Ashley Young
Bản mẫu:Hatnote Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox3cols”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Wikidata hình ảnhLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”. Ashley Simon Young (sinh ngày 9 tháng 7 năm 1985) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Anh từng thi đấu ở vị trí tiền vệ cánh hoặc hậu vệ cánh. Young gia nhập đài Sky Sports với tư cách là bình luận viên khách mời cho Giải bóng đá Ngoại hạng Anh kể từ mùa giải 2025–26 khởi tranh.
Young bắt đầu sự nghiệp của mình với vị trí tiền vệ cánh tại Watford và có lần ra sân đầu tiên cho đội một vào năm 2003 dưới thời huấn luyện viên Ray Lewington. Anh trở thành cầu thủ thường xuyên có mặt trong đội hình chính ở mùa giải 2004–05 và là một trong những cầu thủ chủ chốt của Watford trong mùa giải mà họ thăng hạng chơi ở Premier League 2005–06. Tháng 1 năm 2007, anh chuyển đến Aston Villa với mức phí ban đầu là 8 triệu bảng Anh, nơi anh giành giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của PFA năm 2009. Tháng 6 năm 2011, Young ký hợp đồng với câu lạc bộ Manchester United với mức phí khoảng 17 triệu bảng Anh. Anh ấy đã giành được 5 danh hiệu tại United, bao gồm Premier League vào mùa giải 2013, FA Cup vào mùa giải 2016 và UEFA Europa League vào mùa giải 2017, và được bổ nhiệm làm đội trưởng của câu lạc bộ vào năm 2019.
Năm 2020, Young ký hợp đồng với câu lạc bộ Inter Milan và cùng với đội bóng này giành chức vô địch Serie A, anh trở thành cầu thủ người Anh thứ ba giành được danh hiệu vô địch giải đấu hàng đầu nước Ý. Anh trở lại câu lạc bộ cũ Aston Villa vào năm 2021, giúp họ cán đích ở vị trí thứ 7 trong mùa giải thứ hai anh thi đấu, và sau đó ký hợp đồng với câu lạc bộ Everton vào năm 2023. Năm 2025, anh ký hợp đồng một năm với câu lạc bộ Ipswich sau khi được Everton giải phóng hợp đồng.
Young đã có 39 lần khoác áo đội tuyển quốc gia Anh từ năm 2007 đến 2018 và ghi được 7 bàn thắng. Anh là thành viên của đội tuyển Anh tham dự UEFA Euro 2012 và FIFA World Cup 2018, và lọt vào bán kết vào năm 2018.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Watford
Young gia nhập học viện của Watford khi mới 10 tuổi. Anh phát triển ở đó cho đến mùa hè năm 2001, khi câu lạc bộ thông báo rằng anh sẽ không nhận được học bổng toàn phần và có thể tìm kiếm một đội bóng khác. Mặc dù bị từ chối, Young vẫn ở lại câu lạc bộ với tư cách cầu thủ kiêm làm bán thời gian và nỗ lực cải thiện bản thân cũng như chứng minh mình có thể lọt vào đội một. Anh bắt đầu tập luyện với đội U-18, dù mới 16 tuổi, và đã được đá chính vào cuối mùa giải. Anh tiếp tục thăng tiến lên đội U-21 và cuối cùng được câu lạc bộ đề nghị một bản hợp đồng chuyên nghiệp.[1][2] Cầu thủ 18 tuổi này đã có trận ra mắt đội một dưới thời Ray Lewington vào tháng 9 năm 2003, ghi bàn khi vào sân từ băng ghế dự bị trong trận đấu với Millwall.[3] Mùa giải đó, anh có 5 lần vào sân từ băng ghế dự bị, ghi được 3 bàn thắng và có trận đá chính đầu tiên cho câu lạc bộ tại EFL Cup. Young nổi lên trong mùa giải 2004–05, góp mặt trong 34 trận đấu của Watford tại giải vô địch quốc gia khi họ phải vật lộn để trụ lại ở EFL Championship. Mặc dù không ghi được bàn thắng nào, nhưng màn trình diễn của anh trong mùa giải này đã giúp anh giành được giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất mùa giải của câu lạc bộ.[4]
Dưới thời Aidy Boothroyd ở mùa giải 2005–06, Young đã được hồi sinh với vai trò tiền đạo và tiền vệ cánh phải. Young đá chính 41 trận ở giải VĐQG, ghi được 15 bàn thắng, bao gồm cả bàn thắng ở trận bán kết play-off gặp Crystal Palace, giúp Watford giành quyền tham dự vòng play-off của Football League Championship và cuối cùng đánh bại Leeds United 3–0 để thăng hạng lên với Premier League. Trong mùa giải đó, Young đã ghi một số bàn thắng ngoạn mục, bao gồm các cú sút phạt vào lưới Plymouth Argyle và Leeds, một cú sút vào góc cao khung thành từ khoảng cách 30 dặm vào lưới Coventry City, và một cú sút cong vào lưới Queens Park Rangers. Tuy nhiên, chính trong mùa giải này, Young đã bị đuổi khỏi sân lần đầu tiên trong sự nghiệp, trong trận derby địa phương trên sân khách gặp Luton Town.[5]
