Kristoffer Olsson
|
Tập tin:Sweden-Slovenia Nations League 2022-09-27 58.jpg Olsson trong màu áo Thụy Điển năm 2022 | |||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Mats Kristoffer Olsson[1] | ||||||||||||||||
| Ngày sinh | 30 tháng 6, 1995 | ||||||||||||||||
| Nơi sinh | Norrköping, Thụy Điển | ||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,78 m | ||||||||||||||||
| Vị trí | Tiền vệ | ||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||
Đội hiện nay | IK Sleipner | ||||||||||||||||
| Số áo | 20 | ||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||
| –2005 | IK Sleipner | ||||||||||||||||
| 2005–2011 | IFK Norrköping | ||||||||||||||||
| 2011–2013 | Arsenal | ||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2013–2014 | Arsenal | 0 | (0) | ||||||||||||||
| 2014 | → Midtjylland (mượn) | 6 | (0) | ||||||||||||||
| 2015–2017 | Midtjylland | 44 | (2) | ||||||||||||||
| 2017–2018 | AIK | 58 | (7) | ||||||||||||||
| 2019–2021 | Krasnodar | 59 | (4) | ||||||||||||||
| 2021–2023 | Anderlecht | 36 | (0) | ||||||||||||||
| 2022–2023 | → Midtjylland (mượn) | 23 | (5) | ||||||||||||||
| 2023–2025 | Midtjylland | 13 | (0) | ||||||||||||||
| 2025– | IK Sleipner | 12 | (0) | ||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2010–2012 | U-17 Thụy Điển | 19 | (3) | ||||||||||||||
| 2012–2014 | U-19 Thụy Điển | 15 | (2) | ||||||||||||||
| 2014–2017 | U-21 Thụy Điển | 27 | (6) | ||||||||||||||
| 2017–2023 | Thụy Điển | 47 | (0) | ||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 23:10, 25 tháng 10 năm 2025 (UTC) ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 17:05, 20 tháng 11 năm 2023 (UTC) | |||||||||||||||||
Mats Kristoffer Olsson (sinh ngày 30 tháng 6 năm 1995) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Thụy Điển thi đấu ở vị trí tiền vệ cho IK Sleipner. Là tuyển thủ quốc gia trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2023, Olsson có 47 lần khoác áo đội tuyển quốc gia Thụy Điển và đại diện cho quốc gia tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Sự nghiệp ban đầu
Sinh ra tại Norrköping, Thụy Điển, Olsson bắt đầu sự nghiệp tại IK Sleipner. Khi 13 tuổi, Olsson được câu lạc bộ Anh Chelsea mời thử việc, tuy nhiên anh không tham dự và sau đó chuyển đến IFK Norrköping. Khi 16 tuổi, Olsson thu hút sự quan tâm từ các câu lạc bộ châu Âu như Juventus và Ajax, cũng như trong nước từ IFK Göteborg. Tuy nhiên, anh ký hợp đồng với Arsenal vào năm 2011[2] với mức phí 200.000 bảng[cần dẫn nguồn] sau hai lần thử việc trước đó tại Arsenal.[3] Trong thời gian thử việc tại Arsenal, anh thi đấu cho đội U-16 Arsenal gặp Crystal Palace và nhờ màn trình diễn của mình, được mời tham dự Ferrolli Cup[4] và Nike Cup.[2] Olsson tiết lộ rằng chính sự thúc đẩy của giám đốc Học viện Arsenal, Liam Brady, người thuyết phục Arsène Wenger ký hợp đồng với anh, đã khiến bản thân Olsson quyết định gia nhập Arsenal.[5]
Arsenal
Olsson lần đầu thi đấu cho Arsenal trong chuyến du đấu Viễn Đông trước mùa giải 2013. Anh ghi bàn đầu tiên cho Arsenal trước đội tuyển quốc gia Indonesia tại Sân vận động Gelora Bung Karno, Jakarta, sau đường chuyền từ Tomáš Rosický.[6] Olsson có trận ra mắt chính thức cho Arsenal vào ngày 25 tháng 9 năm 2013 khi vào sân thay Isaac Hayden ở phút 84 trong một trận Cúp Liên đoàn gặp West Bromwich Albion, nơi anh thực hiện thành công một quả phạt đền khi Arsenal giành chiến thắng và đi tiếp vào vòng sau.[7]
FC Midtjylland
