Adem Ljajić
|
Tập tin:FWC 2018 - Group E - SRB v BRA - Photo 075 (cropped).jpg Ljajić với Serbia tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Ngày sinh | 29 tháng 9, 1991 | ||
| Nơi sinh | Novi Pazar, CHXHCN Serbia, CHLBXHCN Nam Tư | ||
| Chiều cao | 1,82 m[1] | ||
| Vị trí | Tiền vệ tấn công | ||
| Thông tin đội | |||
Đội hiện nay | Sarajevo | ||
| Số áo | 88 | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| Jošanica | |||
| 2005–2008 | Partizan | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2008–2010 | Partizan | 38 | (9) |
| 2010–2013 | Fiorentina | 78 | (15) |
| 2013–2016 | Roma | 61 | (14) |
| 2015–2016 | → Inter Milan (mượn) | 25 | (3) |
| 2016–2019 | Torino | 61 | (16) |
| 2018–2019 | → Beşiktaş (mượn) | 27 | (9) |
| 2019–2022 | Beşiktaş | 46 | (7) |
| 2022–2023 | Fatih Karagümrük | 11 | (0) |
| 2023–2025 | Novi Pazar | 61 | (17) |
| 2025– | Sarajevo | 22 | (4) |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2007–2008 | U-17 Serbia | 9 | (1) |
| 2008–2010 | U-19 Serbia | 13 | (6) |
| 2008–2010 | U-21 Serbia | 11 | (1) |
| 2010–2020 | Serbia | 47 | (9) |
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 22 tháng 4 năm 2026 | |||
Adem Ljajić (Kirin Serbia: Адем Љајић, phát âm [ǎːdem ʎǎːjitɕ]; sinh ngày 29 tháng 9 năm 1991) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Serbia thi đấu ở vị trí tiền vệ tấn công cho câu lạc bộ Sarajevo tại Giải bóng đá Ngoại hạng Bosna và Hercegovina.
Ljajić bắt đầu sự nghiệp với FK Jošanica, sau đó là Partizan, nơi anh có trận ra mắt tại Serbian SuperLiga và UEFA Champions League. Tháng 1 năm 2010, anh dự kiến gia nhập câu lạc bộ Anh Manchester United,[2] nhưng câu lạc bộ rút lại quyền chọn ký hợp đồng với anh vào tháng 12 năm 2009.[3] Thay vào đó, anh gia nhập Fiorentina với mức phí được cho là khoảng 8 triệu euro vào tháng 1 năm 2010.[4] Tháng 8 năm 2013, sau ba năm ở Florence, Ljajić gia nhập Roma với mức phí 11 triệu euro, ký hợp đồng bốn năm.[5] Tháng 7 năm 2016, anh được bán cho Torino. Ljajić được cho Beşiktaş mượn năm 2018, trước khi ký hợp đồng chính thức với đội bóng Thổ Nhĩ Kỳ này vào năm 2019. Sau đó, anh gia nhập Fatih Karagümrük năm 2022.[6] Tháng 9 năm 2023, Ljajić ký hợp đồng với câu lạc bộ quê nhà Novi Pazar. Tháng 8 năm 2025, anh rời Novi Pazar và gia nhập đội bóng Bosna và Hercegovina Sarajevo.[7]
Ljajić có trận ra mắt quốc tế chính thức cho Serbia năm 2010. Từ năm 2012 đến năm 2014, anh bị huấn luyện viên Siniša Mihajlović gạt khỏi đội tuyển vì phản đối việc hát quốc ca Serbia. Ljajić là thành viên đội hình Serbia tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018. Anh có tổng cộng 47 lần khoác áo đội tuyển, ghi 9 bàn,[8] và trận quốc tế cuối cùng của anh là một trận Nations League gặp Hungary vào tháng 10 năm 2020.[9]
Sự nghiệp câu lạc bộ
Partizan
Sinh ra tại Novi Pazar thuộc vùng Serbia của Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư, Ljajić gia nhập Partizan năm 14 tuổi vào năm 2005, chuyển đến từ câu lạc bộ hạng dưới Serbia FK Jošanica.[10] Ljajić là cầu thủ đầu tiên mặc áo số 22 cho Partizan sau khi Saša Ilić chuyển sang Galatasaray năm 2005.[11] Ljajić ra sân cho Partizan ở lượt đi vòng loại thứ Hai UEFA Champions League vào ngày 29 tháng 7 năm 2008 với tư cách cầu thủ vào sân thay người trong hiệp hai.[12] Anh tiếp tục vào sân thay người ở trận lượt về và một lần nữa vào sân thay người ở lượt về vòng loại thứ Ba. Anh ghi bàn thắng chính thức đầu tiên cho Partizan vào ngày 23 tháng 11 năm 2008 trong một trận đấu tại giải vô địch quốc gia gặp OFK Beograd.
