Leicester City F.C.
| Tập tin:Leicester City crest.svg | ||||
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Leicester City | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh | The Foxes | |||
| Thành lập | 1884 (với tên gọi Leicester Fosse F.C.) | |||
| Sân | Sân vận động King Power | |||
| Sức chứa | 32.259 | |||
| Chủ sở hữu | King Power International Group | |||
| Chủ tịch điều hành | Aiyawatt Srivaddhanaprabha | |||
| Người quản lý | Gary Rowett | |||
| Giải đấu | EFL League One | |||
| 2025–26 | EFL Championship, thứ 23 trên 24 (xuống hạng) | |||
| Website | lcfc | |||
|
| ||||
Câu lạc bộ bóng đá Leicester City (tiếng Anh: Leicester City Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Leicester, East Midlands, Anh. Câu lạc bộ hiện thi đấu tại EFL League One, hạng đấu cao thứ ba của bóng đá Anh.
Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1884 với tên gọi Leicester Fosse F.C., trước khi đổi thành Leicester City vào năm 1919, trùng với thời điểm thành phố Leicester chính thức được trao tư cách thành phố. Họ chuyển đến Filbert Street vào năm 1891, được bầu vào Football League năm 1894, và chuyển sang Sân vận động Walkers gần đó vào năm 2002. Sân vận động này được đổi tên thành Sân vận động King Power như ngày nay vào năm 2011.
Leicester City đã giành 7 danh hiệu lớn trong hệ thống giải bóng đá Anh, bao gồm 1 Premier League, 1 Cúp FA, 3 Cúp Liên đoàn và 2 FA Community Shield. Hiện họ là đội bóng thành công thứ sáu trong bóng đá Anh kể từ đầu thế kỉ 21, là một trong chỉ năm câu lạc bộ đã giành đủ cả ba danh hiệu cúp quốc nội lớn kể từ năm 2000.[1] Chức vô địch Premier League 2015-16 của câu lạc bộ đã thu hút sự chú ý trên toàn cầu, và họ trở thành một trong bảy câu lạc bộ từng vô địch Premier League kể từ khi giải đấu này được thành lập vào năm 1992.[2] Trước mùa giải 2015-16, vị trí cao nhất của Leicester tại giải vô địch là hạng nhì ở First Division 1928-29.
Giai đoạn dài nhất mà câu lạc bộ thi đấu ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh kéo dài từ năm 1957 đến năm 1969. Trong những năm này, Leicester vào ba trận Cúp FA chung kết, lần đầu tiên dự cúp châu Âu, và đạt thành tích cao thứ ba trong lịch sử câu lạc bộ tại giải vô địch. Kể từ đó, câu lạc bộ còn tham dự thêm sáu chiến dịch châu Âu nữa và hai trận Cúp FA chung kết, lọt vào tứ kết UEFA Champions League ở mùa giải 2016-17, vô địch Cúp FA vào năm 2021, và vào bán kết UEFA Europa Conference League ở mùa giải 2021-22. Leicester giành Cúp Liên đoàn vào các năm 1964, 1997 và 2000, đồng thời là á quân ở các mùa giải 1964-65 và 1998-99.
