làm đội trưởng đội tuyển quốc gia Úc tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 tại Brazil,[30] bất chấp việc ông dính chấn thương khi thi đấu trong trận cuối mùa Premier League của Crystal Palace.[31] Ngày 18 tháng 6, Jedinak ghi bàn từ chấm phạt đền trong thất bại 3–2 của Úc trước Hà Lan ở vòng bảng tại Porto Alegre.[32]
Jedinak được chọn làm đội trưởng Úc tại Cúp bóng đá châu Á 2015 trên sân nhà. Ông đá chính trong trận vòng bảng đầu tiên gặp Kuwait, ghi bàn từ chấm phạt đền ở phút 62 trong chiến thắng 4–1, nhưng kết thúc trận đấu với chấn thương mắt cá.[33] Ông trở lại thi đấu ở vòng đấu loại trực tiếp và cuối cùng nâng cao chiếc cúp sau chiến thắng trước Hàn Quốc trong trận chung kết năm 2015.[34]
Sau khi ban đầu có tên trong đội hình Úc tham dự Cúp Liên đoàn các châu lục, Jedinak sau đó bị loại vì căng cơ háng, chấn thương trở nặng trong chiến thắng của Úc trước Ả Rập Xê Út tại vòng loại World Cup. Ông được thay thế trong đội hình bởi James Jeggo.[35] Ngày 15 tháng 11 năm 2017, Jedinak lập hat-trick trước Honduras để giúp Úc giành quyền tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018.[36]
Vào tháng 5 năm 2018, ông có tên trong đội hình 23 cầu thủ của Úc tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga.[37] Ngày 16 tháng 6, ông ghi bàn từ chấm phạt đền trong thất bại 2–1 trước Pháp ở trận mở màn của Úc tại giải,[38] đây là bàn thắng thứ hai của ông tại World Cup sau bàn vào lưới Hà Lan năm 2014.[39] Jedinak tiếp tục ghi một quả phạt đền khác trước Đan Mạch ở trận vòng bảng thứ hai vào ngày 21 tháng 6 năm 2018, gỡ hòa cho đội và giúp Úc có một điểm.[40]
Jedinak giã từ bóng đá quốc tế vào tháng 10 năm 2018. Với 79 lần khoác áo đội tuyển, ông là cầu thủ ra sân nhiều thứ chín cho quốc gia này, và 20 bàn thắng giúp ông đứng thứ bảy trong danh sách ghi bàn mọi thời đại của đội tuyển.[41]
Sự nghiệp huấn luyện
Vào tháng 3 năm 2020, Jedinak được bổ nhiệm vào một vai trò huấn luyện tại học viện Aston Villa.[42][43] Ngày 30 tháng 3 năm 2021, ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên phát triển cầu thủ cho mượn tại Aston Villa.[44]
Ông được công bố là trợ lý huấn luyện viên tại Tottenham Hotspur vào tháng 6 năm 2023, sau khi cựu huấn luyện viên Socceroos của ông là Ange Postecoglou được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng tại đây.[45] Vào tháng 5 năm 2024, ông là một trong 20 ứng viên được Hiệp hội bóng đá Wales cấp UEFA Pro Licence sau khi hoàn thành khóa học kéo dài hai năm.[46] Ngày 12 tháng 6 năm 2025, sau khi Postecoglou bị sa thải, có thông báo rằng Jedinak đã rời vai trò của mình tại Tottenham.[47]
Ngày 10 tháng 9 năm 2025, sau khi Postecoglou được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Nottingham Forest, Jedinak được bổ nhiệm làm trợ lý huấn luyện viên.[48]
Ngày 20 tháng 1 năm 2026, Football Australia thông báo rằng Jedinak gia nhập ban huấn luyện Socceroos với vai trò trợ lý huấn luyện viên thứ ba.[49][50]
Đời tư
Jedinak kết hôn với Natalie Peacock và hai người có bốn con trai.[51]
