Bước tới nội dung

Bhadda Kapilani

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bhadda Kapilani
Đời tư
SinhThế kỷ VI TCN
Bạn đờiĐại Ca-diếp (Mahākassapa)
Nghề nghiệpTỳ-kheo-ni
Đời tu
Tôn giáoPhật giáo
Vị trí cấp cao
Sư phụĐức Phật

Bhadda Kapilani hoặc Bhadra-Kapilānī là một tỳ-kheo-ni Phật giáo và là một trong những nữ đệ tử xuất sắc của Đức Phật. Trong số các tỳ-kheo-ni, bà được xem là người đứng đầu về khả năng quán sát và phân tích các tiền kiếp của chúng sinh cũng như nghiệp quá khứ của họ, như được mô tả trong các truyện Jataka thuộc Kinh tạng Pali.

Trước khi cả hai cùng gia nhập Tăng đoàn, bà là vợ của Đại Ca-diếp (Mahākassapa), vị A-la-hán đã lãnh đạo Tăng đoàn sau khi Đức Phật cùng hai đại đệ tử là Xá-lợi-phấtMục-kiền-liên nhập Niết-bàn.

Những năm đầu đời

Pipphali Kassapa, tên của Đại Ca-diếp (Mahākassapa) khi còn tại gia, luôn kiên quyết rằng mình sẽ không kết hôn mà sẽ trở thành một nhà khổ hạnh. Tuy nhiên, trước những lời nài ép liên tục của cha mẹ, cuối cùng ông đồng ý kết hôn để làm vui lòng họ, với điều kiện phải tìm được một cô gái đáp ứng những tiêu chuẩn mà ông đặt ra.[1]

Cha mẹ ông vì thế thuê tám vị Bà-la-môn đi tìm một thiếu nữ như vậy. Tại Sagala, họ tìm thấy Bhadda Kapilani, con gái của một gia đình Bà-la-môn giàu có. Khi đó nàng mười sáu tuổi và nhỏ hơn Pipphali Kassapa bốn tuổi. Cha mẹ nàng chấp thuận lời cầu hôn, nhưng Bhadda Kapilani lại không muốn lập gia đình, vì bản thân nàng cũng mong muốn sống đời tu hành như một nữ khổ hạnh.

Pipphali tin rằng các vị Bà-la-môn sẽ không thể thành công trong việc tìm kiếm, nên rất không hài lòng khi họ thực sự tìm được người phù hợp. Ông gửi một bức thư cho Bhadda Kapilani với nội dung:

"Bhadda, xin hãy kết hôn với một người khác môn đăng hộ đối và sống hạnh phúc với người ấy. Còn ta sẽ trở thành một người xuất gia khổ hạnh. Xin nàng đừng phiền muộn vì điều đó."

Một cách độc lập, Bhadda Kapilani cũng gửi cho ông một bức thư với nội dung tương tự.

Tuy nhiên, cả hai bên cha mẹ đều đoán trước rằng có thể xảy ra việc phá hủy cuộc hôn nhân đã được sắp đặt, nên bí mật chặn các bức thư lại và thay thế bằng những lá thư mang lời chào đón, đồng thuận.

Kết quả là Bhadda được đưa đến Magadha và đôi trai gái kết hôn với nhau.

Do cùng có chí hướng xuất gia, họ thỏa thuận sẽ sống đời độc thân dù là vợ chồng. Để thực hiện điều đó, mỗi đêm trước khi ngủ, họ đặt một vòng hoa giữa hai người, quyết tâm không khuất phục trước dục vọng giác quan.

Cặp vợ chồng trẻ giàu có này sống sung túc và hòa thuận trong nhiều năm. Chừng nào cha mẹ của Pipphali còn sống, họ thậm chí không phải quản lý các nông trại của gia đình. Nhưng sau khi cha mẹ qua đời, toàn bộ điền sản rộng lớn được giao lại cho họ.

Một ngày nọ, khi Pipphali đi kiểm tra các cánh đồng, ông bất ngờ nhìn thấy rõ điều mà trước đây mình chưa từng để ý. Ông thấy rất nhiều chim tụ tập và mổ ăn những con giun bị lộ ra sau khi đất được cày xới.