Lịch sử
Thành lập và những năm đầu (1884-1949)
Được thành lập năm 1884 bởi một nhóm cựu học sinh của trường Wyggeston với tên gọi "Leicester Fosse", câu lạc bộ gia nhập The Football Association (FA) vào năm 1890.[3] Trước khi chuyển đến Filbert Street vào năm 1891, câu lạc bộ từng chơi trên năm sân khác nhau, bao gồm Victoria Park ở phía đông nam trung tâm thành phố và Belgrave Road Cycle and Cricket Ground.[4] Câu lạc bộ cũng gia nhập Midland League vào năm 1891, và được bầu vào Division Two của Football League vào năm 1894 sau khi kết thúc mùa giải ở vị trí thứ hai. Trận đầu tiên của Leicester tại Football League là thất bại 3-4 trên sân Grimsby Town, còn chiến thắng đầu tiên tại giải đến vào tuần sau đó trước Rotherham United trên sân Filbert Street. Cũng trong mùa giải đó, đội bóng có chiến thắng đậm nhất tính đến thời điểm ấy, đánh bại Notts Olympic 13-0 ở một trận vòng loại Cúp FA.[5] Ở mùa giải 1907-08, câu lạc bộ về nhì tại Second Division và giành quyền thăng hạng lên First Division, cấp độ cao nhất của bóng đá Anh. Tuy nhiên, câu lạc bộ xuống hạng chỉ sau một mùa giải, trong đó có thất bại nặng nề nhất lịch sử đội bóng, thua Nottingham Forest 0-12.[5][6]
Năm 1919, khi bóng đá giải vô địch trở lại sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Leicester Fosse ngừng hoạt động do khó khăn tài chính. Câu lạc bộ được tái lập với tên gọi "Leicester City Football Club", điều này đặc biệt phù hợp khi khu tự quản Leicester gần đây vừa được trao quy chế thành phố. Sau khi đổi tên, câu lạc bộ đạt được thành công tương đối trong thập niên 1920 dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Peter Hodge, người giúp đội vô địch Division Two ở mùa giải 1924-25. Hodge rời đi vào tháng 5 năm 1926 và hai tháng sau được thay bởi Willie Orr.[7][8] Ở mùa giải 1928-29, câu lạc bộ đạt thành tích cao thứ hai trong lịch sử khi về nhì, chỉ kém The Wednesday đúng một điểm.[3] Tuy nhiên, thập niên 1930 lại chứng kiến sự đi xuống, khi câu lạc bộ xuống hạng ở mùa giải 1934-35. Sau khi thăng hạng trở lại ở mùa giải 1936-37, một lần xuống hạng khác ở mùa giải 1938-39 khiến họ kết thúc thập niên trong Division Two.[9][10][5][11]
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1949-2000)
Leicester lần đầu tiên vào Chung kết Cúp FA trong lịch sử vào năm 1949, nhưng thua Wolverhampton Wanderers 1-3.[5][12] Tuy vậy, câu lạc bộ lại ăn mừng chỉ một tuần sau đó khi một trận hòa ở vòng cuối mùa giải giúp họ trụ lại Division Two.[13][14] Năm 1954, Leicester vô địch Division Two nhờ sự góp sức của Arthur Rowley, một trong những tiền đạo xuất sắc nhất lịch sử câu lạc bộ.[15] Dù từng xuống hạng ở mùa giải trước đó, Leicester dưới sự dẫn dắt của Dave Halliday đã trở lại Division One vào năm 1957, với Rowley ghi kỉ lục câu lạc bộ là 44 bàn trong một mùa giải.[16][7] Leicester trụ lại Division One trong 12 năm, quãng thời gian dài nhất của họ tại hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh cho đến lúc đó. Halliday rời câu lạc bộ vào tháng 10 năm 1958.[17]
Dưới sự dẫn dắt của Matt Gillies, người được bổ nhiệm ngày 8 tháng 11 năm 1958, cùng trợ lí Bert Johnson, Leicester vào thêm hai trận chung kết Cúp FA nữa, nhưng đều thất bại vào các năm 1961 và 1963.[5] Do thua đội giành cú đúp Tottenham Hotspur ở năm 1961, Leicester trở thành đại diện của Anh tại Cúp C2 châu Âu mùa giải 1961-62. Trong phần lớn mùa giải 1962-63, câu lạc bộ dẫn đầu First Division và được đặt biệt danh là "Ice Kings" vì chuỗi phong độ ấn tượng trên những mặt sân băng giá và đóng băng. Leicester cuối cùng kết thúc mùa giải ở vị trí thứ tư, thành tích cao nhất của họ trong giai đoạn hậu chiến. Gillies đã giúp Leicester giành danh hiệu đầu tiên vào năm 1964, khi đội đánh bại Stoke City với tổng tỉ số 4-3 để vô địch Cúp Liên đoàn.[5] Leicester cũng vào chung kết Cúp Liên đoàn mùa giải sau đó, nhưng thua Chelsea với tổng tỉ số 2-3. Gillies và Johnson được ca ngợi vì phiên bản chiến thuật "whirl" và "switch" của họ, một hệ thống trước đó từng được sử dụng bởi đội tuyển Áo và Hungary.[18] Sau khởi đầu tệ hại của mùa giải, Matt Gillies từ chức huấn luyện viên vào tháng 11 năm 1968. Người kế nhiệm ông là Frank O'Farrell, nhưng không thể ngăn câu lạc bộ xuống hạng, dù Leicester vẫn lọt vào trận chung kết Cúp FA năm 1969, nơi họ thua Manchester City 0-1.