Ngoài tên "Mile", dạng thân mật của tên khai sinh Michael, ông còn thường được gọi là "Jedi", rút gọn từ "Jedinak". Do tên gọi này giống với nhóm nhân vật Jedi trong Star Wars, ông thường được nghe những câu như "May the force be with you" và "Use the force".[52][53]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến 3 tháng 8 năm 2019[54]
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp[a] | Châu lục | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Sydney United | 2000–01 | NSL | 3 | 0 | — | — | — | 3 | 0 | |||
| 2001–02 | NSL | 7 | 1 | — | — | — | 7 | 1 | ||||
| 2002–03 | NSL | 18 | 2 | — | — | — | 18 | 2 | ||||
| 2004–05 | NSWPL | 24 | 3 | — | — | — | 24 | 3 | ||||
| 2006 | NSWPL | 30 | 6 | — | — | — | 30 | 6 | ||||
| Tổng cộng | 82 | 12 | 0 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 82 | 12 | ||
| Varteks (mượn) | 2003–04 | Prva HNL | — | — | 1 | 0 | — | 1 | 0 | |||
| Central Coast Mariners | 2006–07 | A-League | 8 | 0 | 1 | 0 | — | — | 9 | 0 | ||
| 2007–08 | A-League | 22 | 2 | 5 | 0 | — | — | 27 | 2 | |||
| 2008–09 | A-League | 15 | 6 | 0 | 0 | — | — | 15 | 6 | |||
| Tổng cộng | 45 | 8 | 6 | 0 | — | — | 51 | 8 | ||||
| Gençlerbirliği | 2008–09 | Süper Lig | 15 | 1 | — | — | — | 15 | 1 | |||
| 2009–10 | Süper Lig | 2 | 0 | — | — | — | 2 | 0 | ||||
| 2010–11 | Süper Lig | 21 | 3 | 3 | 1 | — | — | 24 | 4 | |||
| Tổng cộng | 38 | 4 | 3 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 41 | 5 | ||
| Antalyaspor (mượn) | 2009–10 | Süper Lig | 28 | 5 | 8 | 2 | — | — | 36 | 7 | ||
| Crystal Palace | 2011–12 | Championship | 31 | 1 | 4 | 0 | — | — | 35 | 1 | ||
| 2012–13 | play-off Championship | 41 | 3 | 2 | 0 | — | 3[b] | 0 | 46 | 3 | ||
| 2013–14 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 38 | 1 | — | — | — | 38 | 1 | ||||
| 2014–15 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 24 | 5 | — | — | — | 24 | 5 | ||||
| 2015–16 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 27 | 0 | 7 | 0 | — | — | 34 | 0 | |||
| 2016–17 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 1 | 0 | — | — | — | 1 | 0 | ||||
| Tổng cộng | 165 | 10 | 13 | 0 | 0 | 0 | 3 | 0 | 178 | 10 | ||
| Aston Villa | 2016–17 | Championship | 33 | 0 | 1 | 0 | — | — | 34 | 0 | ||
| 2017–18 | Championship | 25 | 1 | — | — | 3[b] | 1 | 28 | 2 | |||
| 2018–19 | Championship | 17 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 1[b] | 0 | 18 | 0 | |
| Tổng cộng | 75 | 1 | 1 | 0 | 0 | 0 | 4 | 1 | 80 | 2 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 421 | 39 | 31 | 1 | 1 | 0 | 7 | 1 | 457 | 43 | ||
- ^ Bao gồm Cúp FA, Cúp Liên đoàn và FA Community Shield.
- ^ a b c Lần ra sân ở Championship
Quốc tế
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Úc | 2008 | 3 | 0 |
| 2009 | 5 | 0 | |
| 2010 | 9 | 0 | |
| 2011 | 15 | 3 | |
| 2012 | 5 | 0 | |
| 2013 | 5 | 0 | |
| 2014 | 10 | 3 | |
| 2015 | 9 | 5 | |
| 2016 | 7 | 4 | |
| 2017 | 5 | 3 | |
| 2018 | 6 | 2 | |
| Tổng cộng | 79 | 20 | |
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Úc trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Jedinak.
