Câu lạc bộ bóng đá Alashkert (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), thường được gọi là Alashkert, là một câu lạc bộ bóng đá Armenia có trụ sở tại thủ đô Yerevan, được thành lập vào năm 1990 tại Martuni và sau khi giải thể vào năm 2000, được tái lập vào năm 2011. Họ hiện thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia. Sân nhà của đội là Sân vận động AlashkertYerevan. Trụ sở câu lạc bộ nằm tại đường Saryan 25, Yerevan.[1] Mặc dù có trụ sở tại Yerevan, tên của câu lạc bộ thực tế được đặt theo thị trấn lịch sử Alashkert ở Tây Armenia, nay là Eleşkirt.

Alashkert
Tập tin:Logo of FC Alashkert.png
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Alashkert
Biệt danhԴեղինները (Những người áo vàng)
Thành lập1990; 36 năm trước (1990)
SânSân vận động Alashkert
Sức chứa6.850
Chủ sở hữuBagrat Navoyan & Anton Zingarevich
Người quản lýVahe Gevorgyan
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Armenia
2025–26thứ 4 trên 10
Websitefcalashkert.com
Mùa giải hiện nay

Alashkert đã bốn lần giành chức vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia và một lần giành Cúp bóng đá Armenia. Câu lạc bộ cũng ba lần giành Siêu cúp bóng đá Armenia.

Câu lạc bộ thuộc sở hữu của Bagrat Navoyan, doanh nhân và là người sáng lập Bagretour LLC, đồng thời có thỏa thuận hợp tác với câu lạc bộ Brasil Botafogo kể từ tháng 8 năm 2017.[2]

Năm 2021, Alashkert giành quyền tham dự UEFA Europa Conference League 2021–22, trở thành câu lạc bộ đầu tiên của Armenia góp mặt ở một giải đấu cấp câu lạc bộ do UEFA tổ chức.

Lịch sử

Tập tin:Alashkert FC logo.svg
Logo câu lạc bộ từ năm 2012 đến năm 2017

Câu lạc bộ bóng đá Alashkert được thành lập vào năm 1990 tại thị trấn Martuni thuộc tỉnh Gegharkunik. Năm 1992, đội thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia, đại diện cho Martuni và sử dụng Sân vận động Thành phố của thị trấn làm sân nhà. Tuy nhiên, vào cuối mùa giải, đội kết thúc cuối bảng và bị xuống hạng Nhất. Do đó, câu lạc bộ rút khỏi giải đấu.

Năm 1998, FC Alashkert trở lại bóng đá chuyên nghiệp và tham dự Giải bóng đá hạng Nhất Armenia, kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 6. Năm 1999, họ không tham dự Giải bóng đá hạng Nhất Armenia và sau đó, vào đầu năm 2000, câu lạc bộ giải thể.

Tái lập năm 2011

Cuối năm 2011, FC Alashkert được tái lập bởi Bagrat Navoyan, một doanh nhân quê ở Martuni. Họ tham dự Giải bóng đá hạng Nhất Armenia 2012–13 và giành chức vô địch, qua đó đoạt suất lên Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia mùa 2013–14. Trong mùa 2012–13, đội được dẫn dắt bởi cựu cầu thủ Armenia Albert Sarkisyan.[3]

Chuyển đến Yerevan năm 2013

Tháng 2 năm 2013, câu lạc bộ mua Sân vận động Nairi ở Yerevan để trở thành địa điểm chính thức tổ chức các trận sân nhà. Do đó, câu lạc bộ chính thức chuyển từ Martuni đến Yerevan kể từ mùa 2013–14.

Mùa 2013–14 đến nay

Trong mùa 2013–14, Alashkert kết thúc cuối bảng. Tuy nhiên, họ không bị xuống hạng.

Ở mùa 2014–15, Alashkert giành vị trí thứ 4 và một suất tham dự vòng loại Europa League.

Mùa 2015–16 chứng kiến Alashkert thi đấu xuất sắc tại Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia, giành chức vô địch sau cuộc cạnh tranh quyết liệt với đội á quân Shirak SC.

Mùa 2016–17 chứng kiến Alashkert giành chức vô địch quốc gia Armenia mùa thứ hai liên tiếp.

