Bước tới nội dung

Cứu thắng (bóng chày)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Save (baseball))
Tập tin:Mariano Rivera allison 7 29 07.jpg
Mariano Rivera là người nắm giữ kỷ lục về số lần cứu thắng nhiều nhất mọi thời đại tại MLB .

Trong bóng chày, một pha cứu thắng, cứu thua, giữ thắng hay bảo toàn (save, viết tắt là SV hoặc S) là thành tích ghi nhận một cầu thủ giao bóng kết thúc trận đấu cho đội giành chiến thắng trong một số trường hợp nhất định. Một pha cứu thắng có thể được thực hiện bằng cách một tay ném vào sân trong một trận đấu mà đội của anh ta đang dẫn trước từ ba điểm trở xuống và kết thúc trận đấu bằng cách ném ít nhất một hiệp mà không để gỡ hòa hay thua ngược; vào sân kết thúc trận khi có cầu thủ mang điểm gỡ hòa đang chờ đánh kế tiếp, đang trong lượt đánh hoặc trên chốt; hoặc bằng cách ném bóng ít nhất ba hiệp với tư cách vào ném tiếp sức và kết thúc trận đấu bất kể đội của anh ta đang dẫn bao nhiêu điểm khi vào sân.[1] Số lần cứu thắng hoặc tỷ lệ phần trăm cứu thắng thành công là những thống kê thường được trích dẫn của những tay ném tiếp sức, đặc biệt là những người trong vai trò kết liễu trận đấu.

Thông số thống kê này được nhà báo Jerome Holtzman tạo ra vào năm 1959 để "đo lường hiệu quả của các tay ném tiếp sức" và được chấp nhận là thống kê chính thức tại Giải bóng chày Major League (MLB) vào năm 1969.[2][3] Thống kê sau đó đã được tính toán hồi tố cho các cầu thủ thực hiện thành tích trên trước ngày đó. Mariano Rivera hiện là người giữ kỷ lục MLB về số lần cứu thắng tại mùa giải chính thức trong sự nghiệp với 652 lần, trong khi Francisco Rodríguez đã có số lần cứu thắng nhiều nhất ghi được trong một mùa giải với 62 lần vào năm 2008.

Lịch sử

Thuật ngữ "cứu" hay "cứu thua" (save) đã được sử dụng từ năm 1952.[4] Các giám đốc điều hành Jim Toomey của St. Louis Cardinals và Irv Kaze của Pittsburgh Pirates, cùng với nhà thống kê Allan Roth của Brooklyn/Los Angeles Dodgers đã trao thành tích ít được chú ý trong thời gian này cho các cầu thủ giao bóng đã kết thúc các trận thắng nhưng không được ghi nhận chiến thắng, bất kể khoảng cách điểm.

Khái niệm về một cầu thủ ném tiếp sức "cứu" một trận thắng cho tay ném xuất phát đã có từ lâu hơn nữa. Một tấm thẻ bóng chày Goudey năm 1933 hình Firpo Marberry thuộc đội Detroit Tigers đã ghi rằng anh "chuyên cứu các trận khi những tay ném khác đang xuống sức".[5]

Một công thức với nhiều tiêu chí hơn cho thành tích cứu thắng đã được nhà báo bóng chày Jerome Holtzman phát minh vào năm 1960.[6] Ông cảm thấy rằng các số liệu thống kê hiện hành, mất điểm trung bình (ERA) và số trận thắng thua (WL), là không đủ để đo lường hiệu quả của một cầu thủ ném cứu thua. ERA không tính đến những chân chạy kế thừa mà tay ném tiếp sức để chịu mất điểm, và WL không tính đến việc ném tiếp sức bảo vệ được lợi thế dẫn trước. Elroy Face của đội Pittsburgh Pirates thắng 18 bại 1 vào năm 1959; tuy nhiên, Holtzman đã viết rằng trong 10 trong số 18 trận thắng, Face đã để đối phương gỡ hòa hoặc dẫn trước nhưng vẫn giành chiến thắng nhờ hàng công của Pirates gỡ lại lợi thế dẫn trước.[7] Holtzman cảm thấy rằng Face hiệu quả hơn vào năm trước đó khi anh ấy thắng 5 bại 2. Khi Holtzman trình bày ý tưởng này cho JG Taylor Spink, nhà xuất bản của tờ The Sporting News (TSN), "[Spink] đã thưởng cho [Holtzman] 100 hay 200 đô la." Holtzman đã ghi lại thống kê cứu thắng không chính thức trên tờ TSN hàng tuần trong chín năm trước khi nó trở thành thông số chính thức vào năm 1969. Cùng với việc công bố thống kê này, The Sporting News vào năm 1960 cũng đã giới thiệu Giải thưởng Ném tiếp sức của năm, được trao dựa trên kết hợp giữa số lần cứu thắng và số trận thắng.[7][8]