Young khởi đầu mùa giải Ngoại hạng Anh 2006–07 trong màu áo Watford khá tốt, ghi ba bàn thắng ở giải vô địch quốc gia, bao gồm một bàn thắng ở phút cuối trong trận hòa 3–3 với Fulham, hơn nữa, anh cũng là người ghi bàn thắng thứ hai cho Watford trong trận đấu đó, và cả một bàn thắng vào lưới Middlesbrough, trong chiến thắng đầu tiên của Watford trong mùa giải vào tháng mười. Anh cũng ghi một bàn thắng từ quả đá phạt trong chiến thắng 2–1 trên sân nhà trước Hull City tại khuôn khổ Cúp Liên đoàn.[6] Trong kỳ chuyển nhượng bắt đầu từ tháng 1 năm 2007, ba câu lạc bộ giấu tên đã đưa ra lời đề nghị 5 triệu bảng cho cầu thủ dưới 21 tuổi này.[7] Watford đã từ chối những lời đề nghị này, cũng như một lời đề nghị trị giá 7 triệu bảng, cũng từ một câu lạc bộ giấu tên này.[8] Một lời đề nghị được cải thiện trị giá gần 10 triệu bảng từ West Ham United đã được chấp nhận. Tuy nhiên, Young đã từ chối chuyển đến và chọn cách chờ đợi những lời đề nghị từ các câu lạc bộ nào mà việc xuống hạng không phải là vấn đề đáng lo ngại.[9]
Aston Villa
2007–2009

Vào ngày 23 tháng 1 năm 2007, Aston Villa hoàn tất việc ký hợp đồng với Young với mức phí 8 triệu bảng (có thể tăng lên 9,65 triệu bảng nếu có thêm các điều khoản phụ).[10] Vào thời điểm đó, đây là mức phí cao nhất mà Aston Villa từng trả cho một cầu thủ.[11] Vào ngày 31 tháng 1 năm 2007, anh ghi bàn trong trận ra mắt cho Villa tại sân St James' Park trong trận đấu với Newcastle United, nhưng Villa đã để thua với tỷ số 1–3 trong trận đấu đó.[12] Young khởi đầu mùa giải 2007–08 trong màu áo Aston Villa rất tốt, nhận được nhiều giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất trận, đỉnh điểm là việc được triệu tập vào đội tuyển Anh.[13]
Trong mùa giải 2007–08, Young đứng thứ hai sau Cesc Fàbregas về số pha kiến tạo với 17 pha kiến tạo.[14] Young được góp mặt trong Đội hình tiêu biểu của Ngoại hạng Anh mùa giải đó, và ngoài David James của Portsmouth, thì anh còn là cầu thủ duy nhất không đến từ bất kỳ đội bóng nào trong Big 4 (Chelsea, Arsenal, Liverpool và Manchester United) lọt vào đội hình tiêu biểu của mùa giải năm đó.[15]
Vào ngày 20 tháng 4 năm 2008, Young lập một cú đúp bàn thắng và một cú đúp kiến tạo cho Aston Villa trong trận đấu với Birmingham City ở tại sân Villa Park, và Villa đã giành chiến thắng với tỷ số 5–1.[16] Anh cũng ghi bàn thắng quyết định vào lưới câu lạc bộ đến từ Đan Mạch là Odense Boldklub trong trận lượt về vòng ba UEFA Intertoto Cup trên sân nhà của Villa. Vào ngày 10 tháng 10 năm 2008, Young giành giải Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của Preimer League. Điều này là nhờ màn trình diễn xuất sắc của anh trong mùa giải 2008–09. Sau khi cũng giành được giải thưởng này vào tháng 4 năm 2008, Young đã gia nhập danh sách những cầu thủ từng giành giải thưởng này nhiều hơn một lần, bao gồm Cristiano Ronaldo, Wayne Rooney và cả Steven Gerrard. Vào ngày 7 tháng 12 năm 2008, trong trận thắng 3–2 trước Everton, Young đã ghi hai bàn thắng, một trong số đó là bàn thắng quyết định ở phút bù giờ sau khi Joleon Lescott của Everton gỡ hòa chỉ vài giây trước đó. Young đã ký hợp đồng mới có thời hạn bốn năm đến năm 2012, anh ký hợp đồng vào ngày 4 tháng 11 năm 2008.[17]
Ngày 10 tháng 1 năm 2009, Young một lần nữa được trao giải Cầu thủ xuất sắc nhất tháng 12 của Premier League, cùng với O'Neill, người đã giành giải Huấn luyện viên xuất sắc nhất tháng. Anh trở thành cầu thủ đầu tiên giành được ba giải Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của Premier League trong cùng một năm.[18] Trong trận đấu với Sunderland vào ngày 18 tháng 1 năm 2009, Young bị đuổi khỏi sân vì phạm lỗi bằng cả hai chân với Dean Whitehead của Sunderland.[19] Vào ngày 26 tháng 4 năm 2009, anh giành được giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của PFA.[20]
2009–2011
Vào ngày 24 tháng 8 năm 2009, Young đã ghi bàn thắng quyết định bằng một quả penalty giúp Aston Villa giành chiến thắng 3–1 trước Liverpool ngay tại Anfield.[21] Tuy nhiên, ba ngày sau đó, anh lại đá hỏng một quả phạt đền trong trận đấu trên sân nhà tại khuôn khổ UEFA Europa League 2009–10 gặp Rapid Wien. Young được hưởng hai quả phạt đền trong hiệp một (một quả anh đá hỏng, quả còn lại được James Milner thực hiện thành công) khiến Aston Villa bị loại khỏi giải đấu theo luật bàn thắng sân khách.
Trong mùa giải 2010–11, Young trở thành đội phó của câu lạc bộ và chơi ở vị trí tự do mới phía sau tiền đạo, cho phép anh di chuyển từ cánh này sang cánh khác và xông vào trung lộ. Young ghi bàn thắng đầu tiên của mùa giải 2010–11 bằng một cú sút phạt trực tiếp trong trận đấu tại Ngoại hạng Anh trên sân nhà gặp Bolton Wanderers vào ngày 18 tháng 9 năm 2010. Anh kết thúc mùa giải với 9 bàn thắng và 14 pha kiến tạo trong 39 lần ra sân cho Villa trên mọi đấu trường. Với một năm còn lại trong hợp đồng hiện tại, Young tuyên bố rằng anh sẽ không đưa ra quyết định về tương lai của mình cho đến khi mùa giải kết thúc. Vào ngày 20 tháng 6 năm 2011, huấn luyện viên mới của Villa, Alex McLeish, thừa nhận rằng ông đã chấp nhận việc mất Young, nói rằng, "Chưa được xác nhận nhưng có vẻ như điều đó rất có khả năng xảy ra."[22]