Tháng 10 năm 2008, Manchester United cho Ljajić thử việc, dù ban đầu không có thông tin về thời hạn thử việc.[13] Ngày 2 tháng 1 năm 2009, Manchester United thông báo ký hợp đồng với cả Ljajić và đồng đội tại Partizan của anh, Zoran Tošić. Tošić sẽ gia nhập câu lạc bộ ngay lập tức, còn Ljajić ở lại Partizan trong phần còn lại của năm 2009, trước khi gia nhập United vào tháng 1 năm 2010.[14]
Dù không thể chính thức gia nhập câu lạc bộ cho đến tháng 1 năm 2010, Ljajić thường xuyên đến Manchester trong năm 2009 để tập luyện cùng đội một United, qua đó giúp các huấn luyện viên của câu lạc bộ theo dõi sự tiến bộ của anh.[14] Tuy nhiên, United quyết định không kích hoạt quyền chọn ký hợp đồng với Ljajić do các vấn đề liên quan đến hồ sơ xin giấy phép lao động của câu lạc bộ.[15][16] Sau khi thương vụ đổ vỡ, huấn luyện viên Partizan Goran Stevanović cho rằng tình huống này khiến Ljajić rơi vào "cú sốc tâm lý", nhưng Ljajić vẫn "xử lý tình huống tốt".[17] Giám đốc bóng đá Partizan Ivan Tomić nói: "Tôi nghĩ họ sẽ hối tiếc về quyết định này trong tương lai."[17]
Fiorentina
Ngày 13 tháng 1 năm 2010, câu lạc bộ Serie A của Ý Fiorentina thông báo ký hợp đồng với Ljajić. Sau khi vượt qua kiểm tra y tế, Ljajić ký hợp đồng năm năm,[18] với Partizan nhận mức phí được cho là 8 triệu euro cho cầu thủ này.[4] Ljajić ra mắt trong trận hòa 2–2 của Fiorentina trên sân Cagliari vào ngày 31 tháng 1 năm 2010, khi vào sân thay Manuel Pasqual ở phút 82.[19] Tuy nhiên, nửa mùa giải đầu tiên của anh tại câu lạc bộ dưới thời huấn luyện viên trưởng Cesare Prandelli chủ yếu là giai đoạn thích nghi với môi trường mới.
Việc đồng hương của Ljajić là Siniša Mihajlović trở thành huấn luyện viên trưởng giúp anh có thêm nhiều cơ hội ở đội một. Anh ghi bàn đầu tiên cho Viola từ chấm phạt đền trong trận gặp Lazio vào ngày 18 tháng 9 năm 2010, trận đấu mà Fiorentina thua 1–2.
