Tiếng Chơ Ro
| Chơ Ro | |
|---|---|
| Sử dụng tại | Việt Nam |
| Khu vực | Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh và Lâm Đồng |
| Tổng số người nói | 7,000 |
| Dân tộc | 29,520 người Chơ Ro (2019)[1] |
| Phân loại | Nam Á
|
| Hệ chữ viết | Latin |
| Mã ngôn ngữ | |
| ISO 639-3 | crw |
| Glottolog | chra1242[2] |
| ELP | Lỗi Lua trong Mô_đun:Endangered_Languages_Project tại dòng 21: attempt to index field 'wikibase' (a nil value). |
Tiếng Chơ Ro là một ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Bahnar, được nói bởi một số trong 22.000 người Cho Ro ở miền Nam Việt Nam. Không giống như hầu hết các ngôn ngữ ở Đông Nam Á, tiếng Chơ Ro không có thanh điệu từ vựng, mặc dù nó có ngữ điệu (nhấn âm) câu khá rõ rệt.
Phương ngữ
Tiếng Chơ Ro có vẻ khá đồng nhất về phương ngữ, có thể là do hôn nhân ngoại tộc, ngoại trừ khu vực Túc Trưng. Hầu hết người Chơ Ro đều cười nhạo và đôi khi gọi tiếng nói của người Túc Trưng là tiếng nói trẻ con; tuy nhiên, nhìn chung vẫn có sự hiểu biết lẫn nhau trong hầu hết các ngữ cảnh. (Tuy nhiên, các ghi chép của người Cơ đốc giáo được thực hiện ở Túc Trưng dường như khá khó hiểu ở Bình Tuy) Các phương ngữ khác có sự khác biệt nhỏ về ngữ điệu hoặc từ vựng, nhưng không đến mức nghiêm trọng. Do đó, cách nói ở vùng Xuân Lộc khá tiêu biểu cho phần lớn cộng đồng nói tiếng Chơ Ro và cũng có uy tín của trung tâm hành chính.
Ngữ âm học
Tiếng Chơ Ro ở Xuân Lộc được coi là tiêu chuẩn ở hầu hết khu vực Chơ Ro, những khác biệt rõ rệt nhất được tìm thấy xung quanh Túc Trưng.
Sự khác biệt giữa /chh/ và /s/ bị mất đi ở Võ Đát (nay thuộc xã Hoài Đức, tỉnh Lâm Đồng), Túc Trưng và một số nơi khác, nhưng lại hiện diện ở Bình Tuy và Gia Ray (nay thuộc phường Xuân Lộc, thành phố Đồng Nai). Cũng có thể một số phương ngữ tách /s/ thành hai âm vị /s,x/, mặc dù điều này vẫn chưa chắc chắn.
Âm đầu z thường biến thành g trong tiếng Túc Trưng, và âm đầu g cũng thường biến thành k. Phương ngữ Túc Trưng cũng bổ sung thêm âm 'j tiền thanh quản vào hệ thống âm vị của nó. (Âm 'j không có trong hệ thống âm vị của nhiều ngôn ngữ Môn-Khmer có âm 'b và 'd.) Tiếng Túc Trưng thường thêm âm h vào các âm tắc tiền mũi hóa, như trong hndu 'người', hndeh 'xe cộ', hmva 'năm (thời gian)'. (Lương 1959, 1960)
Các âm tắc hữu thanh có nhiều biến thể, từ âm tắc toàn phần đến âm tắc xát, đến âm xát hữu thanh. Ở nhiều vùng, đây chỉ đơn giản là vấn đề về phương ngữ hoặc sự biến đổi tự do, nhưng ở vùng Thọ Vực (thuộc xã Xuân Bắc, tỉnh Đồng Nai) chúng luôn được phát âm là âm tắc xát. Ở những nơi khác, cách phát âm âm tắc nhẹ phổ biến hơn.
Các tiền âm tiết có một số biến thể tùy theo từng khu vực. Xuân Lộc có xu hướng biến đổi phụ âm, trong khi Bình Tuy cho phép các phụ âm tương tự ở vị trí tiền âm tiết và vị trí chính. Bình Tuy: pave 'dê', cacăt 'lạnh', Xuân Lộc: dave, tacăt (so sánh với tiếng Chăm: pabaiy, Khmer: babe).
Túc Trưng cũng thể hiện xu hướng sử dụng tiền tố ca- và la-. Xuân Lộc: sinog, Túc Trưng: canog 'lông trên cơ thể'; Xuân Lộc: lapông, Túc Trưng: canông 'cửa'; Xuân Lộc: dana, Túc Trưng: lapa 'rùa'; Xuân Lộc: damo, Túc Trưng: lamo 'phủ nhận'; Xuân Lộc: vŭn, Túc Trưng: lavŭn 'mang thai'.