Manchester United

2011–2014
Ngày 23 tháng 6 năm 2011, Young hoàn tất vụ chuyển nhượng đến Manchester United với mức phí không được tiết lộ, được cho là khoảng 17 triệu bảng Anh,[23] sau khi vượt qua cuộc kiểm tra y tế một ngày trước đó, đánh bại Liverpool trong cuộc đua giành chữ ký của cầu thủ này.[24] Anh ký hợp đồng 5 năm với câu lạc bộ.[25] Anh được trao chiếc áo số 18, số áo trước đây từng thuộc về Paul Scholes.[26] Anh có trận ra mắt cho United trong chiến thắng 3–2 trước Manchester City tại trận tranh Siêu cúp Anh 2011, thi đấu trọn 90 phút và có một pha kiến tạo.[27]
Anh có trận ra mắt ở giải vô địch quốc gia cho United trong trận gặp West Bromwich Albion vào ngày 14 tháng 8 năm 2011, kiến tạo bàn thắng đầu tiên cho Wayne Rooney và buộc đối phương phản lưới nhà sau pha đột phá bên cánh trái và tạt bóng, trong chiến thắng 2–1 trên sân khách.[28] Anh ghi hai bàn thắng đầu tiên cho United vào ngày 28 tháng 8 trong chiến thắng 8–2 trước Arsenal tại Old Trafford. Cả hai bàn thắng đều được ghi sau khi anh cắt vào từ cánh trái và tung hai cú sút bằng chân phải vào góc xa khung thành. Young có trận ra mắt tại UEFA Champions League vào ngày 27 tháng 9 năm 2011, ghi một bàn thắng bằng đầu ở phút thứ 90 giúp Manchester United gỡ hòa 3–3 với Basel. Sau chấn thương dài hạn, Young trở lại sân cỏ trong trận đấu tại sân vận động Stamford Bridge trong trận hòa 3–3 với Chelsea tại Ngoại hạng Anh vào ngày 5 tháng 2 năm 2012. Ngày 16 tháng 2, anh ghi bàn mở tỷ số trong chiến thắng 2–0 trên sân khách trước Ajax ở sân Amsterdam Arena tại khuôn khổ Europa League. Ngày 4 tháng 3 năm 2012, Young ghi hai bàn thắng và có một pha kiến tạo trong trận đấu với Tottenham Hotspur tại White Hart Lane và giành chiến thắng 3–1 trong trận đấu đó.[29] Ngày 2 tháng 4, anh ghi bàn trong chiến thắng 2–0 trước Blackburn Rovers tại Ewood Park.[30]
2014–2017

Sau khi chơi ở vị trí này trong giai đoạn tiền mùa giải, Young đá chính trong trận đấu chính thức đầu tiên của Louis van Gaal vào ngày 16 tháng 8 năm 2014 ở vị trí hậu vệ cánh trong sơ đồ 3–5–2, trận đấu mà United để thua Swansea City với tỷ số 1–2. Anh bị chấn thương gân kheo trong trận hòa 1–1 với Stoke City vào ngày 1 tháng 1 năm 2015.[31][32] Young trở lại vào ngày 3 tháng 2 trong trận thắng 3–0 trước Cambridge United, vào sân ở phút 81 thay cho Marcos Rojo.[33] Vào ngày 4 tháng 3, Young ghi bàn thắng đầu tiên của mùa giải trong chiến thắng 1–0 trước Newcastle United.[34] Vào ngày 12 tháng 4, anh được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trận sau khi ghi bàn gỡ hòa và có hai pha kiến tạo trong chiến thắng 4–2 trên sân nhà trước Manchester City.[35] Anh đóng vai trò then chốt trong chiến thắng 2–1 của United trước Crystal Palace vào ngày 9 tháng 5, kiếm được một quả phạt đền mà Juan Mata đã thực hiện thành công và kiến tạo cho cú đánh đầu của Marouane Fellaini, giúp anh một lần nữa được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trận.[36] Trong trận đấu tiếp theo vào ngày 17 tháng 5, Young đã kiến tạo cho cú vô lê của Ander Herrera vào lưới Arsenal, trận đấu kết thúc với tỷ số hòa 1–1.[37] Young đã trải qua một mùa giải chơi ở cả vị trí tiền vệ cánh và hậu vệ cánh dưới thời Van Gaal, vị trí mà huấn luyện viên cảm thấy đó là sở trường của anh ấy.[38]
Ngày 7 tháng 8 năm 2015, Young ký hợp đồng mới có thời hạn ba năm với Manchester United, giữ anh ở lại câu lạc bộ đến tháng 6 năm 2018, kèm theo điều khoản gia hạn thêm một năm.[39] Young chỉ đá chính một trận trong bảy trận đầu tiên của United tại Premier League, đó là trận mở màn vào ngày 8 tháng 8 năm 2015, trong trận thắng 1–0 trước Tottenham Hotspur.[40] Ngày 12 tháng 9, Young kiến tạo cho tân binh Anthony Martia ghi bàn thắng đầu tiên cho United trong chiến thắng 3–1 trước kình địch Liverpool.[41] Young trở lại đội hình xuất phát ở vị trí hậu vệ trái vào ngày 4 tháng 10 trong trận đấu với Arsenal, trận đấu kết thúc bằng thất bại 0–3 trên sân khách.[42] Anh đá chính ở vị trí hậu vệ phải trong trận đấu với West Brom vào ngày 7 tháng 11, trận đấu kết thúc với chiến thắng 2–0 cho United; đây là vị trí anh thường xuyên đảm nhiệm trong tháng 11, tháng 12 và tháng 1 do chấn thương của Antonio Valencia.[43]