Mùa 2017–18 đánh dấu đỉnh cao của Alashkert khi họ giành chức vô địch lần thứ ba liên tiếp, khẳng định sự thống trị tại bóng đá Armenia. Thành tích này cho thấy năng lực chiến lược của câu lạc bộ và khả năng triển khai hiệu quả của các cầu thủ trên sân.

Đối mặt với thách thức duy trì phong độ đỉnh cao, Alashkert giành vị trí thứ tư ở mùa 2018–19.

Tuy nhiên, mùa tiếp theo, 2019–20, cho thấy khả năng tái điều chỉnh và duy trì sức cạnh tranh của đội, khi họ kết thúc ở vị trí thứ ba đáng khen ngợi.

Câu chuyện trở nên sôi động hơn trong mùa 2020–21, khi Alashkert, được thúc đẩy bởi tinh thần mục tiêu mới, một lần nữa giành chức vô địch, bổ sung thêm một chương vào di sản của họ. Alashkert cũng kết thúc với vị trí á quân tại Cúp bóng đá Armenia, thua Ararat 1–3 trong trận chung kết. Năm 2021, Alashkert cũng giành Siêu cúp bóng đá Armenia, đánh bại Ararat 1–0 để đoạt danh hiệu.

Trong mùa 2021–22, Alashkert duy trì khả năng cạnh tranh và kết thúc ở vị trí thứ ba.

Mùa 2022–23 gần đây chứng kiến câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ tư, đặt ra yêu cầu đánh giá chiến lược và tái cam kết cho các mùa giải tương lai.

Tháng 12 năm 2017, Alashkert thiết lập quan hệ đối tác với các câu lạc bộ Brasil BotafogoFluminense.[4][5]

[6]

Thành tích trong nước

Thành tích giải vô địch của Alashkert FC:[7]

Mùa giải Giải vô địch Cúp quốc gia Châu Âu Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất Huấn luyện viên
Hạng đấu VT ST T H B BT BB Đ Tên Giải vô địch
1990 Soviet Lower Second League 17 18 7 5 6 29 37 19
1991 17 38 12 4 22 51 79 28
1992 Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia 24 22 5 2 15 38 58 12 Tứ kết   Albert Ohanyan
1993–97 Không tham dự
1998 Giải bóng đá hạng Nhất Armenia 6 24 9 8 7 30 25 30 Vòng sơ loại
1999 10 Vòng một
2000–11
Không tham dự
2012–13 Giải bóng đá hạng Nhất Armenia 1 36 24 6 6 80 31 78 Tứ kết   Vardan Petrosyan 15   Albert Sarkisyan
2013–14 Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia 8 28 6 6 16 38 69 24 Tứ kết   Mihran Manasyan 17   Armen Sanamyan
  Armen Gyulbudaghyants
2014–15 4 28 10 8 10 32 35 38 Bán kết   Mihran Manasyan 9   Abraham Khashmanyan
2015–16 1 28 16 7 5 50 24 55 Bán kết UEL VL2   Mihran Manasyan
  Héber
16
2016–17 1 30 19 7 4 59 26 64 Tứ kết UCL VL2   Mihran Manasyan
  Artak Yedigaryan
13
2017–18 1 30 14 8 8 44 31 50 Á quân UCL VL2   Artak Yedigaryan 13   Abraham Khashmanyan
  Varuzhan Sukiasyan
2018–19 4 32 15 6 11 37 27 51 Vô địch UEL VL3   Uroš Nenadović 6   Varuzhan Sukiasyan
  Aram Voskanyan
  Abraham Khashmanyan
2019–20 3 28 14 5 9 51 31 47 Tứ kết UEL VL2   Aleksandar Glišić 11   Abraham Khashmanyan
  Armen Adamyan (tạm quyền)
  Yegishe Melikyan
2020–21 1 24 13 7 4 25 15 46 Á quân UEL VL1   David Davidyan 5   Yegishe Melikyan
  Abraham Khashmanyan
  Aleksandr Grigoryan
2021–22 3 32 14 9 9 38 30 51 Tứ kết UECL VB Guiné-Bissau José Embaló 7   Aleksandr Grigoryan
  Milan Milanović
  Aram Voskanyan
2022–23 4 36 20 6 10 58 37 66 Tứ kết UECL VL1   Bladimir Díaz 11   Karen Barseghyan
  Vahe Gevorgyan
2023–24 5 36 13 6 17 54 56 45 Vòng hai UECL VL2   Levan Kutalia 12   Vahe Gevorgyan
2024–25 9 30 6 8 16 24 52 26 Vòng hai -   Sargis Metoyan 8   Abraham Khashmanyan
  Edgar Torosyan
  Albert Safaryan
2025–26 4 27 16 5 6 42 23 53 Vòng sơ loại -   Karen Nalbandyan 14   Vahe Gevorgyan

