9M117 Bastion
| 9M117 Bastion | |
|---|---|
Tên lửa chống tăng có điều khiển (ATGM) 9M117M | |
| Loại | Tên lửa chống tăng có điều khiển |
| Nơi chế tạo | Liên Xô Nga |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1981–nay |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Cục Thiết kế Chế tạo Thiết bị KBP |
| Thông số | |
| Khối lượng | 17,6 kg (39 lb)[1] |
| Chiều dài | 1.048 mm (41,3 in)[1] |
| Cỡ đạn | 100 mm |
| Sơ tốc đầu nòng | 375 m/s (1.230 ft/s) tối đa 300 m/s (980 ft/s) trung bình |
| Tầm bắn hiệu quả | 100–5.500 m (330–18.040 ft)[1] |
| Đầu nổ | Đầu đạn HEAT liều đúp (tandem)[1] |
| Cơ cấu nổ | Va chạm[1] |
| Hệ thống chỉ đạo | Dẫn đường bằng laser[1] |
| Hệ thống lái | SACLOS[1] |
| Nền phóng | T-12, BMP-3, ZBD-04, T-55, T-62 |
9M117 Bastion là một loại tên lửa chống tăng bám chùm tia laser của Liên Xô. Nó được sử dụng trong một số hệ thống vũ khí riêng biệt, bao gồm hệ thống tên lửa 9K116-1 Bastion (tên định danh NATO: AT-10 Stabber), 9K118 Sheksna (AT-12 Swinger), pháo chống tăng T-12 và loại đạn 3UBK12 bắn từ xe thiết giáp BMP-3. Loại đạn 100 mm này bắt đầu được đưa vào biên chế từ năm 1981.[2]
Phát triển
9K112 Kobra (tên định danh NATO: AT-8 Songster) là loại tên lửa chống tăng bắn qua nòng pháo đầu tiên của Liên Xô được đưa vào biên chế; tuy nhiên, nó chỉ được triển khai với số lượng hạn chế cho các đơn vị tiền phương. Công tác phát triển bắt đầu vào cuối thập niên 1970 trên một thế hệ đạn dẫn đường thứ ba sử dụng phương thức dẫn đường bằng laser thay vì các liên kết lệnh vô tuyến. Hệ thống dẫn đường được phát triển bởi Igor Aristarkhov, và quả tên lửa được phát triển bởi Pyotr Komonov.[3] Bastion ban đầu được thiết kế như một loại tên lửa tương đối rẻ tiền, được bắn từ pháo chống tăng nòng trơn kéo MT-12 100 mm.[2] Tên lửa 9M117 là một phần của đạn 3UBK10 và toàn bộ hệ thống vũ khí được định danh là 9K116 Kastet. Một thiết bị dẫn đường laser được đặt trên bệ ba chân cạnh khẩu pháo.[2] Hệ thống này được chính thức đưa vào sử dụng năm 1981.[2]
Trong quá trình phát triển hệ thống 9K116, các nhà thiết kế nhận thấy rằng nó có thể nâng cao hỏa lực tầm xa cho các loại xe tăng cũ như T-55 và T-62. Hệ thống dành cho pháo D-10T 100 mm nòng rãnh xoắn của T-55 được định danh là 9K116-1 Bastion (sử dụng đạn 3UBK10-1); và đối với pháo nòng trơn 115 mm U-5TS của T-62, hệ thống được định danh là 9K116-2 Sheksna (sử dụng đạn 3UBK10-2).[4] Các tên lửa 9M117 này hoàn toàn giống hệt với phiên bản dùng cho pháo kéo; tuy nhiên, phiên bản 115 mm có thêm các vòng đệm dẫn hướng bổ sung.[4] Chúng được đưa vào biên chế năm 1983.[4] Sau đó, hệ thống 9K116-3 được phát triển cho pháo nòng rãnh xoắn 100 mm[5] của xe chiến đấu bộ binh BMP-3, đưa vào sử dụng năm 1987. Các hệ thống tương tự, sử dụng loại tên lửa cỡ nòng lớn hơn là 9M119 Svir, đã được phát triển cho pháo 125 mm của các xe tăng T-72 và T-80.
Mô tả
Viên đạn 100 mm trông giống như một viên đạn chống tăng 100 mm thông thường, được nạp và bắn theo cùng một cách thức. Viên đạn sử dụng một lượng liều phóng giảm bớt để đẩy quả đạn ra khỏi nòng pháo với vận tốc khoảng 400–500 m/s (1.300–1.600 ft/s). Sau khi rời khỏi nòng pháo, một nắp nhỏ sẽ rơi ra khỏi cửa sổ ở phía đuôi tên lửa. Động cơ tên lửa được kích hoạt sau khi bắn tên lửa 1,5 giây và hoạt động trong vòng 6 giây.