Vào ngày 2 tháng 1 năm 2016, Young đã kiến tạo cho Anthony Martial thực hiện một đường chuyền vào vòng cấm để mở tỷ số trận đấu với Swansea City, giúp United giành chiến thắng 2–1.[44] Young dính chấn thương háng nghiêm trọng trong trận đấu với Liverpool vào ngày 17 tháng 1, khiến anh phải nghỉ thi đấu trong một vài tháng.[45] Anh trở lại vào ngày 10 tháng 4 trong trận đấu với Tottenham Hotspur, vào sân thay Marcus Rashford ở hiệp hai của trận đấu, đá luôn ở vị trí tiền đạo trong trận đấu mà United đã để thua với tỷ số 0–3.[46] Quyết định sử dụng Young ở vị trí tiền đạo đã khiến Van Gaal phải đối mặt với nhiều chỉ trích, tuy nhiên HLV người Hà Lan đã bảo vệ hành động của mình bằng cách giải thích rằng ông "muốn Young chạy chỗ nhiều hơn phía sau hàng phòng ngự đối phương".[47][48] Young ghi bàn thắng duy nhất của mùa giải vào ngày 17 tháng 5, ngày cuối cùng của mùa giải Premier League, trong chiến thắng 3–1 trước Bournemouth sau khi vào sân thay cho Anthony Martial.[49] Vào ngày 21 tháng 5, anh đã giành được danh hiệu Cúp FA sau khi đánh bại Crystal Palace 2–1 trong trận chung kết Cúp FA 2016 sau hiệp phụ, thi đấu ở cả vị trí tiền đạo và hậu vệ trái sau khi vào sân thay Marcus Rashford ở phút 72 - đánh dấu danh hiệu quốc nội thứ ba của anh với câu lạc bộ.[50]

Việc bổ nhiệm José Mourinho làm huấn luyện viên đã khiến thời gian thi đấu của Young bị hạn chế trong nửa đầu mùa giải. Lần ra sân đầu tiên của anh là vào ngày 15 tháng 9 năm 2016 tại khuôn khổ Europa League gặp Feyenoord, vào sân thay người ở phút 63 cho Juan Mata trong trận thua 0–1 của câu lạc bộ.[51] Trận đá chính đầu tiên của anh là gặp Northampton Town tại khuôn khổ EFL Cup vào ngày 21 tháng 9, Young chơi ở vị trí tiền vệ cánh trong chiến thắng 3–1.[52] Young vào sân từ băng ghế dự bị trong hai trận tiếp theo, trong chiến thắng 4–1 trong trận gặp Leicester City tại giải vô địch quốc gia vào ngày 24 tháng 9 và vào ngày 29 tháng 9 gặp Zorya Luhansk tại khuôn khổ Europa League và giành chiến thắng 1–0.[53][54] Từ tháng 10 đến tháng 1, Young chỉ có bốn lần ra sân, tất cả đều đá chính ở vị trí hậu vệ cánh hoặc hậu vệ biên. Mặc dù không có nhiều cơ hội ra sân, một trong số đó là trận đấu với đối thủ Liverpool vào ngày 17 tháng 10, trong trận hòa 0–0 tại sân Anfield.[55]
Lần ra sân chính thức tiếp theo của Young là trận gặp Blackburn Rovers tại khuôn khổ FA Cup vào ngày 19 tháng 2 năm 2017, anh chơi trọn 90 phút trong chiến thắng 2–1 trên sân khách.[56] Sau trận đấu này, Young bắt đầu được ra sân thường xuyên hơn, góp mặt rất nhiều trong tháng 3 và tháng 4. Anh là cầu thủ dự bị không được sử dụng trong trận Chung kết Cúp EFL 2017 gặp Southampton vào ngày 26 tháng 2, trận đấu mà United đã giành chiến thắng 3–2.[57] Young có pha kiến tạo đầu tiên của mùa giải vào ngày 19 tháng 3 trong trận gặp Middlesbrough, anh tạt bóng cho Marouane Fellaini, người đánh đầu ghi bàn mở tỷ số trong chiến thắng 3–1 của câu lạc bộ.[58] Vào ngày 16 tháng 4, Young lần đầu tiên đeo băng đội trưởng của Manchester United trong chiến thắng 2–0 trước Chelsea.[59] Mùa giải của anh kết thúc sau khi dính chấn thương trong trận gặp Celta de Vigo ở trận lượt đi bán kết Europa League vào ngày 4 tháng 5, sau khi vào sân thay Henrikh Mkhitaryan ở phút 78.[60]
2017–2020

Lần đầu tiên Young đá chính trong mùa giải là ở vị trí hậu vệ phải vào ngày 12 tháng 9 năm 2017 trong trận thắng 3–0 trước Basel tại Champions League, anh kiến tạo bàn thắng mở tỷ số bằng một đường chuyền cho Marouane Fellaini ở phút thứ 35, và anh cũng là đội trưởng trong trận đấu đó.[61] Màn trình diễn đó đã giúp anh được đá chính ở vị trí hậu vệ trái trong chiến thắng 4–0 của United trước Everton vào ngày 17 tháng 9.[62] Vào ngày 28 tháng 11, Young lập cú đúp lần đầu tiên kể từ tháng 3 năm 2012 trong trận đấu với câu lạc bộ cũ Watford. Hai bàn thắng mở tỷ số, một trong số đó là cú sút phạt từ khoảng cách 30 yard vào góc trên bên trái khung thành, trong chiến thắng 4–2 trên sân Vicarage Road.[63]
Tháng 2 năm 2019, Young đã ký hợp đồng mới với Manchester United đến năm 2020.[64] Anh được bổ nhiệm làm đội trưởng của câu lạc bộ vào tháng 8 năm 2019.[65]
Young ghi bàn thắng cuối cùng trong màu áo Manchester United vào ngày 12 tháng 12 năm 2019, mở tỷ số trong chiến thắng 4–0 trước AZ tại vòng bảng UEFA Europa League 2019–20.[66]
Inter Milan
Young ký hợp đồng với câu lạc bộ Inter Milan tại Serie A của nước Ý vào ngày 17 tháng 1 năm 2020 cho đến hết mùa giải 2019–20, khoác áo số 15 thay cho Kwadwo Asamoah, số áo mà anh từng mặc ở Manchester United. Hợp đồng của anh cũng bao gồm điều khoản gia hạn thêm một mùa giải nữa.[67] Phí chuyển nhượng được cho là rơi vào khoảng 1,5 triệu euro (1,28 triệu bảng Anh).[68] Anh trở thành một trong ba cầu thủ từng thi đấu tại Ngoại hạng Anh ký hợp đồng với Inter Milan trong cùng kỳ chuyển nhượng, sau Victor Moses và Christian Eriksen.[69] Trong trận đấu đầu tiên cho câu lạc bộ, Young đã kiến tạo cho Lautaro Martínez ghi bàn trong trận hòa 1–1 trước Cagliari.[70] Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong trận thua 1–2 trước Lazio vào ngày 16 tháng 2.[71]