Ngày 2 tháng 9 năm 2014, Arsenal thông báo Olsson chuyển đến FC Midtjylland tại Đan Mạch theo dạng cho mượn đến hết năm 2014.[8] Anh ra mắt câu lạc bộ trong chiến thắng 3–2 trên sân nhà trước OB Odense, vào sân thay Pione Sisto ở phút 78.[9] Ngày 27 tháng 12 năm 2014, câu lạc bộ Đan Mạch thông báo đã đạt thỏa thuận chuyển nhượng vĩnh viễn với Arsenal để biến hợp đồng cho mượn của Olsson thành chính thức, trong đó cầu thủ này ký hợp đồng mới có thời hạn ba năm rưỡi.[10]
AIK
Ngày 31 tháng 1 năm 2017, Olsson ký hợp đồng với câu lạc bộ Allsvenskan AIK.[11]
Krasnodar
Ngày 7 tháng 1 năm 2019, có thông báo rằng Olsson đã ký hợp đồng với FC Krasnodar của Giải bóng đá Ngoại hạng Nga.[12][13]
Anderlecht
Ngày 21 tháng 7 năm 2021, anh ký hợp đồng bốn năm với câu lạc bộ Bỉ Anderlecht.[14]
Trở lại FC Midtjylland
Ngày 31 tháng 8 năm 2022, Olsson trở lại câu lạc bộ cũ FC Midtjylland theo hợp đồng cho mượn một mùa giải kèm tùy chọn mua đứt.[15] Tháng 7 năm 2023, anh hoàn tất việc chuyển nhượng vĩnh viễn đến câu lạc bộ.[16]
Sự nghiệp quốc tế
Olsson đã đại diện cho Thụy Điển ở nhiều cấp độ trẻ và phong cách thi đấu của anh được so sánh với các cựu cầu thủ Arsenal người Thụy Điển như Freddie Ljungberg và Sebastian Larsson.[2] Tháng 1 năm 2015, anh lần đầu được triệu tập lên đội tuyển Thụy Điển cho các trận giao hữu gặp Bờ Biển Ngà và Phần Lan. Tuy nhiên, trong buổi tập đầu tiên với đội, anh bị gãy chân.[17] Tháng 5 năm 2017, Olsson được triệu tập vào đội hình U-21 Thụy Điển tham dự Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu 2017 tổ chức tại Ba Lan.[18]
Ngày 20 tháng 11 năm 2018, Olsson thi đấu trận chính thức đầu tiên cho Thụy Điển trước Nga tại Friends Arena ở Stockholm, trong khuôn khổ UEFA Nations League 2018–19. Olsson đá chính ở hàng tiền vệ và thi đấu gần trọn trận.[cần dẫn nguồn] Trận đấu kết thúc với chiến thắng 2–0 cho đội chủ nhà, giúp Thụy Điển thăng lên League A ở kỳ giải tiếp theo, cũng như giành suất play-off cho UEFA Euro 2020.
Anh là thành viên đội hình Thụy Điển tại UEFA Euro 2020, nơi đội lọt vào vòng 16 đội trước khi bị Ukraina loại.[19]
Đời tư
Tháng 2 năm 2024, Olsson ngã quỵ tại nhà và được đưa khẩn cấp đến Bệnh viện Đại học Aarhus, sau đó phải thở máy. Câu lạc bộ của anh, Midtjylland, đưa ra thông báo cho biết căn bệnh liên quan đến não. Họ cũng nói thêm rằng tình trạng này không liên quan đến tự làm hại bản thân hoặc các yếu tố bên ngoài.[20] Ngày 7 tháng 3, Midtjylland đưa ra thông báo rằng sau nhiều lần chụp chiếu và thăm khám, các bác sĩ chẩn đoán nguyên nhân của việc ngã quỵ là do nhiều cục máu đông nhỏ ở cả hai bên não, gây ra bởi một tình trạng viêm cực kỳ hiếm gặp ở động mạch não. Ngày 14 tháng 4, câu lạc bộ thông báo Olsson đã có tiến triển đáng kể, lấy lại kiểm soát vận động và khả năng nói, trong khi tiếp tục phục hồi chức năng tại Hammel Neurocenter.[21] Ngày 26 tháng 5, anh bất ngờ xuất hiện trên sân sau khi Midtjylland giành chức vô địch Superliga và trao cúp cho đội.[22]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
Bài viết này cần được cập nhật do có chứa các thông tin có thể đã lỗi thời hay không còn chính xác nữa. |
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp quốc gia[a] | Châu lục | Tổng cộng | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Arsenal | 2013–14 | Premier League | 0 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 |
| Midtjylland | 2014–15 | Danish Superliga | 10 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 12 | 0 |
| 2015–16 | Danish Superliga | 27 | 1 | 1 | 0 | 10[b] | 0 | 38 | 1 | |
| 2016–17 | Danish Superliga | 13 | 1 | 1 | 1 | 8[c] | 0 | 22 | 2 | |
| Tổng cộng | 50 | 2 | 4 | 1 | 18 | 0 | 72 | 3 | ||
| AIK | 2017 | Allsvenskan | 29 | 2 | 3 | 0 | 6[c] | 0 | 38 | 2 |
| 2018 | Allsvenskan | 29 | 5 | 5 | 1 | 4[c] | 1 | 38 | 7 | |