Năm 1971, Leicester thăng hạng trở lại First Division và lần đầu tiên giành FA Charity Shield.[5] Do đội giành cú đúp Arsenal bận thi đấu tại cúp châu Âu, Leicester với tư cách vô địch Second Division được mời gặp đội á quân Cúp FA là Liverpool. Leicester thắng trận 1-0 nhờ bàn thắng của Steve Whitworth.[5][19] Jimmy Bloomfield được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới của câu lạc bộ vào tháng 6 năm 1971, và đội bóng duy trì vị thế ở First Division suốt thời gian ông dẫn dắt. Leicester cũng lọt vào bán kết Cúp FA ở mùa giải 1973-74.[20] Frank McLintock, cựu cầu thủ từng gắn bó bảy năm với câu lạc bộ trong giai đoạn thành công từ cuối thập niên 1950 đến giữa thập niên 1960, thay Bloomfield vào năm 1977.
Ngày 19 tháng 3 năm 1977, Winston White trở thành cầu thủ da màu đầu tiên thi đấu cho Leicester, trong một trận sân khách gặp Stoke City.[21] Câu lạc bộ xuống hạng vào cuối mùa giải 1977-78 và McLintock từ chức. Jock Wallace tiếp nối truyền thống những huấn luyện viên người Scotland thành công (sau Peter Hodge và Matt Gillies) bằng việc đưa Leicester vô địch Second Division 1980.[22] Wallace không thể giúp Leicester trụ lại First Division, nhưng đội vẫn vào bán kết Cúp FA năm 1982. Dưới thời Wallace, một trong những cầu thủ cây nhà lá vườn nổi tiếng nhất của Leicester là Gary Lineker đã bước vào đội một.
Huấn luyện viên tiếp theo của Leicester là Gordon Milne, người được bổ nhiệm vào tháng 8 năm 1982. Ông giúp câu lạc bộ thăng hạng một năm sau đó, vào năm 1983. Lineker góp công giúp Leicester giữ được vị trí tại First Division, nhưng bị bán cho Everton vào năm 1985. Hai năm sau, Leicester xuống hạng do không tìm được người thay thế phù hợp để đá cặp cùng Alan Smith, người sau đó cũng bị bán cho Arsenal sau khi Leicester rớt hạng. Milne rời đi năm 1986 và được thay bằng David Pleat vào năm 1987, người dẫn dắt câu lạc bộ đến tháng 1 năm 1991. Gordon Lee thay Pleat và cầm quân đến hết mùa giải 1990-91, giúp Leicester tránh được việc rơi xuống hạng Ba của bóng đá Anh.[5]
Brian Little tiếp quản vào tháng 5 năm 1991 và đến cuối mùa giải 1991-92, Leicester đã vào trận chung kết play-off để tranh suất dự Premier League mới thành lập. Họ thua Blackburn Rovers bởi quả phạt đền của cựu tiền đạo Leicester là Mike Newell. Câu lạc bộ cũng vào chung kết play-off mùa giải sau đó, nhưng thua Swindon Town 3-4. Ở mùa giải 1993-94, Leicester thăng hạng từ vòng play-off ở lần thử thứ ba dưới thời Brian Little, đánh bại đối thủ vùng East Midlands là Derby County 2-1 trong trận chung kết.[5] Little rời ghế huấn luyện Leicester vào tháng 11 năm sau để nhận lời dẫn dắt Aston Villa, và người kế nhiệm ông là Mark McGhee không thể giúp Leicester tránh khỏi vị trí áp chót tại Premier League mùa giải 1994-95.