Inter đã vô địch Serie A 2020–21. Young trở thành người Anh thứ ba giành được chức vô địch giải vô địch quốc gia ở Ý, người đầu tiên là Jimmy Greaves vào mùa giải 1961–62 và Gerry Hitchens vào mùa giải 1962–63, cũng trong màu áo Nerazzurri.[72]
Trở lại Aston Villa
Vào ngày 17 tháng 6 năm 2021, Young đã ký hợp đồng một năm với Aston Villa để trở lại câu lạc bộ theo dạng chuyển nhượng tự do lần thứ hai.[73] Anh chính thức gia nhập Villa vào ngày 1 tháng 7, khi hợp đồng với Inter hết hạn.[74] Khi đến Aston Villa, anh được trao chiếc áo số 18 mà anh đã mặc khi còn ở Manchester United, thay vì số 7 mà anh đã mặc trong lần đầu tiên khoác áo câu lạc bộ. Young có trận ra mắt thứ hai cho Villa vào ngày 14 tháng 8 trong trận thua 2–3 trước câu lạc bộ cũ Watford.[75]
Vào ngày 10 tháng 6 năm 2022, Young đã bị Villa chấm dứt hợp đồng.[76] Anh trở thành cầu thủ tự do vào ngày 1 tháng 7, nhưng đến ngày 4 tháng 7, câu lạc bộ xác nhận Young đã ký hợp đồng gia hạn thêm một mùa giải nữa đến năm 2023.[77] Vào ngày 27 tháng 7, Young được bổ nhiệm làm đội trưởng câu lạc bộ cho mùa giải sắp tới, còn John McGinn được chỉ định làm đội phó.[78] Vào ngày 10 tháng 10, anh ghi bàn từ khoảng cách 25 yard vào lưới Nottingham Forest trong trận hòa 1–1 trên sân khách tại Ngoại hạng Anh. Đó là bàn thắng đầu tiên của anh trong lần thứ hai khoác áo Villa, bàn thắng trước đó của anh cho The Villans là vào năm 2011.[79]
Vào ngày 31 tháng 5 năm 2023, Villa thông báo rằng hợp đồng của Young sẽ không được gia hạn, và anh rời câu lạc bộ vào ngày 30 tháng 6.[80]
Everton
Vào ngày 13 tháng 7 năm 2023, Everton thông báo ký hợp đồng với Young theo dạng chuyển nhượng tự do với thời hạn một năm kèm điều khoản gia hạn thêm 12 tháng, trong màu áo câu lạc bộ, anh tiếp tục mặc áo số 18.[81] Vào ngày 12 tháng 8 năm 2023, anh có trận ra mắt chính thức cho câu lạc bộ, thi đấu trọn vẹn 90 phút trong trận thua 0–1 trước Fulham tại khuôn khổ Ngoại hạng Anh.[82]
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, câu lạc bộ thông báo đã đề nghị Young một hợp đồng mới có thời hạn một năm.[83] Vào ngày 4 tháng 12 năm 2024, Young trở thành cầu thủ ghi bàn lớn tuổi nhất của Everton ở tuổi 39 năm và 5 tháng bằng một cú sút phạt trực tiếp từ khoảng cách 20 yard trong chiến thắng 4–0 trước Wolverhampton Wanderers.[84] Bàn thắng này cũng giúp anh trở thành cầu thủ ghi bàn lớn tuổi thứ tư trong lịch sử Ngoại hạng Anh, chỉ sau Thiago Silva, Dean Windass, và Teddy Sheringham.[85] Vào tháng 5 năm 2025, câu lạc bộ thông báo rằng Young sẽ rời đi vào cuối mùa giải 2024–25 khi hợp đồng của anh hết hạn.[86]
Ipswich Town
Vào ngày 23 tháng 7 năm 2025, Young đã ký hợp đồng có thời hạn một năm với Ipswich Town, trở lại Championship lần đầu tiên sau hơn hai thập kỷ vắng mặt.[87] Vào ngày 8 tháng 8, anh có trận ra mắt cho câu lạc bộ, vào sân từ băng ghế dự bị trong trận hòa 1–1 với Birmingham City tại giải hạng nhất.[88] Vào ngày 30 tháng 4 năm 2026, Young tuyên bố sẽ giải nghệ vào cuối mùa giải, sau khi có 15 lần ra sân trên mọi đấu trường cho câu lạc bộ.[89]
Sự nghiệp quốc tế
Đội U-21
Nhờ phong độ ấn tượng tại Watford trong mùa giải 2005–06, vào tháng 2 năm 2006, Young được triệu tập vào đội tuyển U-21 Anh của Peter Taylor để đối đầu với một đội tuyển Ý thi đấu ở Serie B cùng với đồng đội Chris Eagles. Young sát cánh cùng Eagles trong trận thắng 1–0, chơi trọn vẹn 45 phút hiệp một. Phong độ ấn tượng tiếp tục giúp anh bước vào mùa giải 2006–07 đã mang về cho anh lần đầu tiên được triệu tập vào đội hình của U-21 Anh để đối đầu với U-21 Thụy Sĩ vào tháng 9 năm 2006. Young đã chơi 15 phút cuối trận đấu khi Anh ghi bàn thắng muộn để giành chiến thắng 3–2, đứng đầu bảng và tiến vào vòng play-off tranh suất tham dự Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu 2007. Tại vòng chung kết, Young đã ra sân ba lần. Anh tham gia vào loạt sút luân lưu ở vòng bán kết gặp đội chủ nhà Hà Lan, ghi hai bàn trong loạt sút luân lưu nhưng Anh vẫn để thua với tỷ số sít sao 12–13. Từ năm 2006 đến 2007, anh có 10 lần ra sân cho đội tuyển U-21.[90]
Đội tuyển quốc gia
Giai đoạn đầu sự nghiệp
Vào ngày 31 tháng 8 năm 2007, Steve McClaren lần đầu tiên triệu tập Young vào đội tuyển Anh để đối đầu với Nga và Israel tại vòng loại UEFA Euro 2008.[13] Anh tiếp tục được triệu tập cho khuôn khổ vòng loại Euro 2008 để đối đầu với Estonia và Nga. Ngày 16 tháng 11 năm 2007, Young có trận ra mắt quốc tế, vào sân từ băng ghế dự bị trong hiệp hai cho đội tuyển Anh trong trận giao hữu với Áo.[91] Sau đó, anh ra sân trong trận giao hữu của đội tuyển Anh với Đức vào tháng 11 năm 2008, vào sân từ băng ghế dự bị trong hiệp hai. Anh cũng nằm trong đội hình xuất phát của Fabio Capello trong trận giao hữu với đội tuyển Anh tại Amsterdam Arena vào ngày 12 tháng 8 năm 2009. Vào hè năm 2010, Young không có tên trong danh sách 30 cầu thủ của Capello tham dự FIFA World Cup 2010 tổ chức tại Nam Phi.[92]