Kỷ lục

  • Số mùa ở hạng đấu cao nhất – 10 (1992–nay)
  • Vị trí thấp nhất tại giải vô địch – 24 (1992)
  • Chuỗi bất bại dài nhất tại giải vô địch – 11 trận (10/05/15 – 19/09/15)
  • Kỷ lục thắng trong một mùa – 24 (2012–13) (Giải hạng Nhất)
  • Kỷ lục thua trong một mùa – 22 (1991) (Soviet Lower Second League)
  • Nhiều điểm nhất trong một mùa – 78 (2012–2013) (Giải hạng Nhất)
  • Nhiều bàn thắng nhất tại giải vô địch trong một mùa (câu lạc bộ) – 80 (2012–2013) (Giải hạng Nhất)
  • Tổng số bàn thắng mọi thời đại tại giải vô địch – 834 (từ năm 1990)
  • Nhiều bàn thắng nhất trong một mùa (cầu thủ) – 17,   Mihran Manasyan, 2013–14
  • Chiến thắng đậm nhất – 6–0 trước   FC Artsakh, 2018
  • Thất bại đậm nhất – 2–9 trước   Gandzasar Kapan, 2013
  • Chiến thắng sân nhà đậm nhất – 6–0 trước   FC Artsakh, 2018
  • Thất bại sân nhà đậm nhất – 0–5 trước   FC Pyunik, 2013
  • Chiến thắng sân khách đậm nhất – 4–0 trước   Gandzasar Kapan, 2018
  • Thất bại sân khách đậm nhất – 2–9 trước   Gandzasar Kapan, 2013
  • Kỷ lục khán giả cao nhất – 59.047 trước   Celtic, 2018
  • Kỷ lục khán giả trận sân nhà – 9.000 trước   CFR Cluj, 2018
  • Kỷ lục khán giả trận sân khách – 59.047 trước   Celtic, 2018
  • Kỷ lục khán giả tại giải vô địch hoặc cúp – 4.000 trước   Ararat, 2021 và trước   Lori Vanadzor, 2019
  • Ra sân nhiều nhất mọi thời đại –   Artak Grigoryan, 198
  • Ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại –   Mihran Manasyan, 76

Châu Âu

Alashkert lần đầu giành quyền tham dự vòng 1 vòng loại Europa League 2015–16 sau khi đứng thứ 4 tại Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia 2014–15. Ở vòng một, Alashkert gặp câu lạc bộ Scotland St Johnstone. Mặc dù St Johnstone được xem là đội cửa trên, Alashkert giành chiến thắng sau hai lượt trận và tạo nên một bất ngờ. Ở vòng hai, Alashkert phải gặp đội bóng Kazakhstan Kairat. Trong trận lượt đi, Alashkert thua 0–3. Ở lượt về, Alashkert giành chiến thắng 2–1 nhờ bàn quyết định ở phút cuối của Heber Araujo. Tuy nhiên, kết quả này không đủ để họ giành quyền vào vòng ba.

Alashkert là đội bóng Armenia đầu tiên trong lịch sử thi đấu ở vòng bảng cúp châu Âu sau khi đánh bại Kairat 3–2 vào ngày 12 tháng 8 năm 2021. Họ gặp Rangers ở vòng play-off Europa League, nhưng thua với tổng tỉ số 0–1. Do đó, họ rơi xuống vòng bảng Europa Conference League, nơi họ nằm cùng bảng với Maccabi Tel Aviv, HJK HelsinkiLASK. Sau khi thua năm trận đầu tiên, Alashkert hòa Maccabi Tel Aviv 1–1 ở lượt trận thứ sáu, qua đó giành điểm số đầu tiên trong lịch sử cho một đội bóng Armenia tại bất kỳ vòng bảng UEFA nào.