| Thứ tự | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 15 tháng 1 năm 2011 | Sân vận động Al-Gharafa, Doha, Qatar | Tập tin:Flag of South Korea (1997–2011).svg Hàn Quốc | 1–1 | 1–1 | Cúp bóng đá châu Á 2011 |
| 2 | 18 tháng 1 năm 2011 | Sân vận động Jassim Bin Hamad, Doha, Qatar | Bahrain | 1–0 | 1–0 | Cúp bóng đá châu Á 2011 |
| 3 | 11 tháng 10 năm 2011 | Sân vận động ANZ, Sydney, Úc | Oman | 3–0 | 3–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 |
| 4 | 5 tháng 3 năm 2014 | The Den, Luân Đôn, Anh | Ecuador | 2–0 | 3–4 | Giao hữu |
| 5 | 18 tháng 6 năm 2014 | Sân vận động Beira-Rio, Porto Alegre, Brasil | Hà Lan | 2–1 | 2–3 | Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 |
| 6 | 8 tháng 9 năm 2014 | Craven Cottage, Luân Đôn, Anh | Ả Rập Xê Út | 2–0 | 3–2 | Giao hữu |
| 7 | 9 tháng 1 năm 2015 | Sân vận động Melbourne Rectangular, Melbourne, Úc | Kuwait | 3–1 | 4–1 | Cúp bóng đá châu Á 2015 |
| 8 | 25 tháng 3 năm 2015 | Fritz-Walter-Stadion, Kaiserslautern, Đức | Đức | 2–1 | 2–2 | Giao hữu |
| 9 | 17 tháng 6 năm 2015 | Sân vận động Spartak, Bishkek, Kyrgyzstan | Kyrgyzstan | 1–0 | 2–1 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 |
| 10 | 12 tháng 11 năm 2015 | Sân vận động Canberra, Canberra, Úc | Kyrgyzstan | 1–0 | 3–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 |
| 11 | 17 tháng 11 năm 2015 | Sân vận động Bangabandhu National, Dhaka, Bangladesh | Bangladesh | 4–0 | 4–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 |
| 12 | 24 tháng 3 năm 2016 | Adelaide Oval, Adelaide, Úc | Tajikistan | 2–0 | 7–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 |
| 13 | 11 tháng 10 năm 2016 | Sân vận động Docklands, Melbourne, Úc | Nhật Bản | 1–1 | 1–1 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 |
| 14 | 15 tháng 11 năm 2016 | Sân vận động Rajamangala, Băng Cốc, Thailand | Thái Lan | 1–0 | 2–2 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 |
| 15 | 2–2 | |||||
| 16 | 15 tháng 11 năm 2017 | Sân vận động Australia, Sydney, Úc | Honduras | 1–0 | 3–1 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 |
| 17 | 2–0 | |||||
| 18 | 3–0 | |||||
| 19 | 16 tháng 6 năm 2018 | Kazan Arena, Kazan, Nga | Pháp | 1–1 | 1–2 | Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 |
| 20 | 21 tháng 6 năm 2018 | Cosmos Arena, Samara, Nga | Đan Mạch | 1–1 | 1–1 | Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 |
Danh hiệu
Sydney United
- NSW Premier League: 2006
Central Coast Mariners
Crystal Palace
Aston Villa
Úc
- Á quân Cúp bóng đá châu Á: 2015;[60] 2011[61]
Cá nhân
- Huy chương Mariners: 2007–08[62]
- Đội hình tiêu biểu A-League của PFA: 2008–09
- Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của Crystal Palace: 2012–13
- Cầu thủ nam xuất sắc nhất năm của FFA: 2013, 2014
- Cầu thủ quốc tế châu Á xuất sắc nhất năm của AFC: 2014[56]
- Cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFA: 2013–14[63]
- Đội hình mọi thời đại AFC–Opta tại FIFA World Cup: 2020[64]
- IFFHS Đội hình nam châu Á mọi thời đại: 2021[65]
Tham khảo
- ^ "Barclays Premier League tại Numbers 2013/14". Premier League. ngày 16 tháng 8 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2013.
- ^ "Mile Jedinak". Socceroos.com.au. Football Federation Australia. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2016.
- ^ "FIFA World Cup Russia 2018: List of Players: Australia" (PDF). FIFA. ngày 15 tháng 7 năm 2018. tr. 3. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2019.
- ^ FFA TV (ngày 19 tháng 3 năm 2017), Mile Jedinak's 15 goals for Australia, lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2021, truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2017
- ^ Paraskevas, Chris (ngày 21 tháng 3 năm 2010). "Lessons Learned in Croatia". Goal.com. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2011.