McGhee bất ngờ rời câu lạc bộ vào tháng 12 năm 1995, khi Leicester đang dẫn đầu Second Division, để nhận công việc tại Wolverhampton Wanderers.[23] Người thay ông là Martin O'Neill.[5] Dưới thời O'Neill, Leicester vào chung kết play-off năm 1996 và giành quyền thăng hạng lên Premier League. Sau khi thăng hạng, Leicester đã tạo được chỗ đứng tại Premier League với bốn mùa giải liên tiếp nằm trong top 10. O'Neill cũng chấm dứt 33 năm chờ đợi một danh hiệu lớn của Leicester khi giúp đội vô địch Cúp Liên đoàn vào các năm 1997 và 2000. Nhờ vậy, câu lạc bộ giành quyền tham dự Cúp UEFA ở các mùa giải 1997-98 và 2000-01, đánh dấu lần đầu tiên Leicester góp mặt ở cúp châu Âu kể từ năm 1961. Vào tháng 6 năm 2000, O'Neill rời Leicester City để tiếp quản Celtic.
Suy thoái đầu thế kỉ 21 (2000-2008)
Martin O'Neill được thay thế bởi cựu huấn luyện viên đội tuyển U-21 Anh là Peter Taylor. Trong giai đoạn này, một trong những chiến dịch châu Âu của Leicester khép lại với thất bại 1-3 trước Red Star Belgrade vào ngày 28 tháng 9 năm 2000 tại Cúp UEFA.[24] Leicester khởi đầu tốt dưới thời Taylor, dẫn đầu Premier League trong hai tuần vào mùa thu và duy trì cuộc đua giành vé dự cúp châu Âu trong phần lớn mùa giải, trước khi sự sụp đổ vào giai đoạn cuối mùa sau thất bại ở bán kết Cúp FA trước Wycombe Wanderers kéo đội xuống vị trí thứ 13 chung cuộc. Taylor bị câu lạc bộ sa thải sau khởi đầu tệ hại ở mùa giải 2001-02, còn người kế nhiệm ông là Dave Bassett chỉ trụ lại được sáu tháng. Bassett được thay bởi trợ lí của mình là Micky Adams - việc thay đổi trên băng ghế chỉ đạo được công bố ngay trước khi việc xuống hạng được xác nhận. Leicester chỉ thắng năm trận tại giải vô địch trong cả mùa giải đó.
Câu lạc bộ chuyển đến sân Sân vận động Walkers mới có sức chứa 32.314 chỗ ngồi vào đầu mùa giải 2002-03, khép lại 111 năm gắn bó với Filbert Street. Walkers, nhà sản xuất khoai tây lát mỏng có trụ sở tại Leicester, đã mua quyền đặt tên sân trong thời hạn 10 năm.[25] Vào tháng 10 năm 2002, câu lạc bộ rơi vào tình trạng quản lí tài chính đặc biệt với khoản nợ 30 triệu bảng Anh. Những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này là việc mất nguồn thu truyền hình (ITV Digital, bản thân công ty này cũng đang trong diện quản lí tài chính đặc biệt, từng hứa trả tiền bản quyền truyền hình cho các câu lạc bộ hạng nhất), quĩ lương quá lớn, mức phí chuyển nhượng thu về từ việc bán cầu thủ cho các câu lạc bộ khác thấp hơn kì vọng, và chi phí xây dựng sân vận động mới.[26] Huấn luyện viên Micky Adams bị cấm tham gia thị trường chuyển nhượng trong phần lớn mùa giải, ngay cả sau khi câu lạc bộ được cứu nhờ một tập đoàn do Gary Lineker đứng đầu tiếp quản.[5] Trong mùa giải đầu tiên tại sân mới, Leicester giành quyền thăng hạng trực tiếp trở lại Premier League với hơn 90 điểm. Tuy nhiên, Leicester lại xuống hạng ở mùa giải kế tiếp, trở lại Championship mới được đổi tên (trước đó là Division One).