Thành tích châu Âu

Đội hình trong trận đấu đầu tiên của một đội bóng Armenia tại vòng bảng, trong trận UEFA Conference League gặp Maccabi Tel-Aviv vào ngày 14 tháng 9 năm 2021
Tính đến trận đấu diễn ra ngày 3 tháng 8 năm 2023
Giải đấu ST T H B BT BB HS
UEFA Champions League 14 3 5 6 12 20 –8
UEFA Europa League 17 7 3 7 17 23 –6
UEFA Europa Conference League 12 3 2 7 15 23 –8
Tổng cộng 43 13 10 20 44 66 –22
Mùa giải Giải đấu Vòng Đối thủ Sân nhà Sân khách Tổng tỉ số Ghi chú
2015–16 UEFA Europa League VL1   St Johnstone 1–0 1–2 2–2 (bk) Tập tin:Symbol keep vote.svg
VL2   Kairat 2–1 0–3 2–4 Tập tin:Symbol delete vote.svg
2016–17 UEFA Champions League VL1   Santa Coloma 3–0 0–0 3–0 Tập tin:Symbol keep vote.svg
VL2   Dinamo Tbilisi 1–1 0–2 1–3 Tập tin:Symbol delete vote.svg
2017–18 UEFA Champions League VL1   Santa Coloma 1–0 1–1 2–1 Tập tin:Symbol keep vote.svg
VL2   BATE Borisov 1–3 1–1 2–4 Tập tin:Symbol delete vote.svg
2018–19 UEFA Champions League VL1   Celtic 0–3 0–3 0–6 Tập tin:Symbol delete vote.svg
UEFA Europa League VL2   Sutjeska Nikšić 0–0 1–0 1–0 Tập tin:Symbol keep vote.svg
VL3   CFR Cluj 0−2 0–5 0–7 Tập tin:Symbol delete vote.svg
2019–20 UEFA Europa League VL1   Makedonija GP 3–1 3–0 6–1 Tập tin:Symbol keep vote.svg
VL2   FCSB 0−3 3–2 3–5 Tập tin:Symbol delete vote.svg
2020–21 UEFA Europa League VL1   Renova 0−1 0–1 Tập tin:Symbol delete vote.svg
2021–22 UEFA Champions League VL1   Connah's Quay Nomads 1–0 (s.h.p.) 2–2 3–2 Tập tin:Symbol keep vote.svg
VL2   Sheriff Tiraspol 0−1 1−3 1–4 Tập tin:Symbol delete vote.svg
UEFA Europa League VL3   Kairat 3–2 (s.h.p.) 0–0 3−2 Tập tin:Symbol keep vote.svg
PO   Rangers 0–0 0–1 0–1 Tập tin:Symbol delete vote.svg
UEFA Europa Conference League VB   LASK 0–3 0–2 Hạng 4 Tập tin:Symbol delete vote.svg
  Maccabi Tel Aviv 1–1 1–4
  HJK 2–4 0–1
2022–23 UEFA Europa Conference League VL1 Malta Ħamrun Spartans 1–0 1–4 2–4 Tập tin:Symbol delete vote.svg
2023–24 UEFA Europa Conference League VL1   Arsenal Tivat 1–1 6–1 7–2 Tập tin:Symbol keep vote.svg
VL2   Debrecen 0–1 2–1 (s.h.p.) 2–2 (1–3 p) Tập tin:Symbol delete vote.svg
  • Chiến thắng đậm nhất tại các giải đấu UEFA: 3–0 trước   FC Santa Coloma (ngày 5 tháng 7 năm 2016) và trước   Makedonija GP (ngày 18 tháng 7 năm 2019)
  • Thất bại nặng nhất tại các giải đấu UEFA: 0–5 trước   CFR Cluj (ngày 16 tháng 8 năm 2018)
  • Số lần câu lạc bộ tham dự các giải đấu UEFA: 7
  • Kỷ lục khán giả – 59.047 trước   Celtic, 2018
  • Cầu thủ ra sân nhiều nhất tại UEFA:   Artak Grigoryan – 29 lần ra sân
  • Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất tại các giải đấu UEFA:   Uros Nenadovic – 4 bàn thắng
  • Thủ môn giữ sạch lưới nhiều nhất tại các giải đấu UEFA:   Ognjen Cancarevic – 5 trận

