Bước tới nội dung

FK RFS

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
RFS
Tập tin:FK RFS logo.svg
Tên đầy đủBiedrība FC RFS[1]
Futbola klubs RFS
Thành lập2016; 10 năm trước (2016)
(tiền thân FSK Daugava 90 thành lập vào 19 tháng 5 năm 2005; 21 năm trước (2005-05-19))
SânLNK Sporta Parks
Sức chứa2.300
Chủ tịch điều hànhArtjoms Milovs
Người quản lýViktors Morozs
Giải đấuVirslīga
2025Virslīga, thứ 2 trên 10
Websitefkrfs.lv
Mùa giải hiện nay

FK RFS (còn gọi là FC RFS) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Latvia có trụ sở tại Riga. Câu lạc bộ thi đấu tại Virslīga, hạng đấu cao nhất của bóng đá Latvia. Câu lạc bộ tồn tại dưới hình thức hiện tại từ năm 2016, với các đội tiền thân có từ năm 2005.

Đội thường mặc trang phục sân nhà màu xanh lam và trang phục sân khách màu trắng. Sau sáu năm đầu tiên thi đấu tại Sân vận động Jānis Skredelis, RFS chuyển sang thi đấu tại LNK Sporta Parks do tư nhân tài trợ từ năm 2022.

RFS đã ba lần vô địch Latvia (2021, 2023, 2024) và ba lần giành Cúp bóng đá Latvia (2019, 2021, 2024). Năm 2022, câu lạc bộ được vinh danh là Câu lạc bộ thể thao xuất sắc nhất tại Riga. Cùng năm đó, RFS trở thành câu lạc bộ Latvia thứ hai giành quyền vào vòng bảng một giải đấu châu Âu, sau Ventspils mùa 2009–10, sau khi đánh bại Linfield ở vòng play-off UEFA Europa Conference League. Tháng 1 năm 2025, RFS ghi nhận chiến thắng đầu tiên của một câu lạc bộ Latvia tại vòng bảng UEFA Europa League, khi đánh bại Ajax.

Lịch sử

Nguồn gốc

Cho đến năm 2003, nòng cốt của câu lạc bộ tương lai là một đội trẻ gồm các cầu thủ sinh năm 1990–91 thuộc JFK Skonto, học viện của FK Skonto, do Vladimirs Beļajevs huấn luyện. Năm 2003, Beļajevs cùng các cầu thủ rời đi để thành lập Futbola sporta skola Daugava (FSK Daugava).

Ngày 19 tháng 5 năm 2005, câu lạc bộ bán chuyên nghiệp FSK Daugava 90 được thành lập, dựa trên các cầu thủ sinh năm 1989–99. Đội tham dự Latvian First League vào năm 2007 và đổi tên thành FK Daugava vào năm sau. Sau khi giành quyền thăng hạng năm 2008, họ xuống hạng khỏi Virslīga vào năm 2009.

Từ năm 2009 đến năm 2011, câu lạc bộ hoạt động với tên Rīgas futbola skola[2] (không liên quan đến học viện Riga Football School thành lập năm 1962).[3][4] Pháp nhân hiện tại, biedrība FC RFS, được đăng ký vào ngày 9 tháng 9 năm 2009.[2]

Rīgas futbola skola xếp thứ ba tại 1. līga trong mùa 2015, chỉ lỡ cơ hội thăng hạng. Năm 2016, sau khi giấy phép của Skonto FC bị thu hồi, Liên đoàn bóng đá Latvia trao suất của đội này cho câu lạc bộ, đội sau đó đổi thương hiệu thành RFS và trở lại Virslīga.[5]

Ổn định vị trí (2016–2017)

Với thời gian chuẩn bị hạn chế, RFS chiêu mộ các cầu thủ giàu kinh nghiệm, bao gồm Ritus KrjauklisAleksejs Višņakovs. Câu lạc bộ kết thúc mùa 2016 ở vị trí thứ sáu, chỉ hơn nhóm đá play-off xuống hạng. Những thay đổi trên băng ghế huấn luyện dẫn đến việc Jurijs Ševļakovs tiếp quản đội.