Đối với một người nông dân, đây là cảnh tượng bình thường, nhưng đối với ông, nó là một cú sốc lớn. Ông nhận ra rằng tài sản của mình, được tạo ra từ hoa màu trên đồng ruộng, thực chất gắn liền với sự đau khổ và cái chết của vô số sinh vật khác.

Ông hỏi một người làm công:

"Ai sẽ phải gánh chịu hậu quả của hành động này?"

Người ấy đáp:

"Chính ngài, thưa chủ nhân."

Lo lắng trước sự thật về quả báo nghiệp này, ông trở về nhà và suy ngẫm:

"Nếu ta phải mang gánh nặng tội lỗi từ những sự sát hại ấy, thì của cải này còn có ích gì đối với ta nữa? Tốt hơn hết là ta nên giao tất cả cho Bhadda rồi xuất gia sống đời khổ hạnh."

Trong cùng thời gian đó, Bhadda cũng có một trải nghiệm tương tự.

Một hôm, bà nhận thấy khi hạt mè được phơi ngoài trời, nhiều loài chim kéo đến ăn các côn trùng bị thu hút bởi những hạt mè đó. Khi hỏi người hầu ai là người phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức cho cái chết của vô số sinh vật như vậy, bà được trả lời rằng chính bà là người chịu trách nhiệm.

Bhadda suy nghĩ:

"Nếu chỉ chừng ấy thôi mà ta đã tạo nghiệp bất thiện, thì dù trải qua một nghìn kiếp sống, ta cũng không thể ngẩng đầu vượt lên khỏi biển luân hồi. Ngay khi Pipphali trở về, ta sẽ giao lại mọi thứ cho chàng và rời đi để sống đời khổ hạnh."

Xuất gia

Khi nhận ra cả hai đều có cùng chí hướng, Bhadda và Pipphali đi ra chợ mua vải màu vàng nhạt và các bình bát bằng đất sét, rồi tự cạo tóc cho nhau. Họ trả tự do cho những người hầu và lên đường. Trong lúc đi bộ, Pipphali đi trước còn Bhadda theo sau. Lo ngại rằng người khác sẽ cho rằng họ vẫn còn quyến luyến nhau, cả hai quyết định chia tay để theo đuổi đời sống tâm linh riêng biệt.

Bhadda đi đến Savatthi, nơi bà thường nghe các bài thuyết pháp của Đức Phật tại tu viện Jetavana (Kỳ Viên). Vì vào thời điểm đó giáo đoàn Tỳ-kheo-ni vẫn chưa được thành lập, bà tu tập tại một ni viện của các nữ khổ hạnh Phật giáo ở gần đó. Bà sống tại đây suốt năm năm cho đến khi có cơ hội thọ giới làm một tỳ-kheo-ni. Không lâu sau, bà chứng đắc quả vị A-la-hán.

Sau khi chứng quả A-la-hán, Bhadda dành phần lớn thời gian để giáo dục các ni sư và hướng dẫn họ về giới luật tu viện (Luật tạng). Đức Phật tán dương Bhadda là vị đứng đầu trong hàng tỳ-kheo-ni về khả năng nhớ lại các tiền kiếp.

Trong các truyện Jātaka

Các truyện Jataka ghi lại nhiều câu chuyện về những tiền kiếp của Bhadda Kapilani. Trong nhiều câu chuyện ấy, bà thường là vợ của Kasyapa (Mahākassapa).

Vào thời của Phật Tỳ-bà-thi, hai vợ chồng họ nghèo đến mức chỉ có duy nhất một tấm y choàng. Vì vậy, tại một thời điểm chỉ có một người có thể mặc y và ra khỏi túp lều. Trong câu chuyện này, người chồng được gọi là "người chỉ có một tấm y" (ekasataka). Trong đời sống ấy, cả hai đều được nghe pháp từ Đức Phật Tỳ-bà-thi. Sau khi nghe giáo pháp, người chồng muốn cúng dường tấm y duy nhất của mình cho Tăng đoàn. Tuy nhiên, vì đó là tài sản duy nhất của hai vợ chồng, ông nghĩ rằng nên hỏi ý kiến vợ trước. Dù vậy, cuối cùng ông vẫn đem dâng tấm y ấy cho chư tăng. Sau khi cúng dường, ông vui mừng vỗ tay và hô lớn:

"Ta đã chiến thắng! Ta đã chiến thắng!"