Ngày 2 tháng 5 năm 2012, Ljajić bị thay ra trong một trận đấu gặp Novara. Phản ứng của anh trước quyết định thay người này là vỗ tay mỉa mai huấn luyện viên Delio Rossi, người sau đó túm lấy và cố đấm Ljajić. Sau trận đấu, Fiorentina thông báo Rossi đã bị sa thải khỏi vị trí huấn luyện viên và câu lạc bộ sẽ áp dụng các biện pháp tương xứng đối với Ljajić. Đồng đội của Ljajić là Valon Behrami, người ngồi trên ghế dự bị vào thời điểm xảy ra vụ việc, nói rằng không ai, kể cả anh, nghe thấy Ljajić xúc phạm Rossi, qua đó bác bỏ tuyên bố của Rossi rằng Ljajić đã xúc phạm gia đình ông. Behrami nói thêm rằng Rossi nên xấu hổ vì hành động của mình cũng như vì đã nói dối truyền thông.[20]
Ljajić lập cú đúp khi La Viola đánh bại Internazionale 4–1 vào ngày 17 tháng 2 năm 2013.[21]
Roma
Ljajić ký hợp đồng với Roma vào ngày 28 tháng 8 năm 2013 với mức phí 11 triệu euro, có thể tăng lên 15 triệu euro tùy theo thành công của câu lạc bộ, cùng bản hợp đồng bốn năm dành cho Ljajić.[5] Anh chọn áo số 8, số áo bị bỏ trống sau khi Erik Lamela ra đi, cũng là số áo Ljajić sử dụng ở đội tuyển quốc gia Serbia. Ngày 1 tháng 9 năm 2013, Ljajić có trận ra mắt Roma trong trận gặp Hellas Verona, khi vào sân thay Alessandro Florenzi; Ljajić ghi bàn thắng cuối cùng trong chiến thắng 3–0. Trong mùa giải đầu tiên tại Roma, Ljajić ghi 6 bàn sau 32 lần ra sân.
Ngày 30 tháng 8 năm 2014, Ljajić ra mắt mùa giải 2014–15 trong chiến thắng 2–0 của Giallorossi trước Fiorentina. Ngày 24 tháng 9, anh ghi bàn thắng đầu tiên của mùa giải trong chiến thắng 2–1 của Roma trước Parma. Ngày 6 tháng 12, anh lập cú đúp đầu tiên cho Roma, giúp Roma lội ngược dòng và hòa trận sân nhà trước Sassuolo với tỉ số 2–2. Ngày 26 tháng 2 năm 2015, anh ghi bàn thắng đầu tiên tại UEFA Europa League cho câu lạc bộ, mở tỉ số trong chiến thắng 2–1 trên sân Feyenoord. Anh kết thúc mùa giải với 41 lần ra sân và 9 bàn thắng, trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai của câu lạc bộ trong mùa giải, sau Francesco Totti.
Cho Inter Milan mượn
Ngày 31 tháng 8 năm 2015, Ljajić ký hợp đồng với Inter Milan theo dạng cho mượn một mùa giải, trong đó Inter trả Roma 1,75 triệu euro và có tùy chọn mua đứt vào cuối mùa giải với giá 11 triệu euro.[22][23] Ngày 1 tháng 12 năm 2015, Ljajić ghi bàn thắng đầu tiên cho Inter trong thất bại 1–2 trên sân Napoli.[24]
Torino
Sau khi Inter quyết định không kích hoạt tùy chọn mua đứt, Ljajić được bán cho Torino vào ngày 18 tháng 7 năm 2016 với giá 8,5 triệu euro, cộng thêm 500.000 euro tiền thưởng tiềm năng.[25]