Trong mùa 2017, dưới thời Andrejs Kaļiņins, RFS bổ sung Aleksandrs Cauņa, Roberts SavaļnieksLasha Shergelashvili. Tiền đạo trẻ Roberts Uldriķis ghi hai bàn trong trận ra mắt gặp nhà vô địch Jūrmalas Spartaks. Đội kết thúc thứ năm, chỉ kém suất dự cúp châu Âu.

Thành công đầu tiên (2018–2020)

Valdas Dambrauskas được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng vào tháng 12 năm 2017. RFS xếp thứ ba trong mùa 2018, qua đó lần đầu tiên giành quyền dự cúp châu Âu. Lối chơi tấn công của đội ghi được 57 bàn sau 28 trận.

Trong mùa 2019, các bản hợp đồng đáng chú ý gồm Tomáš Šimkovič, Slavko Blagojević và tiền đạo Darko Lemajič. RFS về nhì tại giải vô địch và giành Cúp bóng đá Latvia, danh hiệu lớn đầu tiên của câu lạc bộ. Lần ra mắt châu Âu của họ kết thúc ở vòng loại thứ nhất trước Olimpija Ljubljana.

Trong mùa 2020, Dambrauskas rời đội để đến HNK Gorica, còn trợ lý Viktors Morozs tiếp quản. RFS một lần nữa về nhì trong mùa giải bị ảnh hưởng bởi COVID-19, với cầu thủ Brazil được mượn là Emerson kết thúc mùa với tư cách vua phá lưới.

Cú đúp (2021)

RFS tăng cường lực lượng với Emerson, Tomislav Šarić và một số cầu thủ khác. Tại châu Âu, họ loại Klaksvíkar ÍtróttarfelagPuskás Akadémia trước khi dừng bước trước KAA Gent. Trong nước, RFS giành cả Cúp bóng đá Latvia và danh hiệu Virslīga đầu tiên, qua đó đạt cú đúp quốc nội.

Đột phá tại châu Âu (2022)

RFS ra mắt tại vòng loại Champions League, thua HJK Helsinki và rơi xuống Europa Conference League. Sau khi loại HiberniansLinfield, họ lọt vào vòng bảng, chỉ là câu lạc bộ Latvia thứ hai làm được điều này.

Tại giải vô địch, RFS tụt xuống vị trí thứ ba và thua chung kết Cúp Latvia trước FK Auda. Ở châu Âu, họ hòa FiorentinaIstanbul Başakşehir nhưng kết thúc cuối bảng.

Giành lại chức vô địch (2023)

RFS chính thức đổi tên pháp lý thành FC RFS vào tháng 5 năm 2023. Dù khởi đầu bất bại, họ đứng sau Riga FC trong phần lớn mùa giải. Ở vòng cuối, RFS vượt qua đối thủ để giành chức vô địch Virslīga thứ hai. Họ bị Sabah FK loại ở vòng loại cúp châu Âu.

Europa League và sự thống trị trong nước (2024)

Trong năm 2024, RFS đánh bại LarneUE Santa Coloma ở vòng loại, cuối cùng lọt vào vòng bảng UEFA Europa League sau khi đánh bại APOEL.[6][7] Ngày 23 tháng 1 năm 2025, họ đánh bại Ajax 1–0, đánh dấu chiến thắng đầu tiên của Latvia trong một trận đấu vòng bảng UEFA.[8][9]

Sân nhà

Ban đầu, RFS thi đấu tại nhiều địa điểm khác nhau trước khi ổn định tại Sân vận động Jānis Skredelis (2016–2022). Từ giữa năm 2022, họ đặt trụ sở tại LNK Sporta Parks, một tổ hợp hiện đại do LNK Properties xây dựng. Cơ sở này có hai sân cỏ tự nhiên, ba sân cỏ nhân tạo và các sân tập. Một số trận đấu châu Âu được tổ chức tại Sân vận động Skonto hoặc Sân vận động Daugava.[10]

Kỷ lục và thống kê

Kình địch

Derby Riga

RFS có mối kình địch gay gắt với Riga FC, khi cả hai câu lạc bộ nổi lên thành các thế lực thống trị từ năm 2016. Mỗi đội đã giành ba chức vô địch quốc gia. Trận derby này là trận đấu cấp câu lạc bộ Latvia có lượng khán giả cao nhất, trung bình khoảng 3.000 người xem.

