Danijel Pranjić
Danijel Pranjić (sinh ngày 2 tháng 12 năm 1981) là một huấn luyện viên bóng đá chuyên nghiệp người Croatia và cựu cầu thủ bóng đá từng thi đấu ở vị trí hậu vệ biên. Là một cầu thủ thuận chân trái đa năng, ông có thể thi đấu ở toàn bộ hành lang cánh trái và cũng có thể được sử dụng ở vị trí tiền vệ trung tâm.
|
Tập tin:Danijel-Pranjic.jpg Pranjić năm 2009 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Danijel Pranjić[1] | ||
| Ngày sinh | 2 tháng 12, 1981 [1] | ||
| Nơi sinh | Našice, CHXHCN Croatia, Nam Tư | ||
| Chiều cao | 1,71 m | ||
| Vị trí | Tiền vệ cánh trái, hậu vệ biên | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| 1998–2000 | NAŠK | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 1998–2000 | NAŠK | ||
| 2000–2001 | Papuk | ||
| 2001–2002 | Belišće | 28 | (7) |
| 2002–2004 | Osijek | 53 | (3) |
| 2004–2005 | Dinamo Zagreb | 29 | (2) |
| 2005–2009 | Heerenveen | 129 | (32) |
| 2009–2012 | Bayern Munich | 55 | (1) |
| 2011 | Bayern Munich II | 1 | (0) |
| 2012–2013 | Sporting CP | 9 | (0) |
| 2013 | → Celta de Vigo (mượn) | 10 | (0) |
| 2013–2016 | Panathinaikos | 80 | (9) |
| 2016–2017 | Koper | 20 | (1) |
| 2017–2019 | Anorthosis Famagusta | 61 | (6) |
| 2019–2020 | Ayia Napa | 17 | (1) |
| 2020–2021 | Omonia Psevda | 13 | (1) |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2002–2004 | U-21 Croatia | 15 | (1) |
| 2004–2015 | Croatia | 58 | (1) |
| Sự nghiệp huấn luyện | |||
| Năm | Đội | ||
| 2020–2021 | Omonia Psevda (cầu thủ-huấn luyện viên) | ||
| 2021 | Dubrava | ||
| 2022–2023 | Trnje | ||
| 2023 | Sloboda Tuzla | ||
| 2023–2024 | Achyronas-Onisilos | ||
| 2024 | GOŠK Gabela | ||
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia | |||
Pranjić đạt được nhiều thành công nhất cùng đội bóng Bundesliga Bayern Munich, nơi ông giành cú đúp danh hiệu ở mùa giải 2009–10 và vào đến chung kết Champions League 2010 cũng như chung kết Champions League 2012. Pranjić cũng từng thi đấu cho các câu lạc bộ tại Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Slovenia và Síp. Ở cấp độ quốc tế, ông ra mắt Croatia vào năm 2004 và tham dự ba giải đấu lớn cùng đội tuyển quốc gia, gồm Euro 2008, Euro 2012 và Giải vô địch bóng đá thế giới 2014.
Sau khi giải nghệ cầu thủ, Pranjić dẫn dắt các câu lạc bộ hạng dưới Croatia là Dubrava[2] và Trnje. Ông cũng từng dẫn dắt các đội bóng Bosnia Sloboda Tuzla[3] và GOŠK Gabela, cũng như câu lạc bộ Síp Achyronas-Onisilos.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Sinh ra tại Našice, Pranjić bắt đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ quê nhà NAŠK.[4] Ông cũng từng thi đấu cho Papuk và Belišće trước khi được đội bóng hàng đầu Croatia Osijek chiêu mộ vào năm 2002. Pranjić chuyển đến Dinamo Zagreb hai mùa giải sau đó, vào năm 2004. Trong thời gian khoác áo Dinamo Zagreb, ông cũng thường xuyên thi đấu trong chiến dịch Cúp UEFA của đội, có sáu lần ra sân và ghi một bàn tại giải đấu này.