Hệ số UEFA

Cập nhật lần cuối: ngày 12 tháng 8 năm 2021

Danh sách sau xếp hạng vị trí hiện tại của Alashkert trong bảng xếp hạng câu lạc bộ UEFA:

Hạng Đội Điểm
138   Vitesse Arnhem 8.500
139   Flora Tallinn 8.250
140   Alashkert 8.000
141   Kairat 8.000
142   Hajduk Split 8.000

Danh sách đối thủ theo quốc gia

Danh sách đối thủ theo câu lạc bộ

Sân vận động

Tập tin:Nairi stad.2.jpg
Sân vận động Alashkert
Tập tin:Nairi stad.3.jpg
Logo Alashkert tại lối vào chính của sân vận động

Từ năm 1990 đến năm 2000, câu lạc bộ có trụ sở tại Sân vận động Thành phố Martuni ở thị trấn Martuni, gần bờ hồ Sevan.

Sau khi câu lạc bộ được tái lập vào năm 2011, họ chuyển đến Yerevan, thi đấu các trận sân nhà tại nhiều sân vận động khác nhau ở thủ đô, chủ yếu là Sân vận động Nairi. Tuy nhiên, Sân vận động Nairi – sau đổi tên thành Sân vận động Alashkert – được chủ sở hữu FC Alashkert mua lại vào tháng 2 năm 2013.

Do các công trình cải tạo quy mô lớn tại Sân vận động Alashkert, Alashkert sử dụng Sân vận động Cộng hòa Vazgen SargsyanSân vận động Hrazdan trong mùa Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia 2013–14.[8] Alashkert tiếp tục sử dụng Sân vận động Cộng hòa Vazgen Sargsyan để tổ chức các trận đấu châu Âu, do Sân vận động Alashkert không đáp ứng các yêu cầu hạng sân vận động UEFA.

Câu lạc bộ trở lại sân Alashkert của mình trong mùa Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia 2014–15.

Danh hiệu

Đội hình hiện tại

Tính đến 5 tháng 3 năm 2026[9]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM   Vlad Chatunts
2 HV   Serob Grigoryan
3 HV   Samuel Segun
4 HV   Yaroslav Matyukhin
5 HV   Davit Terteryan
6 HV   Edgar Piloyan
7 TV   Karen Nalbandyan
8 TV   Yuri Gareginyan
9   Khalil Ahmad Sammani
10   Olawale Farayola
11   Momo Touré
13 TM   Anatoliy Ayvazov
15 HV   Arsen Sadoyan
16   Isah Yahaya Buhari
Số VT Quốc gia Cầu thủ
17   Joseph Sabobo Banda
18 TV   Ifeanyi David Nduka
19   Kajally Drammeh
21 HV   Jefferson Granado
22 HV   Robert Hakobyan
23 HV   Stepan Gigolyan
24 TM   Arsen Beglaryan
25   Caio Henrique (được mượn từ Audax)
28   Usman Ajibona
44 HV   Klaidher Macedo
66 HV   Mher Kankanyan
73 TV   David Kirakosyan
77 TV   Juan Campos
88 TV   Rafael Jesus

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
20   Obi Chima (tại Andranik đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
99 TM   Ibrahim Sesay (tại Andranik đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)

Alashkert-2

Alashkert-2
Tập tin:Logo of FC Alashkert.png
Thành lập2013; 13 năm trước (2013)
SânSân vận động Alashkert, Yerevan
Sức chứa6.850
Chủ sở hữuBagratour LLC
Chủ tịchBagrat Navoyan
Giải đấuGiải bóng đá hạng Nhất Armenia
2023–24thứ 9 trên 15
Websitehttp://fcalashkert.am/
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Đội dự bị của câu lạc bộ thi đấu với tên Alashkert-2 tại Giải bóng đá hạng Nhất Armenia. Họ cũng thi đấu các trận sân nhà tại Sân vận động Alashkert.

Đội trẻ

Alashkert điều hành một trường bóng đá nhỏ cho các đội trẻ trên các sân tập nằm cạnh Sân vận động Alashkert ở Yerevan. Họ cũng điều hành một trường bóng đá tại thị trấn Masis thuộc tỉnh Ararat.