Micky Adams từ chức huấn luyện viên vào tháng 10 năm 2004, và Craig Levein được bổ nhiệm làm người thay thế. Câu lạc bộ chia tay Levein sau 15 tháng cầm quân vào ngày 25 tháng 1 năm 2006. Trợ lí huấn luyện viên Rob Kelly tiếp quản với vai trò huấn luyện viên tạm quyền, rồi sau đó được bổ nhiệm chính thức để dẫn dắt đội đến hết mùa giải 2005-06, sau khi thắng ba trong bốn trận đầu tiên phụ trách đội bóng. Kelly đã giúp Leicester trụ hạng và vào tháng 4 năm 2006 được trao công việc huấn luyện viên chính thức.[5]
Vào tháng 10 năm 2006, cựu chủ tịch Portsmouth là Milan Mandarić được trích lời nói rằng ông quan tâm tới việc mua lại câu lạc bộ, với mức giá được cho là khoảng 6 triệu bảng, trong khi đội hình hiện tại được định giá khoảng 4,2 triệu bảng. Thương vụ tiếp quản được công bố chính thức vào ngày 13 tháng 2 năm 2007.[27] Ngày 11 tháng 4 năm 2007, câu lạc bộ chia tay Rob Kelly, và Nigel Worthington được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền cho đến hết mùa giải 2006-07. Worthington đã cứu câu lạc bộ khỏi lần đầu tiên xuống hạng Ba, nhưng không được trao công việc này lâu dài. Ngày 25 tháng 5 năm 2007, câu lạc bộ công bố cựu huấn luyện viên Milton Keynes Dons là Martin Allen làm huấn luyện viên mới theo bản hợp đồng ba năm. Mối quan hệ giữa Allen và Mandarić nhanh chóng trở nên rạn nứt đến mức sau chỉ bốn trận, ông rời câu lạc bộ theo thỏa thuận chung vào ngày 29 tháng 8 năm 2007. Ngày 13 tháng 9 năm 2007, Mandarić công bố Gary Megson là huấn luyện viên mới của Leicester, viện dẫn "bề dày kinh nghiệm" của ông như yếu tố quyết định trong việc bổ nhiệm. Tuy nhiên, Megson rời đi vào ngày 24 tháng 10 năm 2007 sau chỉ sáu tuần cầm quân, בעקבות lời mời làm việc từ Bolton Wanderers. Mandarić giao Frank Burrows và cựu cầu thủ Gerry Taggart cùng đảm nhiệm vị trí huấn luyện viên tạm quyền cho đến khi một huấn luyện viên chính thức được bổ nhiệm.
Ngày 22 tháng 11 năm 2007, Ian Holloway được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới của câu lạc bộ, và ông trở thành huấn luyện viên đầu tiên của Leicester trong hơn 50 năm thắng trận đầu tiên tại giải vô địch ngay sau khi nhậm chức.[28] Tuy nhiên, đây lại là một quyết định bổ nhiệm không thành công, khi Leicester xuống hạng khỏi Championship vào cuối mùa giải 2007-08. Holloway rời đi theo thỏa thuận chung sau chưa đầy một mùa giải tại câu lạc bộ, và được thay bởi Nigel Pearson.
Trở lại Premier League và thay đổi quyền sở hữu (2008-2015)
Sau khi xuống hạng, chiến dịch League One 2008-09 là mùa giải đầu tiên của Leicester ở ngoài hai hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh, nhưng họ chỉ chạm đáy trong đúng 7 năm trước khi trở thành nhà vô địch Premier League 2015-16 – một trong những hành trình vươn tới đỉnh cao nhanh nhất lịch sử của Hệ thống giải bóng đá Anh.