Beşiktaş
Ngày 31 tháng 8 năm 2018, Ljajić gia nhập câu lạc bộ Süper Lig của Thổ Nhĩ Kỳ Beşiktaş theo dạng cho mượn trong một mùa giải.[26] Ngày 29 tháng 5 năm 2019, Beşiktaş ký hợp đồng chính thức với Ljajić với mức phí được cho là 6,5 triệu euro.[27]
Fatih Karagümrük
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, Ljajić gia nhập Fatih Karagümrük theo hợp đồng một năm rưỡi. Anh chỉ đủ điều kiện thi đấu các trận chính thức của đội từ tháng 1 năm 2023.[6]
Novi Pazar
Ngày 14 tháng 9 năm 2023, Ljajić trở lại quê nhà và ký hợp đồng với Novi Pazar. Có thông tin cho rằng Ljajić chỉ đưa ra một điều kiện, liên quan đến tiền lương của anh. Cụ thể, anh yêu cầu được thi đấu miễn phí cho câu lạc bộ. Ba ngày sau, anh ghi bàn thắng quyết định trong trận ra mắt, giúp đội thắng Napredak 2–1, sau khi vào sân ở phút 58 để thay Adetunji Adeshina.[28]
Sarajevo
Tháng 8 năm 2025, Ljajić rời Novi Pazar và ký hợp đồng hai năm với câu lạc bộ Sarajevo tại Giải bóng đá Ngoại hạng Bosna và Hercegovina.[7]
Sự nghiệp quốc tế
Ljajić từng đại diện cho các đội tuyển U-17 và U-19 Serbia. Ngày 7 tháng 9 năm 2008, anh có trận ra mắt quốc tế cho đội U-21 trong một trận vòng loại Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu gặp U-21 Hungary. Ngày 26 tháng 10 năm 2010, huấn luyện viên Serbia Vladimir Petrović thông báo rằng Ljajić sẽ lần đầu được triệu tập lên đội tuyển quốc gia cho trận giao hữu gặp Bulgaria vào ngày 17 tháng 11 năm 2010.
Ljajić bị huấn luyện viên trưởng Siniša Mihajlović loại khỏi đội hình đội tuyển quốc gia sau khi từ chối hát quốc ca Serbia trong trận thua giao hữu 0–2 trước Tây Ban Nha vào ngày 28 tháng 5 năm 2012 vì lý do cá nhân.[29] Trước đó, Ljajić đã ký vào bộ quy tắc ứng xử do Mihajlović thiết lập, trong đó có yêu cầu hát quốc ca Serbia, "Bože pravde" (Chúa của công lý).[30] Ljajić xác nhận phát biểu của Mihajlović, đồng thời nói rằng anh yêu Serbia và có mong muốn thi đấu cho đội tuyển quốc gia, nhưng nói thêm rằng anh phải tôn trọng bản thân mình, ngụ ý rằng anh sẽ không còn thi đấu dưới thời Mihajlović.[31]
Ngày 17 tháng 2 năm 2014, huấn luyện viên trưởng mới của đội tuyển quốc gia Serbia, Ljubinko Drulović, nói rằng ông sẽ không yêu cầu các cầu thủ hát quốc ca mà chỉ cần cống hiến hết mình cho đất nước trên sân.[32] Ljajić ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển quốc gia vào ngày 7 tháng 6 năm 2015 trong chiến thắng giao hữu 4–1 trước Azerbaijan.