Năm 2005, Pranjić chuyển đến đội bóng Eredivisie của Hà Lan Heerenveen. Những màn trình diễn tốt ở vai trò cầu thủ chạy cánh tấn công giúp ông trở lại đội tuyển quốc gia Croatia vào năm 2007. Ông khởi đầu mùa giải Eredivisie ấn tượng khi ghi bốn bàn trong ba trận đầu tiên tại giải vô địch quốc gia. Pranjić lập hat-trick đầu tiên tại Cúp KNVB vào ngày 12 tháng 11 năm 2008 trong chiến thắng đậm 7–0 trước Haaglandia. Ngày 31 tháng 1 năm 2009, ông ghi bàn thắng duy nhất giúp Heerenveen đánh bại Ajax. Một tháng sau, Pranjić ghi bàn từ chấm phạt đền ở cuối trận, giúp Heerenveen thắng PSV 3–2. Ông giành Cúp KNVB cùng Heerenveen vào cuối mùa giải 2008–09, trong trận đấu sau đó trở thành lần ra sân cuối cùng của ông cho câu lạc bộ.[5]
Vào tháng 6 năm 2009, Bayern Munich thông báo Pranjić sẽ gia nhập câu lạc bộ.[6][7] Ông gặp khó khăn trong việc tạo ảnh hưởng ở mùa giải đầu tiên với câu lạc bộ, chỉ đá chính 14 trận và mất vị trí vào tay hậu vệ trái số một Holger Badstuber. Tuy nhiên, nhờ tính đa năng và các chấn thương của đồng đội, ông được đá chính nhiều hơn trong mùa giải thứ hai cùng đội bóng xứ Bavaria.
Ngày 13 tháng 7 năm 2012, sau khi hợp đồng với Bayern hết hạn, Pranjić được công bố là tân binh của đội bóng Giải bóng đá Ngoại hạng Bồ Đào Nha Sporting CP. Ông thi đấu chín trận cho Os Leões trước khi gia nhập câu lạc bộ La Liga của Tây Ban Nha Celta de Vigo vào tháng 1 năm 2013 theo dạng cho mượn đến hết mùa giải.[8] Ngày 30 tháng 8 năm 2013, Pranjić và Sporting chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận chung.[9]
Ngày 2 tháng 9 năm 2013, có thông báo chính thức rằng Pranjić đã ký hợp đồng ba năm với Panathinaikos.[10] Ông có trận ra mắt chuyên nghiệp trong trận hòa 1–1 trên sân khách trước Platanias.
Ngày 11 tháng 9 năm 2016, Pranjić gia nhập câu lạc bộ Slovenia Koper theo dạng chuyển nhượng tự do.[11] Ngày 21 tháng 7 năm 2017, ông ký hợp đồng với câu lạc bộ Síp Anorthosis.[12] Ngày 1 tháng 7 năm 2019, Pranjić ký hợp đồng với Ayia Napa, đội đang thi đấu tại Cypriot Second Division.[13][14]
Sự nghiệp quốc tế
Pranjić bắt đầu sự nghiệp quốc tế với đội U-21 Croatia, có tổng cộng 15 lần khoác áo đội và ghi một bàn trong giai đoạn 2002-2004.
Ngày 16 tháng 11 năm 2004, Pranjić có trận ra mắt đội tuyển quốc gia Croatia trong một trận đấu giao hữu gặp Cộng hòa Ireland. Sau hai năm vắng mặt ở đội tuyển quốc gia, ông được triệu tập cho trận giao hữu gặp Na Uy vào tháng 2 năm 2007. Cuối năm đó, ông cũng ra sân trong ba trận vòng loại UEFA Euro 2008.
Được huấn luyện viên Croatia Slaven Bilić yêu cầu thi đấu trong vai trò phòng ngự, dù chủ yếu vẫn là tiền vệ trong sự nghiệp câu lạc bộ, Pranjić là cầu thủ Croatia duy nhất đá chính cả bốn trận tại vòng chung kết Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008. Pranjić kiến tạo cho Darijo Srna ghi bàn mở tỷ số trong chiến thắng 2–1 của Croatia trước Đức và kiến tạo cho Ivan Klasnić ghi bàn duy nhất trong trận tiếp theo, chiến thắng 1–0 trước Ba Lan.
Ông tiếp tục giữ vị trí thường xuyên trong đội tuyển quốc gia trong chiến dịch vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2010 không thành công của đội, ra sân tổng cộng chín trận. Ngày 28 tháng 9 năm 2012, Pranjić giã từ đội tuyển quốc gia để phản đối việc triệu tập cầu thủ sinh ra ở Brasil Sammir.[15]
Ngày 10 tháng 11 năm 2013, Niko Kovač triệu tập Pranjić trở lại đội tuyển quốc gia sau khi Ivan Strinić dính chấn thương và không thể tham dự trận play-off vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 gặp Iceland.[16] Ông được gọi vào danh sách 23 cầu thủ Croatia tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2014.