UEFA Euro 2012
Vào ngày 12 tháng 10 năm 2010, Young có trận đá chính đầu tiên cho đội tuyển Anh trong một trận đấu thuộc khuôn khổ vòng loại UEFA Euro 2012 gặp Montenegro.[93] Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển quốc gia trong một trận giao hữu trên sân khách gặp Đan Mạch vào ngày 9 tháng 2 năm 2011 tại Copenhagen, đó cũng là bàn thắng ấn định tỷ số trận đấu đó.[94] Young cũng ghi bàn thắng thứ hai vào lưới Thụy Sĩ vào ngày 4 tháng 6 năm 2011, khi anh ghi bàn gỡ hòa bằng một cú vô lê từ rìa vòng cấm, sau khi vào sân thay cho Frank Lampard ở hiệp hai của trận đấu.[95] Vào ngày 6 tháng 9 năm 2011, Young ghi bàn thắng duy nhất cho đội tuyển Anh trong chiến thắng 1-0 trước Wales ở khuôn khổ vòng loại UEFA Euro 2012.[96] Vào ngày 7 tháng 10 năm 2011, anh ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Anh trên sân khách trước Montenegro, và kiến tạo cho Darren Bent ghi bàn thắng thứ hai.[97] Trận đấu mà đội tuyển Anh đã để hòa với tỷ số 2–2 để giành vé tham dự UEFA Euro 2012.[97] Vào ngày 29 tháng 2 năm 2012, Young ghi bàn thắng thứ năm trong trận thua 2–3 trên sân nhà trước Hà Lan trong một trận giao hữu diễn ra tại sân vận động Wembley.[98]
Vào ngày 26 tháng 5 năm 2012, Young ghi bàn thắng thứ sáu, cũng như bàn thắng thứ tư liên tiếp của anh cho đội tuyển Anh trong trận đấu giao hữu để chuẩn bị cho UEFA Euro 2012 gặp Na Uy.[99] Anh trở thành cầu thủ bóng đá người Anh đầu tiên kể từ Wayne Rooney ghi bàn trong bốn trận đấu liên tiếp cho Tam sư. Trong trận đấu tiếp theo của đội tuyển Anh gặp đội tuyển Bỉ, anh đã kiến tạo cho bàn thắng mở tỷ số của đội tuyển Anh. Young đã thi đấu trong cả bốn trận đấu của đội tuyển Anh tại UEFA Euro 2012, kết thúc bằng trận thua ở tứ kết trước đội tuyển Ý trên chấm phạt đền; Young là một trong hai cầu thủ Anh đá hỏng quả phạt đền khi Ý thắng 4–2 để vào bán kết gặp Đức. Anh và cầu thủ đá hỏng còn lại, Ashley Cole, đã phải đối mặt với những lời lẽ phân biệt chủng tộc trên mạng vì pha đá hỏng này, vụ việc này cũng đã được cảnh sát điều tra.[100]
FIFA World Cup 2018

Sau gần bốn năm không được triệu tập vào đội tuyển quốc gia, Young đã được huấn luyện viên Gareth Southgate triệu tập trở lại cho các trận giao hữu sắp tới với Đức và Brasil vào ngày 2 tháng 11 năm 2017.[101] Anh đã ra sân trong trận đấu với đội tuyển Brasil vào ngày 14 tháng 11, vào sân thay cho Ryan Bertrand ở phút thứ 80, và trận đấu kết thúc với tỷ số hòa 0–0.[102]
Young đã được HLV Southgate điền tên vào đội hình 23 người tham dự FIFA World Cup 2018.[103] Anh là hậu vệ trái số một của đội tuyển Anh tại World Cup 2018 ở Nga, thi đấu trọn vẹn 90 phút ở cả hai trận đầu tiên vòng bảng gặp Tunisia và Panamá.[104][105] Sau khi giành chiến thắng cả hai trận, Young được cho nghỉ ở trận đấu cuối cùng gặp Bỉ,[106] trước khi trở lại thi đấu ở vòng 16 gặp đội nhất bảng H là Colombia. Trận đấu đó phải bước vào hiệp phụ, nhưng Young được thay thế bởi Danny Rose khoảng 12 phút sau khi hiệp phụ bắt đầu và không tham gia vào loạt sút luân lưu sau khi trận đấu kết thúc với tỷ số hòa 1–1 sau 120 phút.[107] Anh thắng 4–3 trên chấm phạt đền và tiến vào tứ kết gặp Thụy Điển, nơi Young một lần nữa thi đấu trọn 90 phút khi đội tuyển Anh giành chiến thắng với tỷ số 2–0, và Young kiến tạo cho bàn thắng mở tỷ số của Harry Maguire từ một quả phạt góc.[108] Ở vòng bán kết gặp Croatia, Young lại đá chính, nhưng lại được thay thế bởi Rose khi hiệp phụ của trận đấu bắt đầu, khi tỷ số là 1–1 sau 90 phút.[109] Cuối cùng, đội tuyển Anh đã thua với tỷ số 1–2 sau khi hiệp phụ kết thúc, và Young cũng không thi đấu trận tranh hạng ba với Bỉ.[110]
Phong cách chơi bóng
Young đã chơi ở nhiều vị trí khác nhau: mặc dù phần lớn sự nghiệp của anh chủ yếu là tiền vệ cánh,[7] anh cũng từng có thời gian thi đấu ở vị trí tiền đạo – dưới thời Aidy Boothroyd tại Watford và một lần dưới thời Louis Van Gaal tại Manchester United,[47][48] cũng như chơi tự do phía sau tiền đạo cho Aston Villa.
Trong những năm cuối sự nghiệp tại United, Young được tái định hình thành một hậu vệ, được bố trí chơi ở vị trí hậu vệ cánh trái hoặc tiền vệ cánh. Martin Laurence của "WhoScored" đã nhận định vào năm 2018 rằng "Luke Shaw không thể ghi bàn tại Manchester United và điều đó phần lớn là nhờ phong độ xuất sắc của Ashley Young, người đã thích nghi với vai trò mới một cách tuyệt vời. Young hiện đang chứng tỏ mình là một hậu vệ năng nổ và thông minh, đồng thời vẫn tạo ra mối đe dọa khi tấn công bằng những đường chuyền vào vòng cấm. Với phong độ hiện tại, cầu thủ 32 tuổi này không chỉ nên được triệu tập mà còn nên được xem là lựa chọn số một của đội tuyển Anh."[111]