Lượt cứu bóng trở thành thống kê chính thức của MLB vào 1969,[7] trở thành thống kê mới đầu tiên tại MLB kể từ khi số điểm đánh về (RBI) được thêm vào năm 1920.[7]

Cách tính

Trong thống kê bóng chày, thuật ngữ "save" hay "cứu thắng" được sử dụng để chỉ việc một cầu thủ giao bóng dự bị, thường là người kết thúc trận đấu, duy trì thành công lợi thế dẫn điểm cho đến hết trận. "Save" là một chỉ số ghi nhận người ném dự bị, theo quy định trong Điều 9.19 của Luật chính thức Major League Baseball.[cần dẫn nguồn] Định nghĩa hiện tại được áp dụng từ năm 1975,[9] trong đó nêu rõ người chấm điểm chính thức sẽ ghi nhận một pha cứu thắng cho một cầu thủ giao bóng khi người này đáp ứng cả bốn điều kiện sau:[10]

  1. Là người ném kết thúc trận đấu mà đội của anh ấy giành chiến thắng;
  2. Không phải là cầu thủ giao bóng giành phần thắng;
  3. Được ghi nhận đã ném ít nhất 13 hiệp; và
  4. Anh ta đáp ứng một trong các điều kiện sau:
    1. Anh ấy vào sân khi đội nhà dẫn trước không quá ba điểm và ném ít nhất một hiệp.
    2. Anh ấy bước vào trận đấu khi đối phương có cơ hội ghi điểm gỡ hòa, dù là trên chốt, đang đánh bóng hay đang chờ đánh kế tiếp.
    3. Anh ấy vào sân ném bóng ít nhất ba hiệp.

Định nghĩa về một pha cứu thắng không phải lúc nào cũng giống nhau. Theo định nghĩa ban đầu năm 1969, một người ném bóng cứu thua có thể kiếm được một pha cứu nếu anh ta vào sân khi đội của mình đang dẫn trước và anh ta giữ vững lợi thế dẫn trước cho đến hết trận đấu, bất kể lợi thế dẫn điểm hay thời lượng ném.[11] Điều này đã tạo ra một số pha cứu thua đặc biệt "dễ dàng", chẳng hạn như Ron Taylor được ghi nhận sau khi ném bóng không mất điểm nào trong hiệp thứ chín trong chiến thắng 20–6 của New York Mets trước Atlanta Braves vào tháng 8 năm 1971.[11][12] Năm 1974, các tiêu chí khắt khe hơn đã được áp dụng khi tính các pha cứu, trong đó cầu thủ mang điểm gỡ hòa phải ở trên sân (trên chốt hoặc đang đánh) khi người ném vào sân để đủ điều kiện được tính là một pha cứu thắng, hoặc phải duy trì lợi thế dẫn trước bất kỳ trong ít nhất ba hiệp để hoàn thành trận đấu.[13][14] Quy tắc trên đã được nới lỏng một chút vào năm 1975 thành định nghĩa như nêu ở trên.[14][15] Các trang web thống kê, đưa tính toàn hồi tố các pha cứu thắng vào các thông số ném bóng trước năm 1969 với các tiêu chí năm 1969.[Cần dẫn nguồn]

Thống kê liên quan

Tỷ lệ cứu thắng so với số cơ hội được gọi là tỷ lệ cứu thắng thành công[16] (cơ hội cứu thắng, viết tắt là SVO, hay "tình huống cứu thắng", xảy ra khi một tay ném vào sân trong tình huống cho phép anh ta thực hiện pha cứu thắng. Một tay ném vào sân trong tình huống cứu thua nhưng không kết thúc trận đấu, mà rời sân khi đội của anh ta vẫn đang dẫn trước, thì tình huống sẽ không bị tính là có SVO.