Quả đạn sử dụng hệ thống dẫn đường laser bám chùm tia. Một hình nón ánh sáng laser được chia thành các phân đoạn được chiếu ra từ xe tăng/phương tiện/pháo phóng, mỗi phân đoạn có một tần số hoặc sự điều chỉnh khác nhau. Tên lửa có một cửa sổ nhỏ ở phía đuôi tích hợp cảm biến laser để phát hiện sự điều chế của ánh sáng. Sử dụng sự điều chế này, tên lửa tự điều chỉnh hướng lái, duy trì vị trí của nó trong hình nón ánh sáng. Chùm tia laser được thu phóng (zoom) trong quá trình tên lửa bay để nó luôn giữ cùng một đường kính (khoảng 6 m (20 ft)) trong suốt hành trình. Hệ thống dẫn đường bám chùm tia laser nhỏ gọn hơn hệ thống dẫn đường bằng lệnh vô tuyến, đồng thời rẻ và đơn giản hơn hệ thống dẫn đường laser bán chủ động. Tên lửa cũng ít bị ảnh hưởng bởi gây nhiễu vô tuyến hoặc nhiễu quang học.[2] Mặt khác, mục tiêu phải được theo dõi bằng kính ngắm laser trong suốt thời gian bay, và hệ thống không thể sử dụng một cách tin cậy khi đang di chuyển.[4]
Thời gian bay của tên lửa đến khoảng cách 4,000 mét (13,123 ft) là xấp xỉ 12 giây. Sau 26 đến 41 giây, tên lửa sẽ tự hủy.
Các biến thể
Các loại đạn sử dụng tên lửa 9M117 Bastion; độ xuyên giáp trung bình 550 mm (22 in) đương lượng thép cán đồng nhất (RHAe) sau khi phá ERA:[6]
- 100 mm 3UBK10 (MT-12); tầm bắn 100–5,000 m (328,084–16,404 ft); độ xuyên giáp trung bình 550 mm (22 in) RHAe sau khi phá ERA.
- 100 mm 3UBK10-1 (T-55)
- 115 mm 3UBK10-2 (T-62)
- 100 mm 3UBK10-3 (BMP-3 và BMD-4); tầm bắn 100–4,000 m (328,084–13,123 ft); độ xuyên giáp trung bình 550 mm (22 in) RHAe sau khi phá ERA.[7]
Các loại đạn sử dụng tên lửa 9M117M Kan trang bị đầu đạn nổ lõm (HEAT) liều đúp (tandem); độ xuyên giáp trung bình 600 mm (24 in) RHAe sau khi phá ERA:[8]
- 100 mm 3UBK10M (MT-12)
- 100 mm 3UBK10M-1 (T-55)
- 115 mm 3UBK10M-2 (T-62)
- 100 mm 3UBK10M-3 (BMP-3 và BMD-4); tầm bắn 100–4,000 m (328,084–13,123 ft); độ xuyên giáp trung bình 600 mm (24 in) RHAe sau khi phá ERA.[9]
Các loại đạn sử dụng tên lửa 9M117M1 Arkan đầu đạn HEAT liều đúp với tầm bắn mở rộng lên đến 100–6,000 m (328,084–19,685 ft); độ xuyên giáp trung bình 750 mm (30 in) RHAe sau khi phá ERA:
- 100 mm 3UBK23 (MT-12)
- 100 mm 3UBK23-1 (T-55)
- 115 mm 3UBK23-2 (T-62); độ xuyên giáp trung bình 850 mm (33 in) RHAe sau khi phá ERA.
- 100 mm 3UBK23-3 (BMP-3 và BMD-4); tầm bắn 100–5,500 m (328,08–18,04 ft); độ xuyên giáp trung bình 750 mm (30 in) RHAe sau khi phá ERA.[10]
Các quốc gia sử dụng
Tham khảo
- ^ a ă â b c d đ "9K116-2 Sheksna anti-tank guided missile system" [9К116-2 «Шексна» противотанковый ракетный комплекс]. Bastion-karpenko.ru (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2019.
- ^ a ă â b c Angelskiy 2002, tr. 111–115.
- ^ 苏/俄反坦克导弹의演变简介(组图) [A Brief Introduction to the Evolution of Soviet/Russian Anti-Tank Missiles (Photos)]. Tank & Armoured Vehicle (bằng tiếng Trung). Sina Corporation. ngày 29 tháng 8 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2011.
- ^ a ă â b Angelskiy 2002, tr. 117–119.
- ^ "BMP-3 Turret". kurganmash.ru. Kurganmashzavod. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2018.
- ^ "3UBK10, 3UBK10-1, 3UBK10-2, 3UBK10-3 rounds with anti-tank guided missile 9M117". tulamash.ru. Tulamashzavod. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2023.
- ^ Выстрелы 3УБК10, 3УБК10-1, 3УБК10-2, 3УБК10-3 [Shots 3UBK10, 3UBK10-1, 3UBK10-2, 3UBK10-3]. Russian Arms Expo. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2023.
- ^ Модернизированные выстрелы с противотанковой управляемой ракетой 9М117М 3УБК10М [3UBK10M modernized rounds with anti-tank guided missile 9M117M]. tulamash.ru (bằng tiếng Nga). Tulamashzavod. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2023.
- ^ 3УБК10М-3 [3UBK10M-3 modernized rounds with anti-tank guided missile 9M117M]. Rosoboronexport. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2023.
- ^ 3УБК23-3 [3UBK23-3 modernized rounds with anti-tank guided missile 9M117M1-3]. Rosoboronexport. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2023.
Nguồn
- Angelskiy, R. (2002). Отечественные противотанковые комплексы: Иллюстрированный справочник [Domestic Anti-Tank Systems: An Illustrated Reference Book]. Voyennaya tekhnika (bằng tiếng Nga). Moscow: AST. ISBN 5-17-011744-2.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)