Nhân sự

Ban huấn luyện

Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởng   Vahe Gevorgyan[10]
Trợ lý huấn luyện viên   Artur Hovhannisyan
Trợ lý huấn luyện viên   Sergey Zenevich
Huấn luyện viên thủ môn   Hayk Kirakosyan
Huấn luyện viên thể lực   Hayk Voskanyan
Bác sĩ trưởng   Arman Hakobyan
Quản lý đội   Garik Mnatsakanyan

Ban quản lý

Chức vụ Tên
Chủ sở hữu/Chủ tịch   Bagrat Navoyan &   Anton Zingarevich
Phó chủ tịch   Tigran Mkrtchyan
Giám đốc điều hành   Alexey Balyberdin
Giám đốc thể thao   Fyodor Burdykin
Trưởng bộ phận truyền thông   Yervand Hakobyan
Trưởng bộ phận quan hệ công chúng & tiếp thị   Aghasi Gharagyozyan

Lịch sử huấn luyện viên

Các huấn luyện viên của FC Alashkert kể từ khi câu lạc bộ được tái lập vào cuối năm 2011:

  •   Albert Sarkisyan (1 tháng 1 năm 2012 – 30 tháng 4 năm 2013)
  •   Armen Sanamyan (30 tháng 4 năm 2013 – 23 tháng 10 năm 2013)
  •   Armen Gyulbudaghyants (2 tháng 11 năm 2013 – 30 tháng 8 năm 2014)
  •   Abraham Khashmanyan (31 tháng 8 năm 2014 – 1 tháng 4 năm 2018)
  •   Varuzhan Sukiasyan (1 tháng 4 năm 2018 – 21 tháng 9 năm 2018[6])
  •   Aram Voskanyan (25 tháng 9 năm 2018 – 14 tháng 4 năm 2019)
  •   Abraham Khashmanyan (15 tháng 4 năm 2019 – 20 tháng 5 năm 2021)
  •     Aleksandr Grigoryan (20 tháng 5 năm 2021 – 20 tháng 9 năm 2021)
  •   Milan Milanović (26 tháng 9 năm 2021 – 13 tháng 1 năm 2022)
  •   Aram Voskanyan (13 tháng 1 năm 2022 – 28 tháng 4 năm 2022)
  •   Armen Petrosyan (28 tháng 4 năm 2022 – 17 tháng 6 năm 2022)
  •   Karen Barseghyan (1 tháng 7 năm 2022 – 24 tháng 12 năm 2022)
  •   Vahe Gevorgyan (24 tháng 12 năm 2022 – 17 tháng 6 năm 2024)
  •   Abraham Khashmanyan (1 tháng 7 năm 2024 – 22 tháng 1 năm 2025)
  •   Edgar Torosyan (19 tháng 2 năm 2025 – 18 tháng 4 năm 2025)
  •   Albert Safaryan (19 tháng 4 năm 2025 – 25 tháng 6 năm 2025)
  •   Vahe Gevorgyan (1 tháng 7 năm 2025 –

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ "Clubs". www.ffa.am.
  2. ^ LLC, Helix Consulting. "Ալաշկերտը կհամագործակցի բրազիլական Բոտաֆոգո ակումբի հետ - Սպորտային լուրեր". www.armsport.am. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2017.
  3. ^ "Բարձրագույն խու՛մբ, մենք գալիս ենք. TF-ը հյուրընկալվել էր "Ալաշկերտի" կողմից". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2013.
  4. ^ "Ալաշկերտը և բրազիլական Բոտաֆոգոն պաշտոնապես համաձայնության եկան". fcalashkert.am (bằng tiếng Armenia). FC Alashkert. ngày 16 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2017.
  5. ^ "Ալաշկերտը և բրազիլական Ֆլումինենսեն դարձան գործընկեր-ակումբներ". fcalashkert.am (bằng tiếng Armenia). FC Alashkert. ngày 18 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2017.
  6. ^ a b "Պաշտոնական հայտարարություն". fcalashkert.am (bằng tiếng Armenia). FC Alashkert. ngày 21 tháng 9 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2018.
  7. ^ RSSSF Armenia (và các trang phụ theo từng năm)
  8. ^ "Ակումբներ". www.ffa.am.
  9. ^ "Հիմնական կազմ" (bằng tiếng Armenia). FC Alashkert. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2026.
  10. ^ "Vahe Gevorgyan – Head Coach of FC "Alashkert"". instagram.com/fcalashkertyerevan/. FC Alashkert Instagram. ngày 26 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.

Liên kết ngoài