Trong văn hóa đại chúng

Loạt phim tài liệu năm 2022 Fight for the Dream 22′, do Rimvydas Čekavičius đạo diễn, theo chân RFS trong chiến dịch UEFA Europa Conference League 2022–23 của họ. Loạt phim gồm sáu phần mô tả cả những khoảnh khắc trong và ngoài sân cỏ trong hành trình châu Âu lịch sử của đội.

Thành tích châu Âu

Tính đến trận đấu diễn ra ngày 30 tháng 7 năm 2025
Giải đấu ST T H B BT BB ±
UEFA Champions League 10 5 0 5 13 14 –1
UEFA Europa League 14 3 2 9 17 16 +1
UEFA Conference League 20 6 6 8 28 29 −1
Tổng cộng 44 14 8 22 58 59 –1
Mùa giải Giải đấu Vòng Câu lạc bộ Sân nhà Sân khách Tổng tỉ số
2019–20 UEFA Europa League VL1 Slovenia Olimpija Ljubljana 0–2 3–2 3–4
2020–21 UEFA Europa League VL1 Serbia Partizan 0–1
2021–22 UEFA Conference League VL1 Quần đảo Faroe 2–3 4–2 (s.h.p.) 6–5
VL2 Hungary Puskás Akadémia 3–0 2–0 5–0
VL3 Bỉ Gent 0–1 2–2 2–3
2022–23 UEFA Champions League VL1 Phần Lan HJK 2–1 (s.h.p.) 0–1 2–2 (4–5 p)
UEFA Conference League VL3 Malta Hibernians 1–1 3–1 4–2
PO Bắc Ireland Linfield 2–2 1–1 (s.h.p.) 3–3 (4–2 p)
VB Thổ Nhĩ Kỳ Başakşehir 0–0 0–3 Hạng 4
Ý Fiorentina 0–3 1–1
Scotland Hearts 0–2 1–2
2023–24 UEFA Conference League VL1 Bắc Macedonia Makedonija GP 4–1 1–0 5–1
VL2 Azerbaijan Sabah 0–2 1–2 1–4
2024–25 UEFA Champions League VL1 Bắc Ireland Larne 3–0 4–0 7–0
VL2 Na Uy Bodø/Glimt 1–3 0–4 1–7
UEFA Europa League VL3 Andorra UE Santa Coloma 7–0 2–0 9–0
PO Síp APOEL 2–1 1–2 (s.h.p.) 3–3 (4–2 p)
VĐH Hà Lan Ajax 1–0 Thứ 32
Đức Eintracht Frankfurt 0–1
Hy Lạp PAOK 0–2
Israel Maccabi Tel Aviv 1–2
Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray 2–2
Ukraina Dynamo Kyiv 0–1
Bỉ Anderlecht 1–1
România FCSB 1–4
2025–26 UEFA Champions League VL1 Estonia FCI Levadia 1–0 1–0 2–0
VL2 Thụy Điển Malmö FF 1–4 0–1 1–5
UEFA Europa League VL3 Phần Lan KuPS 1–2 0–1 1–3
UEFA Conference League PO Malta Hamrun Spartans 2–2 0–1 2–3
2026–27 UEFA Conference League VL1
Ghi chú
  • VL: Vòng loại
  • VB: Vòng bảng
  • VĐH: Vòng đấu hạng

Xếp hạng câu lạc bộ UEFA

Tính đến 1 tháng 10 năm 2025[11]
Hạng Đội Điểm
123 Bỉ KRC Genk 13.000
124 Bỉ Cercle Brugge K.S.V. 12.750
125 Latvia FK RFS 12.500
126 Thụy Sĩ Servette FC 12.500
127 Kazakhstan FC Astana 12.500