Tháng 6 năm 2018, Ljajić có tên trong danh sách 23 cầu thủ Serbia tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 tại Nga,[33] nơi anh thi đấu cả ba trận vòng bảng khi Serbia bị loại ở vòng bảng.[34][35][36]
Sự nghiệp bóng rổ
Ngày 7 tháng 11 năm 2024, Ljajić ký hợp đồng với KK Novi Pazar 1969. Câu lạc bộ thông báo rằng Ljajić sẽ "sẵn sàng cho huấn luyện viên Hadžerić khi anh cân bằng được nghĩa vụ với đội bóng đá".[37]
Đời tư
Ljajić là người Bosniak và là một tín đồ Hồi giáo.[38]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 22 tháng 4 năm 2026[39]
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp quốc gia[a] | Châu lục | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Partizan | 2008–09 | Serbian SuperLiga | 24 | 5 | 5 | 1 | 4[b] | 0 | — | 33 | 6 | |
| 2009–10 | Serbian SuperLiga | 14 | 4 | 2 | 0 | 8[c] | 2 | — | 24 | 6 | ||
| Tổng cộng | 38 | 9 | 7 | 1 | 12 | 2 | — | 57 | 12 | |||
| Fiorentina | 2009–10 | Serie A | 9 | 0 | 1 | 0 | — | — | 10 | 0 | ||
| 2010–11 | Serie A | 26 | 3 | 2 | 0 | — | — | 28 | 3 | |||
| 2011–12 | Serie A | 15 | 1 | 3 | 0 | — | — | 18 | 1 | |||
| 2012–13 | Serie A | 28 | 11 | 3 | 1 | — | — | 31 | 12 | |||
| 2013–14 | Serie A | 0 | 0 | — | 1[d] | 0 | — | 1 | 0 | |||
| Tổng cộng | 78 | 15 | 9 | 1 | 1 | 0 | — | 88 | 16 | |||
| Roma | 2013–14 | Serie A | 28 | 6 | 4 | 0 | — | — | 32 | 6 | ||
| 2014–15 | Serie A | 32 | 8 | 2 | 0 | 7[e] | 1 | — | 41 | 9 | ||
| 2015–16 | Serie A | 1 | 0 | — | — | — | 1 | 0 | ||||
| Tổng cộng | 61 | 14 | 6 | 0 | 7 | 1 | — | 74 | 15 | |||
| Inter Milan (mượn) | 2015–16 | Serie A | 25 | 3 | 3 | 1 | — | — | 28 | 4 | ||
| Torino | 2016–17 | Serie A | 33 | 10 | 3 | 2 | — | — | 36 | 12 | ||
| 2017–18 | Serie A | 27 | 6 | 1 | 0 | — | — | 28 | 6 | |||
| 2018–19 | Serie A | 1 | 0 | — | — | — | 1 | 0 | ||||
| Tổng cộng | 61 | 16 | 4 | 2 | — | — | 65 | 18 | ||||
| Beşiktaş | 2018–19 | Süper Lig | 27 | 9 | — | 5[d] | 0 | — | 32 | 9 | ||
| 2019–20 | Süper Lig | 24 | 5 | 1 | 0 | 4[d] | 2 | — | 29 | 7 | ||
| 2020–21 | Süper Lig | 22 | 2 | 1 | 0 | 1[d] | 0 | — | 24 | 2 | ||
| 2021–22 | Süper Lig | 0 | 0 | — | — | — | 0 | 0 | ||||
| Tổng cộng | 73 | 16 | 2 | 0 | 10 | 2 | — | 85 | 18 | |||
| Fatih Karagümrük | 2022–23 | Süper Lig | 9 | 0 | — | — | — | 9 | 0 | |||
| 2023–24 | Süper Lig | 2 | 0 | — | — | — | 2 | 0 | ||||
| Tổng cộng | 11 | 0 | — | — | — | 11 | 0 | |||||
| Novi Pazar | 2023–24 | Serbian SuperLiga | 24 | 9 | 2 | 0 | — | — | 26 | 9 | ||
| 2024–25 | Serbian SuperLiga | 35 | 8 | 1 | 0 | — | — | 36 | 8 | |||
| 2025–26 | Serbian SuperLiga | 2 | 0 | 0 | 0 | 2[f] | 0 | — | 4 | 0 | ||
| Tổng cộng | 61 | 17 | 3 | 0 | 2 | 0 | — | 66 | 17 | |||
| Sarajevo | 2025–26 | Bosnian Premier League | 22 | 4 | 2 | 1 | — | 1[g] | 0 | 25 | 5 | |
| Tổng cộng sự nghiệp | 430 | 94 | 36 | 6 | 32 | 5 | 1 | 0 | 499 | 105 | ||
- ^ Bao gồm Serbian Cup, Coppa Italia, Cúp bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ, Cúp Bosna
- ^ Hai lần ra sân ở UEFA Champions League; hai lần ra sân ở Cúp UEFA
- ^ Một lần ra sân ở UEFA Champions League; bảy lần ra sân và hai bàn thắng ở UEFA Europa League
- ^ a b c d Lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ Bốn lần ra sân ở UEFA Champions League; ba lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Europa League
- ^ Lần ra sân ở UEFA Conference League
- ^ Lần ra sân ở Siêu cúp Bosna
Quốc tế
- Tính đến 11 tháng 10 năm 2020[40]
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Serbia | 2010 | 1 | 0 |
| 2011 | 5 | 0 | |
| 2012 | 1 | 0 | |
| 2013 | 0 | 0 | |
| 2014 | 2 | 0 | |
| 2015 | 8 | 3 | |
| 2016 | 3 | 0 | |
| 2017 | 5 | 2 | |
| 2018 | 10 | 3 | |
| 2019 | 10 | 1 | |
| 2020 | 2 | 0 | |
| Tổng cộng | 47 | 9 | |
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Serbia trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Ljajić.