Trận đấu cuối cùng của Pranjić cho Croatia là trận vòng loại Euro 2016 gặp Azerbaijan vào tháng 9 năm 2015.[17] Ông có tổng cộng 58 lần khoác áo đội tuyển và ghi 1 bàn.[18]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
| Thành tích câu lạc bộ | League | Cúp | Châu lục | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Mùa giải | Câu lạc bộ | Giải vô địch | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng |
| Croatia | League | Cúp Croatia | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 2002–03 | Osijek | Prva HNL | 30 | 1 | 30 | 1 | ||||
| 2003–04 | 23 | 2 | 23 | 2 | ||||||
| 2004–05 | Dinamo Zagreb | Prva HNL | 29 | 2 | 6 | 1 | 35 | 3 | ||
| Hà Lan | League | Cúp KNVB | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 2005–06 | Heerenveen | Eredivisie | 32 | 5 | 2 | 0 | 8 | 0 | 42 | 5 |
| 2006–07 | 34 | 2 | 1 | 0 | 6 | 1 | 41 | 3 | ||
| 2007–08 | 33 | 9 | 2 | 0 | 2 | 0 | 37 | 9 | ||
| 2008–09 | 30 | 16 | 2 | 3 | 4 | 1 | 36 | 20 | ||
| Đức | League | DFB-Pokal | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 2009–10 | Bayern Munich | Bundesliga | 20 | 1 | 2 | 0 | 7 | 0 | 29 | 1 |
| 2010–11 | 28 | 0 | 4 | 0 | 7 | 0 | 39 | 0 | ||
| 2011–12 | 7 | 0 | 1 | 0 | 5 | 0 | 13 | 0 | ||
| Bồ Đào Nha | League | Cúp bóng đá Bồ Đào Nha | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 2012–13 | Sporting CP | Giải bóng đá Ngoại hạng Bồ Đào Nha | 9 | 0 | 2 | 0 | 6 | 1 | 17 | 1 |
| Tây Ban Nha | League | Cúp Nhà vua Tây Ban Nha | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 2012–13 | Celta de Vigo | La Liga | 10 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 10 | 0 |
| Hy Lạp | League | Cúp bóng đá Hy Lạp | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 2013–14 | Panathinaikos | Giải bóng đá vô địch quốc gia Hy Lạp | 28 | 5 | 7 | 0 | 0 | 0 | 35 | 5 |
| 2014–15 | 29 | 4 | 1 | 0 | 10 | 0 | 40 | 4 | ||
| 2015–16 | 23 | 0 | 6 | 0 | 4 | 0 | 33 | 0 | ||
| Slovenia | League | Cúp bóng đá Slovenia | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 2016–17 | Koper | PrvaLiga | 20 | 1 | 20 | 1 | ||||
| Síp | League | Cúp bóng đá Síp | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 2017–18 | Anorthosis Famagusta | First Division | 32 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 32 | 1 |
| 2018–19 | 29 | 5 | 0 | 0 | 2 | 1 | 31 | 6 | ||
| 2019–20 | Ayia Napa | Second Division | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 |
| Tổng cộng | Croatia | 82 | 5 | 6 | 1 | 88 | 6 | |||
| Hà Lan | 129 | 32 | 7 | 3 | 20 | 2 | 156 | 37 | ||
| Đức | 55 | 1 | 7 | 0 | 19 | 0 | 81 | 1 | ||
| Bồ Đào Nha | 9 | 0 | 2 | 0 | 6 | 1 | 17 | 1 | ||
| Tây Ban Nha | 10 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 10 | 0 | ||
| Hy Lạp | 80 | 9 | 14 | 0 | 14 | 0 | 108 | 9 | ||
| Slovenia | 20 | 1 | 20 | 1 | ||||||
| Síp | 61 | 6 | 0 | 0 | 2 | 1 | 63 | 7 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 446 | 54 | 30 | 3 | 67 | 5 | 543 | 62 | ||
Bàn thắng quốc tế
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Croatia trước.