Nếu một người ném bóng tiếp sức đáp ứng tất cả các tiêu chí để được tính là cứu thắng nhưng không kết thúc trận đấu, anh ta thường sẽ được ghi nhận một lần giữ lợi thế (viết tắt là H); đây là một thống kê không được Major League Baseball (MLB) chính thức công nhận.[17]

Một pha cứu hỏng ( abbr. BS ; hoặc BSV hoặc B) xảy ra khi một người ném tiếp sức trong tình huống cứu thắng để mất lợi thế dẫn trước (cho phép người chạy ghi điểm gỡ hòa, hoặc dẫn ngược). Giống như giữ lợi thế, thống kê cứu hỏng không được MLB chính thức công nhận.[17] Thông số cứu hỏng được áp dụng trong hệ thống tính điểm được sử dụng bởi Giải thưởng Rolaids Relief Man khởi xướng từ năm 1988.[17][18] Nếu cầu thủ mang điểm gỡ hòa đã ở trên sân khi người ném dự bị vào trận, người ném trên sẽ bị tính là cứu hỏng dù điểm được tính cho người ném đã cho phép chân chạy về ghi điểm đó lên chốt. Một người ném dự bị không thể hỏng nhiều lần cứu trong một trận đấu trừ khi anh ta có nhiều cơ hội cứu, một tình huống chỉ có thể xảy ra nếu anh ta tạm thời chuyển sang vị trí phòng thủ khác, sau đó quay lại ném bóng.

Những người dẫn đầu tại Major League Baseball

Chú giải
Cầu thủ Tên của người chơi
Số lần Số lần cứu thắng trong sự nghiệp
Năm Những năm cầu thủ này thi đấu ở MLB
Được bầu vào Đại sảnh Danh vọng Bóng chày
* Người ném bóng vẫn còn đang thi đấu.
L Ký hiệu này chỉ người ném bóng thuận tay trái.

Số lần cứu thắng nhiều nhất trong sự nghiệp

Mùa giải chính
Cầu thủ Số lần Năm
Mariano Rivera 652 1995–2013
Trevor Hoffman 601 1993–2010
Lee Smith 478 1980–1997
Kenley Jansen * 476 2010–nay
Craig Kimbrel * 440 2010–nay
Francisco Rodríguez 437 2002–2017
John Franco L 424 1984–2005
Billy Wagner L† 422 1995–2010
Dennis Eckersley 390 1975–1998
Joe Nathan 377 1999–2016
Số liệu thống kê được cập nhật đến mùa giải 2025 [19]

Nhiều nhất trong một mùa giải

Mùa giải thường
Cầu thủ Số lần Đội Năm
Francisco Rodríguez 62 Los Angeles Angels of Anaheim 2008
Bobby Thigpen 57 Chicago White Sox Năm 1990
Edwin Díaz * Seattle Mariners 2018
John Smoltz 55 Atlanta Braves 2002
Éric Gagné Los Angeles Dodgers 2003
Randy Myers L 53 Đội Chicago Cubs 1993
Trevor Hoffman San Diego Padres 1998
Mariano Rivera New York Yankees 2004
Éric Gagné 52 Los Angeles Dodgers 2002
Dennis Eckersley 51 Oakland Athletics 1992
Rod Beck Chicago Cubs 1998
Jim Johnson Baltimore Orioles 2012
Mark Melancon Pittsburgh Pirates 2015
Jeurys Familia New York Mets 2016
Jim Johnson 50 Baltimore Orioles 2013
Craig Kimbrel * Atlanta Braves 2013
Mariano Rivera New York Yankees 2001
Số liệu thống kê được cập nhật đến mùa giải 2025 [20]

Chuỗi trận liên tiếp dài nhất không để cứu hỏng

Regular season
Cầu thủ Số lần Đội Năm Tk.
Éric Gagné 84 Los Angeles Dodgers 2002–2004 [21][22]
Zack BrittonL* 60 Baltimore Orioles 2015–2017 [23]
Tom Gordon 54 Boston Red Sox 1998–1999 [22]
Jeurys Familia 52 New York Mets 2015–2016 [24]
José Valverde 51 Detroit Tigers 2010–2011 [25]
John Axford 49 Milwaukee Brewers 2011–2012 [26]
Brad Lidge 47 Houston Astros, Philadelphia Phillies 2007–2009 [22]
Grant Balfour 44 Oakland Athletics 2012–2013 [27]
Brad Ziegler 43 Arizona Diamondbacks 2015–2016 [28]
Rod Beck 41 San Francisco Giants 1993–1995 [22]
Trevor Hoffman San Diego Padres 1997–1998 [22]
Heath Bell 2010–2011 [22]