Nhà vua, đang nghe pháp phía sau một bức màn, nghe thấy câu chuyện ấy và rất cảm động. Ông bèn ban tặng cho người Bà-la-môn nhiều bộ y phục và bổ nhiệm ông làm quốc sư của triều đình, chấm dứt cảnh nghèo khó của hai vợ chồng.

Trong một chuyện khác, Bhadda cũng từng là mẹ của một thanh niên Bà-la-môn, người là học trò của vị sẽ trở thành Đức Phật trong tương lai và có nguyện vọng xuất gia. Kasyapa là chồng bà còn A-nan-đà là con trai của hai người. Bhadda muốn con trai mình trải nghiệm đời sống thế tục trước khi cho phép xuất gia. Tuy nhiên, một biến cố đã khiến chàng trai trẻ thay đổi nhận thức. Mẹ của vị thầy (Đức Phật trong tương lai) đem lòng yêu chàng (A-nan-đà) và thậm chí từng nghĩ đến việc giết con trai mình ((Đức Phật trong tương lai)) vì tình cảm ấy. Sự chứng kiến sức mạnh của dục vọng đã khiến chàng sinh tâm nhàm chán sâu sắc đối với đời sống thế tục. Cuối cùng, cha mẹ đồng ý cho chàng xuất gia.

Trong một tiền kiếp khác, Kasyapa và Bhadda là cha mẹ Bà-la-môn của bốn người con trai. Bốn người con ấy về sau lần lượt tái sinh thành Đức Phật, Anuruddha, Xá-lợi-phấtMục-kiền-liên. Tuy ban đầu cha mẹ phản đối, nhưng cuối cùng cả bốn đều được phép xuất gia sống đời khổ hạnh.

Trong một kiếp khác nữa, Bhadda là vợ của một chủ đất. Một ngày nọ, sau khi tranh cãi với chị dâu, bà ganh tỵ với công đức của chị dâu khi dâng cúng cho một vị Phật Pratyekabuddha (Độc Giác Phật). Bà đã lấy bát của vị Pratyekabuddha, đổ đầy bùn vào đó. Bà cảm thấy hối hận, lấy lại bát, rửa sạch, đổ đầy thức ăn ngon và thơm rồi dâng cúng vị Pratyekabuddha. Kết quả là trong kiếp sau, bà trở nên giàu có nhưng thân thể có mùi hôi. Người chồng, sau này là Kasyapa, không chịu nổi và bỏ bà đi. Khi chuẩn bị xử lý tài sản, bà đã nung chảy trang sức của mình, đúc thành một viên gạch vàng rồi đến tu viện và cúng dường để xây dựng một bảo tháp tôn vinh Đức Phật Kassapa vừa mới viên tịch. Sau khi làm như vậy, thân thể bà lại thơm tho, và Kasyapa đã đón bà về.

Hai kiếp trước đời sống cuối cùng, Bhadda là hoàng hậu của Varanasi và thường xuyên hộ trì nhiều vị Độc Giác Phật. Khi chứng kiến sự viên tịch đột ngột của các vị ấy, bà vô cùng xúc động, quyết định từ bỏ cuộc sống hoàng gia và lên vùng Hy Mã Lạp Sơn sống đời thiền định.

Sau khi qua đời, bà được tái sinh vào một cõi Phạm thiên, Kasyapa cũng tái sinh tại đó. Khi tuổi thọ dài lâu ở cõi ấy kết thúc, cả hai tái sinh trở lại thành Pipphali Kassapa và Bhadda Kapilani.

Xem thêm

Tài liệu tham khảo

  1. ^ Thera & Hecker 1997, tr. 106.

Nguồn

  • Hecker, Hellmuth (1987). "Maha Kassapa: Cha của Tăng đoàn". Buddhist Publication Society.
  • Karunaratne, Indumatie (1965), "Bhaddā-Kapilānī", trong Malalasekera, G. P.; Weeraratne, W. G. (biên tập), Encyclopaedia of Buddhism, quyển II, Government of Sri Lanka, ASIN B0045VB37O
  • Thera, Nyanaponika; Hecker, Hellmuth (1997), Bodhi, Bhikkhu (biên tập), Great Disciples of the Buddha: Their Lives, Their Works, Their Legacy, Wisdom Publications, ISBN 0861711289

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).