| Thứ tự | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 7 tháng 6 năm 2015 | NV Arena, Sankt Pölten, Áo | 2–1 | 4–1 | Giao hữu | |
| 2 | 4 tháng 9 năm 2015 | Sân vận động Karađorđe, Novi Sad, Serbia | 2–0 | 2–0 | UEFA Euro 2016 qualification | |
| 3 | 8 tháng 10 năm 2015 | Elbasan Arena, Elbasan, Albania | 2–0 | 2–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016 | |
| 4 | 10 tháng 11 năm 2017 | Sân vận động Tianhe, Guangzhou, Trung Quốc | 1–0 | 2–0 | Giao hữu | |
| 5 | 14 tháng 11 năm 2017 | Sân vận động bóng đá Ulsan Munsu, Ulsan, Hàn Quốc | 1–0 | 1–1 | Giao hữu | |
| 6 | 9 tháng 6 năm 2018 | Sân vận động Liebenauer, Graz, Áo | 2–0 | 5–1 | Giao hữu | |
| 7 | 17 tháng 11 năm 2018 | Sân vận động Red Star, Belgrade, Serbia | 1–0 | 2–1 | UEFA Nations League C 2018–19 | |
| 8 | 20 tháng 11 năm 2018 | Sân vận động Partizan, Belgrade, Serbia | 4–1 | 4–1 | UEFA Nations League C 2018–19 | |
| 9 | 10 tháng 6 năm 2019 | , Belgrade, Serbia | 4–1 | 4–1 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020 |
Danh hiệu
Partizan[41]
Beşiktaş
Cá nhân
- Đội hình tiêu biểu mùa giải Serbian SuperLiga: 2023–24[42]
- Cầu thủ xuất sắc nhất tuần của Serbian SuperLiga: 2024–25 (vòng 1,[43] vòng 34[44])
- Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải Serbian SuperLiga: 2024–25[45]
Tham khảo
- ^ "2018 FIFA World Cup: List of players" (PDF). FIFA. ngày 21 tháng 6 năm 2018. tr. 27. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2018.
- ^ "Exclusive: Adem Ljajic Q&A". Manchester United FC. ngày 4 tháng 3 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2011.
- ^ "Manchester United end interest in Serbian Adem Ljajic". BBC Sport. ngày 2 tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2009.
- ^ a b "Partizan prodigy Ljajić joins Viola". UEFA. ngày 13 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.
- ^ a b Bản mẫu:Chú thích press release
- ^ a b "Adem Ljajic'in yeni adresi belli oldu". Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2023.
- ^ a b H.H. (ngày 7 tháng 8 năm 2025). "Adem Ljajić zvanično potpisao ugovor sa FK Sarajevo: "Jako sam sretan što sam dio ovog kluba"" (bằng tiếng Bosnia). Klix.ba. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2025.