Young đã vướng vào nhiều tranh cãi, bị báo chí cáo buộc là rất hay có những pha ăn vạ và bị các huấn luyện viên Sir Alex Ferguson và David Moyes chất vấn về việc ăn vạ để giành lợi thế là không công bằng.[112][113]
Đời tư
Young sinh ra ở Stevenage, Hertfordshire.[114] Anh có một người anh trai[115] và hai người em trai cũng chơi bóng đá, Lewis Young, người đã ra mắt cho câu lạc bộ Watford vào năm 2008,[116] và Kyle, người vào tháng 4 năm 2009 đang tập luyện tại Học viện Arsenal.[117] Young theo học tại trường Saint John Henry Newman Catholic ở Stevenage và anh học cùng trường với tay đua Công thức 1 Lewis Hamilton, người học cùng khối với anh.[115]Cha của Young sinh ra ở Jamaica[118] và là fan hâm mộ của câu lạc bộ Tottenham Hotspur, trong khi bản thân Young, giống như anh trai mình, lại hâm mộ Arsenal. Anh hùng và "hình mẫu trong và ngoài sân cỏ" của anh là tiền bối Ian Wright.[115] Young đã kết hôn với Nicky Pike từ tháng 6 năm 2015. Họ đã lên kế hoạch đám cưới vào năm 2011 nhưng đã hủy bỏ hai ngày trước đó.[119] Con trai anh, Tyler Young, cũng là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp.[120]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải đấu | Cúp quốc giaBản mẫu:Efn | Cúp liên đoànBản mẫu:Efn | Châu Âu | Khác | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Watford | 2003–04[121] | First Division | 5 | 3 | 0 | 0 | 1 | 0 | — | — | 6 | 3 | ||
| 2004–05[122] | Championship | 34 | 0 | 0 | 0 | 4 | 0 | — | — | 38 | 0 | |||
| 2005–06[123] | 39 | 13 | 0 | 0 | 1 | 1 | — | 3Bản mẫu:Efn | 1 | 43 | 15 | |||
| 2006–07[124] | Premier League | 20 | 3 | 1 | 0 | 2 | 1 | — | — | 23 | 4 | |||
| Tổng cộng | 98 | 19 | 1 | 0 | 8 | 2 | — | 3 | 1 | 110 | 22 | |||
| Aston Villa | 2006–07[124] | Premier League | 13 | 2 | — | — | — | — | 13 | 2 | ||||
| 2007–08[125] | 37 | 9 | 1 | 0 | 1 | 0 | — | — | 39 | 9 | ||||
| 2008–09[126] | 36 | 7 | 3 | 0 | 1 | 0 | 8Bản mẫu:Efn | 2 | — | 48 | 9 | |||
| 2009–10[127] | 37 | 5 | 6 | 2 | 5 | 2 | 2Bản mẫu:Efn | 0 | — | 50 | 9 | |||
| 2010–11[128] | 34 | 7 | 2 | 0 | 3 | 2 | 1Bản mẫu:Efn | 0 | — | 40 | 9 | |||
| Tổng cộng | 157 | 30 | 12 | 2 | 10 | 4 | 11 | 2 | — | 190 | 38 | |||
| Manchester United | 2011–12[129] | Premier League | 25 | 6 | 0 | 0 | 0 | 0 | 7Bản mẫu:Efn | 2 | 1Bản mẫu:Efn | 0 | 33 | 8 |
| 2012–13[130] | 19 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 2Bản mẫu:Efn | 0 | — | 23 | 0 | |||
| 2013–14[131] | 20 | 2 | 0 | 0 | 2 | 1 | 8Bản mẫu:Efn | 0 | 0 | 0 | 30 | 3 | ||
| 2014–15[132] | 26 | 2 | 3 | 0 | 0 | 0 | — | — | 29 | 2 | ||||
| 2015–16[133] | 18 | 1 | 1 | 0 | 2 | 0 | 5Bản mẫu:Efn | 0 | — | 26 | 1 | |||
| 2016–17[134] | 12 | 0 | 3 | 0 | 1 | 0 | 7Bản mẫu:Efn | 0 | 0 | 0 | 23 | 0 | ||
| 2017–18[135] | 30 | 2 | 4 | 0 | 0 | 0 | 4Bản mẫu:Efn | 0 | 0 | 0 | 38 | 2 | ||
| 2018–19[136] | 30 | 2 | 3 | 0 | 1 | 0 | 7Bản mẫu:Efn | 0 | — | 41 | 2 | |||
| 2019–20[137] | 12 | 0 | 1 | 0 | 2 | 0 | 3Bản mẫu:Efn | 1 | — | 18 | 1 | |||
| Tổng cộng | 192 | 15 | 17 | 0 | 8 | 1 | 43 | 3 | 1 | 0 | 261 | 19 | ||
| Inter Milan | 2019–20[137] | Serie A | 18 | 4 | 2 | 0 | — | 5Bản mẫu:Efn | 0 | — | 25 | 4 | ||
| 2020–21[138] | 26 | 1 | 3 | 0 | — | 5Bản mẫu:Efn | 0 | — | 34 | 1 | ||||
| Tổng cộng | 44 | 5 | 5 | 0 | — | 10 | 0 | — | 59 | 5 | ||||
| Aston Villa | 2021–22[139] | Premier League | 24 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | — | — | 25 | 0 | ||
| 2022–23[140] | 29 | 1 | 1 | 0 | 2 | 0 | — | — | 32 | 1 | ||||
| Tổng cộng | 53 | 1 | 1 | 0 | 3 | 0 | — | — | 57 | 1 | ||||
| Everton | 2023–24[141] | Premier League | 31 | 0 | 0 | 0 | 3 | 1 | — | — | 34 | 1 | ||
| 2024–25[142] | 32 | 1 | 2 | 0 | 2 | 0 | — | — | 36 | 1 | ||||
| Tổng cộng | 63 | 1 | 2 | 0 | 5 | 1 | — | — | 70 | 2 | ||||
| Ipswich Town | 2025–26[143] | Championship | 13 | 0 | 1 | 0 | 1 | 0 | — | — | 15 | 0 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 620 | 71 | 39 | 2 | 35 | 8 | 64 | 5 | 4 | 1 | 763 | 87 | ||
Quốc tế
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Anh | 2007 | 1 | 0 |
| 2008 | 3 | 0 | |
| 2009 | 3 | 0 | |
| 2010 | 4 | 0 | |
| 2011 | 7 | 4 | |
| 2012 | 9 | 2 | |
| 2013 | 3 | 1 | |
| 2014 | 0 | 0 | |
| 2015 | 0 | 0 | |
| 2016 | 0 | 0 | |
| 2017 | 1 | 0 | |
| 2018 | 8 | 0 | |
| Tổng cộng | 39 | 7 | |
- Bàn thắng của Anh được liệt kê đầu tiên, cột điểm số cho biết tỉ số sau mỗi bàn thắng của Young.