| Tổng cộng | 58 | 7 | 8 | 1 | 10 | 1 | 76 | 9 | ||
| Krasnodar | 2018–19 | Giải bóng đá Ngoại hạng Nga | 6 | 0 | 1 | 0 | 4[c] | 0 | 11 | 0 |
| 2019–20 | Giải bóng đá Ngoại hạng Nga | 27 | 1 | 0 | 0 | 7[d] | 0 | 34 | 1 | |
| 2020–21 | Giải bóng đá Ngoại hạng Nga | 26 | 3 | 1 | 0 | 8[e] | 0 | 35 | 3 | |
| Tổng cộng | 59 | 4 | 2 | 0 | 19 | 0 | 80 | 4 | ||
| Anderlecht | 2021–22 | Belgian Pro League | 33 | 0 | 5 | 0 | 4[f] | 0 | 42 | 0 |
| 2022–23 | Belgian Pro League | 3 | 0 | 0 | 0 | 3 | 0 | 6 | 0 | |
| Tổng cộng | 36 | 0 | 5 | 0 | 7 | 0 | 48 | 0 | ||
| Midtjylland (mượn) | 2022–23 | Danish Superliga | 24 | 5 | 1 | 0 | 7[c] | 0 | 32 | 5 |
| Midtjylland | 2023–24 | Danish Superliga | 13 | 0 | 1 | 0 | 6[f] | 0 | 20 | 0 |
| Tổng cộng | 37 | 5 | 2 | 0 | 13 | 0 | 52 | 5 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 240 | 18 | 22 | 2 | 67 | 1 | 329 | 21 | ||
- ^ Bao gồm EFL Cup, Cúp bóng đá Đan Mạch, Svenska Cupen, Cúp bóng đá Nga, Cúp bóng đá Bỉ
- ^ Hai lần ra sân tại UEFA Champions League, tám lần ra sân tại UEFA Europa League
- ^ a b c d e Số lần ra sân tại UEFA Europa League
- ^ Hai lần ra sân tại UEFA Champions League, năm lần ra sân tại UEFA Europa League
- ^ Sáu lần ra sân tại UEFA Champions League, hai lần ra sân tại UEFA Europa League
- ^ a b Số lần ra sân tại UEFA Europa Conference League
Quốc tế
Bài viết này cần được cập nhật do có chứa các thông tin có thể đã lỗi thời hay không còn chính xác nữa. |
.[24]
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Thụy Điển | 2017 | 1 | 0 |
| 2018 | 4 | 0 | |
| 2019 | 10 | 0 | |
| 2020 | 7 | 0 | |
| 2021 | 13 | 0 | |
| 2022 | 8 | 0 | |
| 2023 | 4 | 0 | |
| Tổng cộng | 47 | 0 | |
Danh hiệu
Midtjylland
AIK
U-21 Thụy Điển
Tham khảo
- ^ "Barclays Premier League: notification of shirt numbers" (PDF). Premier League. tr. 1. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2014.
- ^ a b c "Young Guns: Kristoffer Olsson". Arsenal.com. ngày 14 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013.
- ^ "Next big thing at Arsenal? The youth international impressing in pre-season". talkSPORT. ngày 30 tháng 6 năm 1995. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013.
- ^ "Arsenal Complete Ferroli Cup Group Stages – Young Guns | Arsenal News". ngày 30 tháng 4 năm 2011.
- ^ 8, kl 15.24 (ngày 28 tháng 1 năm 2013). "FREDAGSFOKUS: Svensken i Arsenal om Wilsheres beröm – och pingisbråket med PL-stjärnan – Engelska ligan" (bằng tiếng Thụy Điển). fotbollskanalen.se. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - ^ Marioni, Massimo (ngày 14 tháng 7 năm 2013). "Olivier Giroud at the double as Arsenal smash seven past Indonesia Dream Team". Metro. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013.
- ^ "West Bromwich Albion vs. Arsenal – 25 September 2013". Soccerway. ngày 18 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2013.
- ^ "Olsson joins FC Midtjylland on loan". Arsenal Football Club. ngày 2 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Hattrick-Sly sænkede OB i overtiden" (bằng tiếng Đan Mạch). FC Midtjylland. ngày 12 tháng 9 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Lang kontrakt til svensk teenage-talent" (bằng tiếng Đan Mạch). FC Midtjylland. ngày 27 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Kristoffer Olsson klar för AIK Fotboll" (bằng tiếng Thụy Điển). AIK Fotboll. ngày 31 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
- ^ "Kristoffer Olsson lämnar AIK Fotboll" [Kristoffer Olsson rời AIK Fotboll] (bằng tiếng Thụy Điển). AIK. ngày 7 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2019.