Tài liệu tham khảo

  1. ^ "Save (SV) | Glossary". MLB.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2024.
  2. ^ Weber, Bruce (ngày 22 tháng 7 năm 2008). "Jerome Holtzman, 82, 'Dean' of Sportswriters, Dies". The New York Times. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  3. ^ Bloom, Barry (ngày 21 tháng 7 năm 2008). "Legendary historian Holtzman passes". MLB.com. Major League Baseball. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013.
  4. ^ Newman, Mark (ngày 22 tháng 7 năm 2008). "Holtzman helped 'save' baseball". MLB.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2013.
  5. ^ "#104 - Fred Marberry". tcdb.com. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2024.
  6. ^ Holtzman, Jerome (ngày 16 tháng 9 năm 2003). "How the save formula began". MLB.com. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2010.
  7. ^ a b c d Holtzman, Jerome (tháng 5 năm 2002). "Where did save rule come from? Baseball historian recalls how he helped develop statistic that measures reliever's effectiveness". Baseball Digest. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2008. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "holtzman" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  8. ^ Zimniuch, Fran (2010). Fireman: The Evolution of the Closer in Baseball. Chicago: Triumph Books. tr. 125. ISBN 978-1-60078-312-8.
  9. ^ Posnanski, Joe (ngày 12 tháng 4 năm 2017). "Save evolves from stat to game-changer". MLB.com (bằng tiếng Anh). Major League Baseball. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2025.
  10. ^ "Divisions Of The Code" (PDF). Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2019.
  11. ^ a b Zimniuch 2010, tr.126
  12. ^ "August 7, 1971 New York Mets at Atlanta Braves Box Score and Play by Play". baseball-reference.com. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2012.
  13. ^ "New baseball regulations may save Hiller record". The Times Herald. Port Huron, Michigan. AP. ngày 20 tháng 1 năm 1974. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2021 – qua newspapers.com.
  14. ^ a b Schechter, Gabriel (ngày 21 tháng 3 năm 2006). "Top Relievers in Trouble". National Baseball Hall of Fame and Museum. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2007.
  15. ^ "Baseball changes rules". Lewiston Morning Tribune. Lewiston, Idaho. AP. ngày 31 tháng 1 năm 1975. tr. 3B – qua Google News.
  16. ^ Dickson, Paul (2011). The Dickson Baseball Dictionary. W. W. Norton & Company. tr. 120, 741. ISBN 978-0-393-34008-2.
  17. ^ a b c Tourtellotte, Shane (ngày 28 tháng 12 năm 2017). "The Unofficial Rules: Of Holds and Blown Saves". fangraphs.com. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2021. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "tourtellotte" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  18. ^ "Thrown for a Loss". Sun-Sentinel. Fort Lauderdale, Florida. AP. ngày 21 tháng 5 năm 1988. tr. 48. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2021 – qua newspapers.com.
  19. ^ "Career Leaders & Records for Saves". Baseball-Reference.com. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2025.
  20. ^ "Single-Season Leaders & Records for Saves". Baseball-Reference.com. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2024.
  21. ^ "Eric Gagne Consecutive Saves Record". Baseball Almanac. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2021.
  22. ^ a b c d e f Center, Bill (ngày 4 tháng 5 năm 2011). "Pregame Preview: Will Bell set Padres saves record?". San Diego Union-Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2011.
  23. ^ Zucker, Joseph (ngày 23 tháng 7 năm 2017). "Zach Britton Sets AL Record After Converting 55th-Straight Save Opportunity". Bleacher Report.
  24. ^ "Mets' Jeurys Familia: Cruises to 24th save". RotoWite Staff. ngày 22 tháng 6 năm 2016.
  25. ^ "Tigers edge Red Sox after José Valverde blows save". ESPN.com. Associated Press. ngày 5 tháng 4 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2012.
  26. ^ "Corey Hart, Brewers edge Cubs in 13 innings". ESPN.com. Associated Press. ngày 12 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2012.
  27. ^ "Tommy Milone carries shutout into 9th, then A's hold on". ESPN.com. Associated Press. ngày 5 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2013.
  28. ^ Magruder, Jack (ngày 12 tháng 6 năm 2016). "For Brad Ziegler, sealing a win includes SEALs". todaysknuckleball.com. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016.

Liên kết ngoài