Các nguyên âm của Túc Trưng có một số khác biệt về ngữ âm so với tiếng Chơ Ro trung tâm. Âm /o/ (Xuân Lộc [ɔ]) được nâng lên thành [o], và /ô/ (Xuân Lộc [o]) được nâng lên thành [ou]. Và "ay" ở Xuân Lộc nói chung tương ứng với "ây" của Túc Trưng. Âm /ĭ/ trong phương ngữ Túc Trưng có xu hướng được phát âm ở phía trước nhiều hơn so với Xuân Lộc.
Các phụ âm cuối khá ổn định trong toàn bộ vùng Chơ Ro, ngoại trừ, một lần nữa, ở Túc Trưng. Âm cuối /l/ và /r/ đều đã hợp nhất với /y/. Xuân Lộc: var, Túc Trưng: vai 'hai', Xuân Lộc: gâl, Túc Trưng: gây 'trao đổi', Xuân Lộc: tôn, Túc Trưng: tôi 'tai'.
Ở Rừng Lá và Gia Ray âm "ayh" được hợp nhất với "ĕh". Xuân Lộc: ravâyh 'con voi', ndĕh 'phương tiện', Rừng Lá: rawĕh, ndĕh.
Túc Trưng, Võ Đát, và một số người nói tiếng Rừng Lá thường dùng nʔ cho âm nđ của Xuân Lộc. Xuân Lộc: canđal Võ Đát: canʔal 'ở giữa', Xuân Lộc: sinđach Túc Trưng: sinʔach 'tình yêu', Xuân Lộc: sinđôch Túc Trưng: sinʔôch 'đen'.
Ngữ âm Bình Tuy có sự trung hòa giữa âm cuối /l/ và /r/ và giữa một số nguyên âm trong một số môi trường nhất định.
Các phương ngữ khác có ngữ điệu khác nhau, nhưng chưa có cơ hội để phân tích chúng.
Từ vựng
Phần lớn từ vựng tiếng Chơ Ro được hiểu ở hầu hết khu vực Chơ Ro, mặc dù mỗi vùng lại có một vài từ riêng. Từ "chơi" là "vôt" ở Rừng Lá, "lêng" ở Xuân Lộc, và "khlân" ở Túc Trưng. Tuy nhiên, Túc Trưng có số lượng từ đặc biệt nhiều nhất, đến nỗi những người bản ngữ Chơ Ro khác coi Túc Trưng có một phương ngữ riêng biệt. Từ dường như được coi là dấu hiệu đặc trưng nhất của người nói tiếng Túc Trưng là họ sử dụng "hăn" 'đi' thay vì "sag"; ngoài ra, việc họ sử dụng "ĭnh" thay cho "ănh" cũng được đề cập nổi bật.
Những khác biệt về từ vựng khác dường như là kết quả của việc vay mượn. Tất cả các khu vực đều chịu ảnh hưởng của tiếng Việt ở mức độ tương đương, nhưng khu vực Bình Tuy chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ tiếng Chăm và tiếng Raglai (Mã Lai-Đa Đảo), trong khi Túc Trung có thể chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ tiếng Khmer. Hầu hết các từ ngữ từ các ngôn ngữ khác như tiếng Trung Quốc hoặc tiếng Ấn-Iran đều được truyền đạt thông qua tiếng Việt hoặc tiếng Chăm.[3]
Ví dụ
Hệ thống số đến
| Số | Phát âm | Số | Phát âm | Số | Phát âm | Số | Phát âm |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | muoːi / du | 11 | maːt muoːi | 21 | val ɟaːt muoːi | 40 | puoːn ɟaːt |
| 2 | val | 12 | maːt val | 22 | val ɟaːt val | 50 | prăm ɟaːt |
| 3 | pe | 13 | maːt pe | 23 | val ɟaːt pe | 60 | prau ɟaːt |
| 4 | puoːn | 14 | maːt puoːn | 24 | val ɟaːt puoːn | 70 | pŏh ɟaːt |
| 5 | prăm | 15 | maːt prăm | 25 | val ɟaːt prăm | 80 | pʰam ɟaːt |
| 6 | prau | 16 | maːt prau | 26 | val ɟaːt prau | 90 | suˀn ɟaːt |
| 7 | pŏh / paːh | 17 | maːt pŏh | 27 | val ɟaːt pŏh | 100 | du rajĕŋ |
| 8 | pʰam | 18 | maːt pʰam | 28 | val ɟaːt pʰam | 200 | val rajĕŋ |
| 9 | suˀn | 19 | maːt suˀn | 29 | val ɟaːt suˀn | 1000 | du ravu (gốc Chăm) |
| 10 | maːt | 20 | val ɟaːt | 30 | pe ɟaːt | 2000 | val ravu |
Hệ thống số đếm là một ví dụ về sự khác biệt giữa tiếng Chơ Ro với các ngôn ngữ khác, mặc dù có một chút ảnh hưởng từ tiếng Chăm và Môn-Khmer cũng như một số ngôn ngữ khác. Nó vẫn có hệ thống số riêng biệt, chỉ dành riêng cho ngôn ngữ này.[4]
Tham khảo
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có têne18 - ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).