- ^ ""КРАСНОДАР" ДОСТИГ ДОГОВОРЕННОСТИ О ТРАНСФЕРЕ КРИСТОФФЕРА ОЛССОНА" [Krasnodar đạt thỏa thuận về việc chuyển nhượng Kristoffer Olsson] (bằng tiếng Nga). FC Krasnodar. ngày 7 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2019.
- ^ "SWEDISH MIDFIELDER KRISTOFFER OLSSON JOINS RSC ANDERLECHT". Anderlecht. ngày 21 tháng 7 năm 2021.
- ^ "FC MIDTJYLLAND HENTER KRISTOFFER OLSSON". fcm.dk. ngày 31 tháng 8 năm 2022.
- ^ "Kristoffer Olsson makes permanent switch to FC Midtjylland". R.S.C. Anderlecht. ngày 3 tháng 7 năm 2023.
- ^ "Sweden's Olsson breaks leg in training". uk.reuters.com. ngày 12 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2015.
- ^ "Truppen till U21-EM uttagen" (bằng tiếng Thụy Điển). Svenskfotboll. ngày 30 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2017.
- ^ "Granqvist och Larsson med i Jannes EM-trupp". www.svenskfotboll.se (bằng tiếng Thụy Điển). ngày 18 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2026.
- ^ "Meddelelse om Kristoffer Olsson" (bằng tiếng Đan Mạch). FC Midtjylland. ngày 27 tháng 2 năm 2024.
- ^ "Kristoffer Olsson gør store fremskridt". FC Midtjylland (bằng tiếng Đan Mạch). ngày 14 tháng 4 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2024.
- ^ Damm, Thomas (ngày 26 tháng 5 năm 2024). "Guldcomeback til Olsson: Kristian Bach Bak var chauffør". Herning Folkeblad (bằng tiếng Đan Mạch). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2024.
- ^ "K. Olsson". Soccerway. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2019.
- ^ "Landslagsdatabasen - Kristoffer Olsson". Svenskfotboll.
Liên kết ngoài
- Kristoffer Olsson tại FC Midtjylland (bằng tiếng Đan Mạch)
- Kristoffer Olsson[liên kết hỏng] tại Danish Superliga (bằng tiếng Đan Mạch)
- Kristoffer Olsson tại SoccerbaseLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Kristoffer Olsson tại WorldFootball.netLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Trang có lỗi kịch bản
- Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả
- Nguồn CS1 tiếng Thụy Điển (sv)
- Nguồn CS1 tiếng Đan Mạch (da)
- Nguồn CS1 tiếng Nga (ru)
- Bài có mô tả ngắn
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Các bài viết sử dụng bản mẫu:Huy chương với vô địch
- Hộp thông tin bản mẫu huy chương cần sửa chữa
- Trang sử dụng infobox3cols có các tham số không có tài liệu
- Bài viết có trích dẫn không khớp
- Bài lỗi thời
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Đan Mạch (da)
- Bài có liên kết hỏng
- Sinh năm 1995
- Cầu thủ bóng đá từ Norrköping
- Nhân vật còn sống
- Cầu thủ bóng đá nam Thụy Điển
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Thụy Điển
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá trẻ quốc gia Thụy Điển
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá U-21 quốc gia Thụy Điển
- Tiền vệ bóng đá nam
- Cầu thủ bóng đá Arsenal F.C.
- Cầu thủ bóng đá FC Midtjylland
- Cầu thủ bóng đá AIK Fotboll
- Cầu thủ bóng đá FC Krasnodar
- Cầu thủ bóng đá RSC Anderlecht
- Cầu thủ Danish Superliga
- Cầu thủ Allsvenskan
- Cầu thủ Giải bóng đá Ngoại hạng Nga
- Cầu thủ Belgian Pro League
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020
- Cầu thủ bóng đá nam Thụy Điển ở nước ngoài
- Cầu thủ bóng đá nam nước ngoài ở Anh
- Cầu thủ bóng đá nam nước ngoài ở Đan Mạch
- Cầu thủ bóng đá nam nước ngoài ở Nga
- Cầu thủ bóng đá nam nước ngoài ở Bỉ
- Vận động viên Thụy Điển ở nước ngoài tại Anh
- Vận động viên Thụy Điển ở nước ngoài tại Đan Mạch
- Vận động viên Thụy Điển ở nước ngoài tại Nga
- Vận động viên Thụy Điển ở nước ngoài tại Bỉ
- Vận động viên thể thao Thụy Điển thế kỷ 21