[29] Leicester trở lại Championship ngay ở lần thử đầu tiên trong mùa giải 2008-09, vô địch League One sau chiến thắng 2-0 trên sân Southend United khi mùa giải còn hai vòng đấu nữa mới kết thúc. Mùa giải 2009-10 chứng kiến sự hồi sinh của Leicester dưới thời huấn luyện viên Nigel Pearson tiếp tục tiến triển. Câu lạc bộ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ năm và lọt vào play-off Championship ngay trong mùa giải đầu tiên trở lại hạng Nhì. Ở lượt đi trên sân nhà gặp Cardiff City, họ thua 0-1. Tuy nhiên, ở lượt về trên sân khách, dù từ chỗ bị dẫn 0-2 theo tổng tỉ số để rồi có lúc vượt lên dẫn 3-2, Leicester cuối cùng vẫn thua trong loạt sút luân lưu. Cuối mùa giải, Pearson rời Leicester để trở thành huấn luyện viên của Hull City, cho rằng ông cảm thấy câu lạc bộ dường như không thực sự muốn giữ mình lại, đồng thời viện dẫn việc Paulo Sousa xuất hiện ở cả hai trận play-off như một dấu hiệu cho thấy câu lạc bộ đã nhắm đến người thay thế. Ngày 7 tháng 7 năm 2010, Sousa được xác nhận là người kế nhiệm Pearson.[30]
Vào tháng 8 năm 2010, sau khi đạt được thỏa thuận tài trợ áo đấu ba năm với nhà bán lẻ miễn thuế Thái Lan là King Power, Mandarić bán câu lạc bộ cho Asian Football Investments (AFI), một tập đoàn do người Thái đứng đầu bởi chủ sở hữu King Power là Vichai Srivaddhanaprabha (khi đó còn mang tên Vichai Raksriaksorn) và con trai ông là Aiyawatt.[31] Mandarić, người vẫn tiếp tục là nhà đầu tư trong AFI,[32] vẫn tiếp tục giữ chức chủ tịch câu lạc bộ.[33]
Ngày 1 tháng 10 năm 2010, sau khởi đầu tệ hại của mùa giải khiến câu lạc bộ đứng cuối Championship với chỉ một chiến thắng trong 9 trận đầu tiên tại giải vô địch, Leicester chia tay Paulo Sousa ngay lập tức.[34] Hai ngày sau, vào ngày 3 tháng 10 năm 2010, Sven-Göran Eriksson, người đã được câu lạc bộ tiếp cận sau thất bại 1-6 trước đội cuối bảng khi đó là Portsmouth hai tuần trước đó, được bổ nhiệm thay Sousa theo bản hợp đồng hai năm.[35][36] Ngày 10 tháng 2 năm 2011, Vichai Srivaddhanaprabha, đại diện cho tập đoàn Asian Football Investments (AFI) có trụ sở tại Thái Lan, được bổ nhiệm làm chủ tịch câu lạc bộ sau khi Mandarić rời đi vào tháng 11 năm 2010 để tiếp quản Sheffield Wednesday.[37]
Leicester được xem là một trong những ứng cử viên hàng đầu cho suất thăng hạng ở mùa giải 2011-12, nhưng vào ngày 24 tháng 10 năm 2011, sau khởi đầu thiếu ổn định với chỉ năm chiến thắng trong 13 trận đầu tiên, Eriksson rời câu lạc bộ theo thỏa thuận chung.[38] Ba tuần sau, vào ngày 15 tháng 11 năm 2011, Nigel Pearson trở lại câu lạc bộ để thay Eriksson. Pearson sau đó đưa Leicester cán đích ở vị trí thứ sáu ở mùa giải 2012-13, sau khi từng giúp đội xếp thứ năm bốn mùa trước đó vào năm 2009-10. Leicester thắng Watford 1-0 ở lượt đi, nhưng lại bị đánh bại với tổng tỉ số 2-3 sau hai lượt trận. Trong trận lượt về tại Vicarage Road, Manuel Almunia đã cản phá liên tiếp cú đá phạt đền muộn của Anthony Knockaert, trước khi Troy Deeney ghi bàn ở đầu sân bên kia trong một khoảnh khắc kịch tính để đưa Watford đến Wembley thay vì Leicester.[39]
Vào tháng 5 năm 2014, hành trình đi lên trong hệ thống giải đấu của Leicester đã đạt bước đột phá. Chiến thắng 2-1 trên sân nhà trước Sheffield Wednesday, kết hợp với các thất bại của Queens Park Rangers và Derby County, giúp Leicester City giành quyền thăng hạng lên Premier League sau mười năm vắng bóng. Cuối tháng đó, chiến thắng trên sân Bolton Wanderers giúp Leicester trở thành nhà vô địch Championship mùa giải 2013-14, danh hiệu hạng Nhì thứ bảy, cân bằng kỉ lục. Sau khi mùa giải kết thúc, chủ tịch Vichai Srivaddhanaprabha tuyên bố tham vọng đưa câu lạc bộ lọt vào top năm Premier League trong vòng ba năm.[40]