- ^ "2003/04 UEFA Cup: Varaždin-Lev. Maardu". UEFA. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2012.
- ^ "Jedinak confirms Turkey move". The World Game. SBS. ngày 25 tháng 12 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Jedinak scores first goal for new club". The Sydney Morning Herald. ngày 22 tháng 2 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2012.
- ^ "Club search for Jedinak". The World Game. SBS. ngày 8 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2011.
- ^ "Australian International Jedinak Joins Palace". Crystal Palace F.C. ngày 11 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Crystal Palace's Mile Jedinak secures win amid boos from West Ham fans". The Guardian. ngày 20 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2014.
- ^ Lewis, David. "HUMBLE JEDINAK BRUSHES OFF 'BEST IN EUROPE' TAG". The World Game. SBS. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2014.
- ^ "Dann replaces Jedinak as Palace captain". ESPN.com. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018.
- ^ Xia, Tony (ngày 17 tháng 8 năm 2016). "We'll officially announce one new signing at 5PM today.@AVFCOfficial". Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016.
- ^ "We are delighted to announce the signing of Mile Jedinak on a three-year deal. #AVFC #WelcomeJedinak". AVFCOfficial. Aston Villa F.C. ngày 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016.
- ^ "Jedinak Signing Confirmed". ngày 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2016.
- ^ Dicken, Alex (ngày 27 tháng 8 năm 2016). "Here's how Aston Villa's Mile Jedinak did on his debut". Birmingham Mail.
- ^ Dicken, Alex (ngày 23 tháng 12 năm 2017). "Aston Villa player ratings: Jack Grealish stars but Mile Jedinak lapses cost Steve Bruce against Sheffield United". Birmingham Mail. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2019.
- ^ Taylor, Louise (ngày 12 tháng 5 năm 2018). "Mile Jedinak soars to sink Boro and steer Aston Villa toward play-off final". The Observer. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2019.
- ^ "Fulham beat Aston Villa 1-0 in Championship play-off final – as it happened". The Guardian. ngày 26 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2019.
- ^ Sport, JD Sport. "World Cup: The Best Penalty Takers Revealed". JD Sport. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2021.
- ^ Scott, Ged (ngày 14 tháng 5 năm 2019). "West Bromwich Albion 1 - 0 Aston Villa". BBC. BBC. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2021.
- ^ Woodcock, Ian (ngày 27 tháng 5 năm 2019). "Aston Villa 2-1 Derby County". BBC. BBC. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2021.
- ^ "Aston Villa: Micah Richards and Albert Adomah among eight players released". BBC Sport. ngày 1 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2019.
- ^ Rugari, Vince (ngày 19 tháng 5 năm 2020). "Jedinak still has 'desire to play' amid Macarthur FC interest". The Sydney Morning Herald. Fairfax Media. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020.
- ^ "Mile Jedinak, former Socceroos captain, retires from football with Instagram announcement". ABC News. ngày 12 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Australia 1 – 1 South Korea". ESPN Soccernet. ngày 14 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Australia 1 – 0 Bahrain". ESPN Soccernet. ngày 18 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Jedinak named Socceroos captain | The World Game". Theworldgame.sbs.com.au. ngày 5 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2014.
- ^ "Mile Jedinak named Socceroos' World Cup skipper". Goal.com. ngày 11 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2014.
- ^ Davutovic, David (ngày 21 tháng 5 năm 2014). "Mile Jedinak gets the captain's armband to lead the Socceroos at the World Cup in Brazil". Herald Sun. News Ltd. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2014.
- ^ Sanghera, Mandeep (ngày 18 tháng 6 năm 2014). "Australia 2–3 Netherlands". BBC. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2014.
- ^ "Crystal Palace captain Mile Jedinak injured on Australia duty". BBC Sport. ngày 10 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2015.
- ^ "Joy For Jedinak As Aussies Win Asian Cup". Crystal Palace F.C. ngày 31 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015.
- ^ "Jedinak ruled out of Confederations Cup". The World Game. Special Broadcasting Service. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2017.