| No. | Ngày | Địa điểm | Trận | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu | |||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 9 tháng 2 năm 2011 | Sân vận động Parken, Copenhagen, Đan Mạch | 12 | {{ Bản mẫu:Yesno | alias = Đan Mạch | flag alias = Flag of Denmark.svg | flag alias-state = Flag of Denmark (state).svg | border-state = | flag alias-naval = Naval Ensign of Denmark.svg | link alias-naval = Royal Danish Navy | link alias-army = Quân đội Hoàng gia Đan Mạch | flag alias-army = Flag of Denmark (state).svg | link alias-air force = Không quân Hoàng gia Đan mạch | flag alias-air force = Flag of Denmark (state).svg | flag alias-navy = Naval Ensign of Denmark.svg | link alias-navy = Hải quân Hoàng gia Đan Mạch | border-army = | border-air force = | border-naval = | border-navy = | size = | name = | altlink = Đội tuyển bóng đá quốc gia | altvar = football | variant =
}}||align=center|2–1||align=center|2–1||Giao hữu | |||||||||
| 2 | 4 tháng 6 năm 2011 | Sân vận động Wembley, Luân Đôn, Anh | 15 | {{ Bản mẫu:Yesno | alias = Thụy Sĩ | flag alias = Flag of Switzerland (Pantone).svg | flag alias-civil = Civil Ensign of Switzerland (Pantone).svg | flag alias-esc = Civil Ensign of Switzerland (Pantone).svg | flag alias-football = Civil Ensign of Switzerland (Pantone).svg | link alias-anthem = Thánh ca Thụy Sĩ | size = | name = | variant = | altlink = Đội tuyển bóng đá quốc gia | altvar = football
}}||align=center|2–2||align=center|2–2||rowspan=3|Vòng loại UEFA Euro 2012 | |||||||||||||||||||
| 3 | 6 tháng 9 năm 2011 | 17 | {{ Bản mẫu:Yesno | alias = Wales | flag alias = Flag of Wales.svg | flag alias-1807 = Flag of Wales (1807–1953).svg | flag alias-1953 = Flag of Wales (1953–1959).svg | size = | name = | variant = | altlink = Đội tuyển bóng đá quốc gia | altvar = football
}}||align=center|1–0||align=center|1–0 | ||||||||||||||||||||||
| 4 | 7 tháng 10 năm 2011 | Sân vận động Thành phố Podgorica, Podgorica, Montenegro | 18 | {{ Bản mẫu:Yesno | alias = Montenegro | flag alias = Flag of Montenegro.svg | flag alias-1993 = Flag of Montenegro (1993-2004).svg | flag alias-navy = Flag of the Navy of Montenegro.svg | link alias-navy = Hải quân Montenegro | link alias-army = Lục quân Montenegro | link alias-air force = Không quân Montenegro | size = | name = | altlink = Đội tuyển bóng đá quốc gia | variant =
}}||align=center|1–0||align=center|2–2 | |||||||||||||||||||
| 5 | 29 tháng 2 năm 2012 | Sân vận động Wembley, Luân Đôn, Anh | 19 | {{ Bản mẫu:Yesno | alias = Hà Lan | flag alias = Flag of the Netherlands.svg | flag alias-prinsengeus = Naval Jack of the Netherlands.svg | flag alias-army = Flag of the Royal Netherlands Army.svg | link alias-army= Quân đội Hoàng gia Hà Lan | flag alias-air force = Flag of the Royal Netherlands Air and Space Force.svg | link alias-air force = Không quân Hoàng gia Hà Lan | flag alias-navy = Naval Jack of the Netherlands.svg | link alias-navy = Hải quân Hoàng gia Hà Lan | size = | name = | altlink = Đội tuyển bóng đá quốc gia | variant =
}}||align=center|2–2||align=center|2–3||rowspan=2|Giao hữu | |||||||||||||||||
| 6 | 26 tháng 5 năm 2012 | Sân vận động Ullevaal, Oslo, Na Uy | 20 | {{safesubst: Bản mẫu:Yesno | alias = Na Uy | flag alias = Flag of Norway.svg | flag alias-old kingdom = Royal Standard of Norway.svg | flag alias-1814 = Flag of Norway (1814–1821).svg | flag alias-1818 = Swedish and Norwegian merchant flag 1818-1844.svg | flag alias-1844 = Norge-Unionsflagg-1844.svg | flag alias-state = Flag of Norway, state.svg | border-state = | flag alias-army = Flag of the Norwegian Army.svg | border-army = | link alias-army = Quân đội Na Uy | flag alias-war = Flag of Norway, state.svg | link alias-war = Lực lượng Vũ trang Na Uy | border-war = | flag alias-naval = Naval Jack of Norway.svg | border-naval = | link alias-naval = Hải quân Hoàng gia Na Uy | flag alias-air force = Royal Norwegian Air Force Flag.svg | border-air force = | link alias-air force = Không quân Hoàng gia Na Uy | flag alias-navy = Flag of Norway, state.svg | border-navy = | link alias-navy = Hải quân Hoàng gia Na Uy | flag alias-coast guard = Norwegian Coast Guard Racing Stripe.svg | link alias-coast guard = Lực lượng bảo vệ bờ biển Na Uy | border-coast guard = | size = | name = | altlink = Đội tuyển bóng đá quốc gia | variant =
}}||align=center|1–0||align=center|1–0 |
| 7 | 22 tháng 3 năm 2013 | Sân vận động San Marino, Serravalle, San Marino | 28 | {{ Bản mẫu:Yesno | alias = San Marino | flag alias = Flag of San Marino.svg | flag alias-1465 = Old Flag of San Marino.svg | flag alias-1862 = Flag of San Marino (before 2011).svg | size = | name = | altlink = Đội tuyển bóng đá quốc gia | variant =
}}||align=center|4–0||align=center|8–0||Vòng loại FIFA World Cup 2014 |
Danh hiệu
Watford
Aston Villa
- Football League Cup á quân: 2009–10[145]
Manchester United
- Premier League: 2012–13[146]
- FA Cup: 2015–16[50] á quân: 2017–18[147]
- EFL Cup: 2016–17[57]
- FA Community Shield: 2011[27]
- UEFA Europa League: 2016–17[148]
Inter Milan
Cá nhân
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất mùa giải của Watford: 2004–05[4]
- PFA Team of the Year: Championship 2005–06,[151] Premier League 2007–08,[15] Premier League 2008–09[20]
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của PFA: 2008–09[20]
- Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của Premier League: Tháng 4 năm 2008, Tháng 9 năm 2008, Tháng 12 năm 2008[146]
Tham khảo
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Aston Villa 5-1 Birmingham City, Aston Villa FC
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Liverpool 1-3 Aston Villa (2009-2010)
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.Bản mẫu:Cbignore
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ "Tottenham 1–3 Manchester United". BBC Sport. 4 March 2012. Retrieved 2 April 2012.
- ^ "Blackburn 0–2 Manchester United". BBC Sport. 2 April 2012. Retrieved 2 April 2012.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ a ă Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ a ă Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Bản mẫu:Soccerbase season
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”. - ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
Liên kết ngoài
- Ashley Young tại website của Everton F.C.
- Ashley Young tại website của Hiệp hội bóng đá Anh
- Bản mẫu:Trim/index.html Bản mẫu:PAGENAMEBASE – Thành tích thi đấu FIFABản mẫu:EditAtWikidata
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “String”./profile/index.html Bản mẫu:PAGENAMEBASE – Thành tích thi đấu tại UEFABản mẫu:EditAtWikidata
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “navbox”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “navbox”. Bản mẫu:Portal bar Bản mẫu:Authority control
- Trang có lỗi kịch bản
- Trang có lỗi bảng kiểu bản mẫu
- Sinh năm 1985
- Nhân vật còn sống
- Cầu thủ bóng đá nam Anh
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Anh
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá U-21 quốc gia Anh
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá trẻ quốc gia Anh
- Tiền vệ bóng đá nam
- Hậu vệ bóng đá nam
- Cầu thủ bóng đá Watford F.C.
- Cầu thủ bóng đá Aston Villa F.C.
- Cầu thủ bóng đá Manchester United F.C.
- Cầu thủ bóng đá Inter Milan
- Cầu thủ bóng đá Everton F.C.
- Cầu thủ bóng đá Ipswich Town F.C.
- Cầu thủ bóng đá English Football League
- Cầu thủ bóng đá Premier League
- Cầu thủ bóng đá Serie A
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
- Cầu thủ bóng đá Anh ở nước ngoài
- Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Ý
- Cầu thủ vô địch UEFA Europa League