Leicester khởi đầu mùa giải đầu tiên trở lại Premier League kể từ năm 2004 bằng trận hòa 2-2 trên sân nhà trước Everton ở vòng افتتاح.[41] Bốn tuần sau đó, vào ngày 13 tháng 9 năm 2014, câu lạc bộ giành chiến thắng đầu tiên tại Premier League kể từ tháng 5 năm 2004, với thắng lợi 1-0 trên sân Stoke City.[42] Ngày 21 tháng 9 năm 2014, Leicester tạo nên một trong những màn ngược dòng vĩ đại nhất lịch sử Premier League khi thắng Manchester United 5-3 tại Sân vận động King Power. Câu lạc bộ đi vào lịch sử Premier League khi trở thành đội đầu tiên kể từ khi giải đấu ra đời năm 1992 lội ngược dòng trước Manchester United sau khi bị dẫn trước hai bàn.[43]
Trong mùa giải 2014-15, Leicester rơi xuống đáy bảng xếp hạng sau khi chỉ giành được 19 điểm trong 29 trận. Đến ngày 3 tháng 4 năm 2015, họ kém vị trí an toàn bảy điểm. Điều này tưởng như có thể chấm dứt đột ngột hành trình đi lên suốt bảy năm của Leicester trong hệ thống giải đấu, nhưng bảy chiến thắng trong chín trận cuối cùng đã giúp họ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 14 với 41 điểm. Họ khép lại mùa giải bằng chiến thắng 5-1 trước Queens Park Rangers, đội đã xuống hạng, ở vòng cuối cùng, và sự hồi sinh của Leicester được mô tả là một trong những cuộc đào thoát vĩ đại nhất lịch sử Premier League.[44][45] Họ cũng trở thành đội thứ ba trong lịch sử Premier League trụ hạng thành công sau khi đứng cuối bảng vào dịp Christmas, sau West Bromwich Albion năm 2005 và Sunderland năm 2014, đồng thời chưa từng có đội nào trước đó trụ hạng được sau khi chỉ có dưới 20 điểm sau 29 trận.
Ngày 30 tháng 6 năm 2015, câu lạc bộ bất ngờ quyết định chia tay huấn luyện viên Nigel Pearson sau bốn năm cầm quân. Quyết định này được đưa ra sau khi con trai ông, James Pearson, dính líu tới một "đoạn băng tình dục mang tính phân biệt chủng tộc" trong chuyến du đấu hữu nghị cuối mùa giải tại Thái Lan.[46][47] Việc Pearson ra đi cũng được cho là có liên quan đến một loạt vấn đề quan hệ công chúng mà ông vướng phải trong suốt mùa giải. Ngày 13 tháng 7 năm 2015, câu lạc bộ bổ nhiệm Claudio Ranieri làm huấn luyện viên mới trước thềm mùa giải Premier League 2015-16.[48] Bất chấp phản ứng ban đầu đầy hoài nghi trước việc bổ nhiệm Ranieri, Leicester đã có khởi đầu mùa giải hết sức ấn tượng.[49] Tiền đạo Jamie Vardy ghi 13 bàn trong 11 trận liên tiếp từ tháng 8 đến tháng 11, phá kỉ lục ghi bàn trong 11 trận Premier League liên tiếp trước đó của Ruud van Nistelrooy.[50] Ngày 19 tháng 12 năm 2015, Leicester đánh bại Everton 3-2 tại Goodison Park để đứng đầu Premier League vào đúng ngày Giáng sinh, sau khi còn đứng cuối bảng đúng 12 tháng trước đó.[51]
Giai đoạn thành công nhất trong lịch sử câu lạc bộ (2016-2021)
Câu lạc bộ giành quyền tham dự UEFA Champions League lần đầu tiên trong lịch sử vào ngày 10 tháng 4 năm 2016, nhờ chiến thắng 2-0 trên sân Sunderland cùng với việc Tottenham Hotspur đánh bại Manchester United 3-0.[53] Chiến dịch Champions League 2016-17 cũng là mùa giải đầu tiên của câu lạc bộ ở đấu trường châu Âu sau 15 năm.