Bản mẫu:International goal header |-
| 1 || 28 tháng 3 năm 2015 || Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia || Na Uy ||
||
|| Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016
|}
Huấn luyện
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 26 tháng 10 năm 2024[19]
| Đội bóng | Từ | Đến | Thành tích | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| St | T | H | B | BT | BB | HS | % Thắng | |||
| Omonia Psevda (cầu thủ-huấn luyện viên) | 8 tháng 9 năm 2020 | 15 tháng 4 năm 2021 | 30 | 9 | 6 | 15 | 37 | 50 | −13 | 30,00 |
| Dubrava | 1 tháng 7 năm 2021 | 10 tháng 8 năm 2021 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | +0 | — |
| Trnje | 20 tháng 1 năm 2022 | 21 tháng 3 năm 2023 | 39 | 16 | 11 | 12 | 66 | 60 | +6 | 41,03 |
| Sloboda Tuzla | 22 tháng 3 năm 2023 | 12 tháng 6 năm 2023 | 10 | 2 | 2 | 6 | 10 | 17 | −7 | 20,00 |
| Achyronas-Onisilos | 1 tháng 7 năm 2023 | 15 tháng 1 năm 2024 | 16 | 4 | 7 | 5 | 18 | 17 | +1 | 25,00 |
| GOŠK Gabela | 14 tháng 8 năm 2024 | 27 tháng 10 năm 2024 | 9 | 1 | 1 | 7 | 7 | 21 | −14 | 11,11 |
| Tổng cộng | 104 | 32 | 27 | 45 | 138 | 165 | −27 | 30,77 | ||
Danh hiệu
Cầu thủ
Heerenveen
Bayern Munich
- Bundesliga: 2009–10
- DFB-Pokal: 2009–10
- DFL-Supercup: 2010
- Á quân UEFA Champions League: 2009–10, 2011–12
Panathinaikos
Tham khảo
- ^ a b "2014 FIFA World Cup Brazil: List of Players: Croatia" (PDF). FIFA. ngày 14 tháng 7 năm 2014. tr. 12. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2020.
- ^ "Pranjić je u Dubravi izdržao tek mjesec dana!". Sportklub (bằng tiếng Croatia). ngày 11 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2023.
- ^ "Danijel Pranjić još nije potvrdno odgovori tuzlanskoj Slobodi na ponudu da preuzme momčad u borbi za opstanak". SportNews (bằng tiếng Croatia). ngày 21 tháng 3 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2023.
- ^ "Danijel Pranjic". FC Bayern Munich. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2010.
- ^ "Laatste duel voor Pranjic" (bằng tiếng Hà Lan). sportwereld.nl. ngày 13 tháng 5 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2009.
- ^ "Danijel Pranjic to sign for Bayern". Bayern Munich. ngày 22 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2009.
- ^ "Pranjic heeft eindelijk gewenste droomtransfer" (bằng tiếng Hà Lan). SC Heerenveen. ngày 22 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2009.
- ^ "Danijel Pranjic assina por três anos (Danijel Pranjic signs for three years)". Record (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Cofina. ngày 13 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2012.
- ^ "Pranjic farewell to Alvalade". Sporting Clube de Portugal. ngày 30 tháng 8 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2013.
- ^ "Συμφωνία με Pranjic" (bằng tiếng Hy Lạp). Panathinaikos. ngày 2 tháng 9 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013.
- ^ A.V. (ngày 11 tháng 9 năm 2016). "Nekdanji član Bayerna Pranjić v Kopru" [Former Bayern member sign for Koper] (bằng tiếng Slovenia). RTV Slovenija. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2016.
- ^ Ανορθωσιάτης ο Ντάνιελ Πράνιτς (bằng tiếng Hy Lạp). Anorthosis Famagusta FC. ngày 21 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2017.
- ^ "Danijel Pranjić baš ne želi odustati. Sada je potpisao ugovor s ciparskim drugoligašem" [Danijel Pranjić just does not want to give up. He just signed a contract with a Cypriot second league club]. telesport.telegram.hr (bằng tiếng Croatia). ngày 1 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019.
- ^ Aalbers, Dave (ngày 3 tháng 6 năm 2020). "Danijel Pranjić over lange nachten in Heerenveen, Van Gaal en vikings". vice.com (bằng tiếng Hà Lan). Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Pranjić napušta reprezentaciju: "Rekao sam da ću otići ako pozovu Sammira!"" (bằng tiếng Croatia). index.hr. ngày 27 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Zbog ozljede Strinića Niko Kovač za Island pozvao Danijela Pranjića" (bằng tiếng Croatia). hrsport.net. ngày 10 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2013.
- ^ "Player Database". EU-football. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2022.
- ^ "Appearances for Croatia National Team". RSSSF. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2022.
- ^ "Danijel Pranjić". Sofascore. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2024.
Liên kết ngoài
- Lỗi Lua trong Mô_đun:External_links tại dòng 369: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).