- ^ "Yugoslavia (Serbia (and Montenegro)) - Record International Players". RSSSF. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2024.
- ^ "Adem Ljajić, international football player". EU-football.info. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2024.
- ^ "Od prodaje Ljajića, Jošanica dobila 31.945 eura" [From the sale of Ljajić, Jošanica got 31,945 euros]. Sandzak Live (bằng tiếng Serbia). SandžakLive.rs. ngày 24 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Trojica prekobrojnih, Ljajiću 22!" (bằng tiếng Serbia). B92. ngày 27 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2011.
- ^ "UEFA Champions League – Fixtures & Results". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008.
- ^ "Papers: Reds eye 'Little Kaka'?". ManUtd.com. Manchester United. ngày 15 tháng 10 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2019.
- ^ a b "Serbians to join United". ManUtd.com. Manchester United. ngày 2 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2011.
- ^ Hibbs, Ben (ngày 3 tháng 12 năm 2009). "Reds won't pursue Ljajic". ManUtd.com. Manchester United. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2011.
- ^ Nichols, Matt (ngày 4 tháng 12 năm 2009). "Ljajic decision explained". ManUtd.com. Manchester United. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2011.
- ^ a b Taylor, Daniel; Wilson, Jonathan (ngày 4 tháng 12 năm 2009). "Manchester United accused of causing 'psychological shock' to Adem Ljajic". guardian.co.uk. Guardian News and Media. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2009.
- ^ "Definito l'accordo per Ljajic". ViolaChannel (bằng tiếng Ý). ACF Fiorentina. ngày 13 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.
- ^ "Serie A / Cagliari – Fiorentina". ViolaChannel. ACF Fiorentina. ngày 31 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010.
- ^ makonda.com. "Blic Sport | Behrami: Rosi je slagao šta mu je Ljajić rekao". Blic Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2025.
- ^ "Fiorentina 4–1 Internazionale". ESPNFC. ngày 17 tháng 2 năm 2013.
- ^ OPERAZIONI DI MERCATO Lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2022 tại Wayback Machine 31 tháng 8 năm 2015 AS Roma
- ^ "Adem Ljajic joins Inter". inter.it. FC Internazionale Milano. ngày 31 tháng 8 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2015.
- ^ "Napoli 2-1 Inter Milan". BBC Sport. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015.
- ^ "Adem Ljajic joins Torino on permanent deal". Asroma.com. ngày 18 tháng 7 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
- ^ "Beşiktaş'a Hoş Geldin Adem Ljajic" (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Beşiktaş JK. ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018.
- ^ "UFFICIALE: Besiktas, il club turco ha riscattato Ljajic dal Torino" (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2019.
- ^ "NOVI PAZAR VS. NAPREDAK 2 - 1". Soccerway. ngày 17 tháng 9 năm 2023.
- ^ "Sportsday – Monday 28 May as it happened". BBC Sport. ngày 28 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2012.
- ^ "Mihajlović: Ljajić je znao pravila (Mihajlović: Ljajić knew the rules)". The Večernje novosti. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2013.
- ^ "Ljajić: Volim Srbiju, poštujem sebe" [Ljajić:I love Serbia, I respect myself] (bằng tiếng Serbia). The B92. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2013.
- ^ "DRULOVIĆ: Ja ću pevati himnu, igrači ne moraju!" [Drulović:I will sing the anthem, the players don't have to] (bằng tiếng Serbia). Telegraf. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2014.
- ^ "World Cup 2018: All the confirmed squads for this summer's finals in Russia". BBC Sport. ngày 4 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018.
- ^ Abraham, Timothy (ngày 17 tháng 6 năm 2018). "Costa Rica 0–1 Serbia". BBC Sport. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018.
- ^ Henry, Matthew (ngày 23 tháng 6 năm 2018). "Serbia 1–2 Switzerland". BBC Sport.