- ^ "Virtuoso Mile Jedinak display against Honduras sends Australia to World Cup". The Guardian. ngày 15 tháng 11 năm 2017.
- ^ "Revealed: Every World Cup 2018 squad - 23-man & preliminary lists & when will they be announced? - Goal.com".
- ^ Howcroft, Jonathan; Howcroft, Jonathan (ngày 16 tháng 6 năm 2018). "France 2–1 Australia: World Cup 2018 – as it happened". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018.
- ^ "Subscribe to The Australian | Newspaper home delivery, website, iPad, iPhone & Android apps". www.theaustralian.com.au (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018.
- ^ Arena, Martha Kelner at the Samara (ngày 21 tháng 6 năm 2018). "Mile Jedinak's controversial penalty earns Australia draw against Denmark". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020.
- ^ "Socceroos captain Mile Jedinak announces immediate retirement". The Guardian. ngày 1 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2019.
- ^ Rayson, Zach (ngày 30 tháng 3 năm 2020). "Socceroos great Mile Jedinak makes surprise Premier League return". Fox Sports Australia. News Corp. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020.
- ^ Davidson, John. "JEDINAK TAKES UP COACHING ROLE". Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2020.
- ^ Preece, Ashley (ngày 30 tháng 3 năm 2021). "Birmingham Mail". Birmingham Mail. Birmingham Mail. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2021.
- ^ "Coaching staff update".
- ^ Phillips, Rob (ngày 28 tháng 5 năm 2024). "Cardiff future in a 'good place' - Purse". BBC Sport. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Coaching Update". Tottenham Hotspur. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Quartet join coaching staff". Nottingham Forest. ngày 10 tháng 9 năm 2025.
- ^ "CommBank Socceroos great Mile Jedinak joins Head Coach Tony Popovic's coaching staff | Socceroos". socceroos.com.au (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- ^ Rugari, Vince (ngày 19 tháng 1 năm 2026). "'It's an honour to return': Former skipper back to bolster Socceroos coaching staff". The Sydney Morning Herald (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- ^ Sharwood, Anthony (ngày 21 tháng 5 năm 2014). "In June, Socceroos captain Mile Jedinak will be Australia's most important man. Here's some stuff you should know about him". Adelaide Now. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2024.
- ^ "Enter Mile Jedinak – may the force be with him – The New Daily". ngày 21 tháng 5 năm 2014.
- ^ "Socceroos skipper like you've never seen him".
- ^ Mile Jedinak tại SoccerbaseLỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- ^ "M. Jedinak". Soccerway. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017.
- ^ a b Greco, John. "Jedinak's journey: 10 special Mile moments". Football Federation Australia.
{{Chú thích báo}}: Đã bỏ qua tham số không rõ|play-off date=(trợ giúp) - ^ Fletcher, Paul (ngày 27 tháng 5 năm 2013). "Crystal Palace 1–0 Watford". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2015.
- ^ McNulty, Phil (ngày 21 tháng 5 năm 2016). "Crystal Palace 1–2 Manchester United". BBC Sport.
{{Chú thích báo}}:|ngày truy cập=cần|url=(trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ|play-off url=(trợ giúp) - ^ Woodcock, Ian (ngày 27 tháng 5 năm 2019). "Aston Villa 2–1 Derby County". BBC Sport. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2019.
- ^ "AFC Asian Cup 2015, Úcn tại". Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2024.
- ^ "AFC Asian Cup 2011, Úcn tại". Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2024.
- ^ "Jedinak wins Mariners Medal". ESPN FC. ngày 29 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
- ^ "Jedinak and Ryan Honoured as PFA Major Award Winners". Professional Footballers Australia. ngày 15 tháng 1 năm 2014.
- ^ "The best Asian team at the FIFA World Cup announced!". Liên đoàn bóng đá châu Á. ngày 7 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2021.
- ^ "IFFHS ALL TIME ASIA MEN'S DREAM TEAM". IFFHS. ngày 11 tháng 6 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2021.
Liên kết ngoài
- Gençlerbirliği profile
- Central Coast Mariners profile
- FFA – Socceroo profile
- Oz Football profile
- Profile tại TFF.org
- Crystal Palace profile
- Mile Jedinak tại SoccerbaseLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).