Danh hiệu

Cầu thủ

Đội hình hiện tại

Tính đến 14 tháng 2 năm 2026[12]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
3 Nigeria Victor Osuagwu
4 HV Latvia Roberts Veips
5 HV Latvia Niks Sliede
6 HV Serbia Aleksandar Filipović
7 Bờ Biển Ngà Ismaël Diomandé
8 TV Gruzia Lasha Odisharia
10 TV Latvia Jānis Ikaunieks
11 HV Latvia Roberts Savaļnieks
16 TM Latvia Jevgēņijs Ņerugals
17 Bờ Biển Ngà Cedric Kouadio
18 TV Latvia Dmitrijs Zelenkovs
20 Nigeria Kingsley Emenike (được mượn từ Jelgava)
21 TV Latvia Niks Dusalijevs (được mượn từ Tukums)
22 Serbia Darko Lemajić
Số VT Quốc gia Cầu thủ
23 HV Albania Herdi Prenga
24 TV Nhật Bản Mikaze Nagasawa
26 TV Serbia Stefan Panić
27 TV Bồ Đào Nha Matheus Clemente
30 TV Gambia Rasid Njie
35 TM Croatia Marko Marić
43 HV Slovenia Žiga Lipušček (đội trưởng)
49 TV Latvia Mārtiņš Ķigurs
66 TV Gambia Modou Saidy
70 Sénégal Mor Talla
77 Cộng hòa Dân chủ Congo Gauthier Mankenda
81 TV Serbia Strahinja Rakić
99 HV Nigeria Shina Kumater

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
14 Bờ Biển Ngà Mamadou Sylla (tại BFC Daugavpils đến ngày 31 tháng 12 năm 2026)
- TM Latvia Sergej Vilkovs (tại Super Nova đến ngày 31 tháng 12 năm 2026)
- HV Ukraina Maksym Derkach (tại Tukums đến ngày 31 tháng 12 năm 2026)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
- TV Argentina Facundo García (tại Super Nova đến ngày 31 tháng 12 năm 2026)
- Cameroon Rostand Ndjiki (tại BFC Daugavpils đến ngày 31 tháng 12 năm 2026)
- Ukraina Daniel Kivinda (tại BFC Daugavpils đến ngày 31 tháng 12 năm 2026)

Nhân sự

Ban huấn luyện hiện tại

Chức vụ Nhân sự
Huấn luyện viên trưởng Latvia Viktors Morozs
Trợ lý huấn luyện viên Latvia Vladimirs Žavoronkovs
Huấn luyện viên thủ môn Nga Anton Savchenkov
Huấn luyện viên thể lực Latvia Oļegs Semjonovs
Chuyên viên trị liệu thể thao Latvia Dmitrijs Jefremenkovs, Rihards Ūdris
Chuyên viên phân tích kỹ thuật Latvia Iļja Ščaņicins
Trưởng bộ phận truyền thông &
liên lạc
Litva Paulius Jakelis
Nhiếp ảnh gia Latvia Sanita Ieva Sparāne

Ban quản lý

Chức vụ Nhân sự
Chủ tịch Latvia Artjoms Milovs
Tổng giám đốc Latvia Māris Verpakovskis
Giám đốc bóng đá Latvia Aleksandrs Usovs
Giám đốc điều hành Latvia Nikolajs Kulmanakovs
Quản trị viên đội Latvia Kirils Butovskis

Tham khảo

  1. ^ IT, LURSOFT (ngày 25 tháng 1 năm 2025). "FC RFS, 40008145940 - company data". Lursoft IT.
  2. ^ a b "FC RFS, 40008145940 - company data". Lursoft IT (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2024.
  3. ^ SkolaRFS62. "Par skolu". Rīgas Futbola Skola (bằng tiếng Latvia). Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2024.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  4. ^ "Rīgas Futbola skola - Latvian Football Federation". lff.lv. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2024.
  5. ^ Karel Stokkermans (ngày 14 tháng 4 năm 2016). "Pirma Liga". Latvia 2015. RSSSF. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2018.
  6. ^ "FK Rīgas FS Scores and Fixtures, All Competitions". FBref.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2024.
  7. ^ "Fixture schedule confirmed for Europa League". ESPN.com. ngày 31 tháng 8 năm 2024.
  8. ^ "FCSB 4-1 RFS (26 Sep, 2024) Final Score - ESPN (UK)". ESPN.
  9. ^ "Ajax embarrassed in Latvia as they lose 1-0 to RFS in the UEFA Europa League | NL Times". nltimes.nl. ngày 23 tháng 1 năm 2025.
  10. ^ "Live: Rigas FS-Ajax". parool.nl (bằng tiếng Hà Lan). ngày 23 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2025.
  11. ^ "Member associations - UEFA rankings - Club coefficients". UEFA. ngày 1 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2025.
  12. ^ "Komanda – FK RFS". FK RFS. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2019.

Liên kết ngoài