- ^ Das, Andrew (ngày 27 tháng 6 năm 2018). "World Cup: Brazil cruises into next round với easy victory". The New York Times. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018.
- ^ "Sportske.net - Adem Ljajić postaje košarkaš, ali stvarno!". Sportske.net (bằng tiếng Serbia). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2024.
- ^ "BOŽE PRAVDE: Adem Ljajić se moli Alahu pred utakmicu". Kurir.rs (bằng tiếng Serbia). ngày 14 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015.
- ^ "Serbia - A. Ljajić - Profile với news, career statistics and history". Soccerway. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
- ^ a b "Adem Ljajić". European Football. ngày 24 tháng 6 năm 2018.
- ^ "22 Adem Ljajic". inter.it. FC Internazionale Milano. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2015.
- ^ "Tim sezone 2023/24 Mozzart Bet Super lige Srbije" (bằng tiếng Serbia). Serbian SuperLiga. ngày 30 tháng 5 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2024.
- ^ "Najbolji igrač 1. kola Mozzart Bet Super lige Srbije – Adem Ljajić". www.superliga.rs. ngày 22 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2024.[liên kết hỏng]
- ^ "Najbolji igrač 34. kola Mozzart Bet Super lige Srbije – Adem Ljajić". www.superliga.rs. ngày 5 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2025.[liên kết hỏng]
- ^ "Najbolji igrač sezone 2024/25 Mozzart Bet Super lige Srbije – Adem Ljajić". superliga.rs. ngày 30 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2025.
Liên kết ngoài
- Adem Ljajić tại BDFutbolLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Bản mẫu:Reprezentacija
- Adem Ljajić – Thành tích thi đấu tại UEFALỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Adem Ljajić tại National-Football-Teams.comLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Adem Ljajić tại Soccerway
- Nguồn CS1 tiếng Bosnia (bs)
- Nguồn CS1 tiếng Serbia (sr)
- Nguồn CS1 tiếng Ý (it)
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Nguồn CS1 tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (tr)
- Bài có liên kết hỏng
- Trang có lỗi kịch bản
- Bài có mô tả ngắn
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Trang sử dụng infobox3cols có các tham số không có tài liệu
- Bài viết có văn bản tiếng Serbia
- Trang sử dụng bản mẫu Lang-xx
- Trang có IPA tiếng Serbia-Croatia
- Sinh năm 1991
- Nhân vật còn sống
- Cầu thủ bóng đá Novi Pazar
- Người Bosna gốc Serbia
- Tiền vệ bóng đá nam
- Tiền đạo bóng đá nam
- Cầu thủ bóng đá nam Serbia
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá trẻ nam quốc gia Serbia
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá U-21 nam quốc gia Serbia
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Serbia
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
- Cầu thủ bóng đá FK Partizan
- Cầu thủ bóng đá ACF Fiorentina
- Cầu thủ bóng đá AS Roma
- Cầu thủ bóng đá Inter Milan
- Cầu thủ bóng đá Torino FC
- Cầu thủ bóng đá Beşiktaş J.K.
- Cầu thủ bóng đá Fatih Karagümrük S.K.
- Cầu thủ bóng đá FK Novi Pazar
- Cầu thủ bóng đá FK Sarajevo
- Cầu thủ bóng đá Serbian SuperLiga
- Cầu thủ bóng đá Serie A
- Cầu thủ bóng đá Süper Lig
- Cầu thủ bóng đá Premier League of Bosnia and Herzegovina
- Cầu thủ bóng đá nam Serbia ở nước ngoài
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Ý
- Nhân vật thể thao Serbia ở nước ngoài tại Ý
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Thổ Nhĩ Kỳ
- Nhân vật thể thao Serbia ở nước ngoài tại Thổ Nhĩ Kỳ
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Bosna và Hercegovina
- Nhân vật thể thao Serbia ở nước ngoài tại Bosna và Hercegovina
- Tín hữu Hồi giáo Serbia