Ngày 2 tháng 5 năm 2016, Leicester City vô địch Premier League sau khi Chelsea gỡ lại từ thế bị dẫn hai bàn tại Stamford Bridge để hòa Tottenham Hotspur 2-2, trong trận đấu được gọi là "The Battle Of The Bridge".[54][55] Các nhà cái từng cho rằng khả năng Leicester vô địch là gần như không tưởng, đến mức Ladbrokes và William Hill đưa ra tỉ lệ cược 5.000-1 cho kịch bản này vào đầu mùa giải, dẫn tới khoản chi trả lớn nhất trong lịch sử thể thao Anh, với tổng tiền thắng cược lên tới 25 triệu bảng.[56][57][58] Nhiều tờ báo mô tả chức vô địch của Leicester là cú sốc thể thao lớn nhất mọi thời đại; một số nhà cái, bao gồm Ladbrokes và William Hill, chưa từng phải trả thưởng ở mức cược dài đến vậy cho bất kì môn thể thao nào trước đó.[59][60][61] Quy mô của chức vô địch bất ngờ này đã thu hút sự chú ý trên toàn cầu dành cho cả câu lạc bộ lẫn thành phố Leicester.[62] The Economist tuyên bố rằng chiến tích này sẽ còn được "mổ xẻ để rút ra các bài học quản trị".[63] Một số nhà bình luận cho rằng điều này đã làm thay đổi kì vọng dành cho các câu lạc bộ nằm ngoài nhóm "big six" truyền thống của giải đấu.[64] Ngày 16 tháng 5 năm 2016, hơn 240.000 người hâm mộ đã đứng kín các con phố ở Leicester để ăn mừng chức vô địch lịch sử của câu lạc bộ.[65]
Trong suốt chiến dịch 2015-16, Leicester trở nên nổi tiếng với lối chơi phản công, với "tốc độ đáng kinh ngạc ở những khu vực quan trọng nhất" cùng sự chắc chắn trong phòng ngự.[66] Cựu huấn luyện viên Nigel Pearson được đánh giá rộng rãi là người đã đặt nền móng cho thành công rực rỡ này của Leicester.[67] Khi phản ứng về chức vô địch, chủ tịch điều hành Premier League là Richard Scudamore đã nói:
| “ | "Nếu đây là sự kiện chỉ xảy ra một lần trong mỗi 5.000 năm, thì thực chất chúng ta đang có thêm 5.000 năm hi vọng ở phía trước." | ” |
Dù chơi tốt tại UEFA Champions League, Leicester lại gặp khó khăn ở đấu trường quốc nội trong mùa giải 2016-17, dành phần lớn những tháng đầu tiên ở nửa dưới bảng xếp hạng Premier League. Vào tháng 12 năm 2016, Ranieri được trao giải Huấn luyện viên của năm, còn Leicester được trao giải Đội bóng của năm tại lễ trao giải BBC Sports Personality of the Year.[68] Tuy nhiên, ngày 23 tháng 2 năm 2017, Ranieri gây tranh cãi khi bị câu lạc bộ sa thải do phong độ nghèo nàn kéo dài khiến Leicester chỉ còn hơn nhóm xuống hạng đúng một điểm. Sự ra đi của Ranieri vấp phải nhiều buồn bã và tức giận từ một bộ phận truyền thông, trong đó cựu cầu thủ nổi tiếng Gary Lineker gọi đây là điều "rất buồn" và "không thể giải thích nổi",[69] còn huấn luyện viên Manchester United là José Mourinho thì đổ lỗi cho "những cầu thủ ích kỉ".[69] Vài ngày sau đó xuất hiện những tin đồn cho rằng các cầu thủ đã gặp gỡ ông chủ để bàn về việc loại bỏ Ranieri mà ông không hề hay biết, điều này gây phẫn nộ rộng khắp trên mạng xã hội, nhưng những cáo buộc ấy chưa bao giờ được chứng minh.[70] Craig Shakespeare tiếp quản với tư cách huấn luyện viên tạm quyền, và trong trận đầu tiên, ông giúp Leicester thắng Liverpool đang đứng thứ năm 3-1.[71] Ở trận thứ hai với vai trò huấn luyện viên tạm quyền, Shakespeare tiếp tục đưa Leicester tới thêm một chiến thắng 3-1 nữa, lần này trước Hull City.[72] Sau hai kết quả này, ngày 12 tháng 3 năm 2017, câu lạc bộ quyết định để Shakespeare trở thành huấn luyện viên cho đến hết mùa giải.[73]
Leicester nằm ở Bảng G của UEFA Champions League 2016-17, cùng với Porto, Copenhagen và Club Brugge. Trong chiến dịch Champions League đầu tiên của mình, họ bất bại trong năm trận đầu để giành quyền đi tiếp với tư cách đội đầu bảng.[74] Leicester sau đó gặp câu lạc bộ La Liga là Sevilla ở vòng 16 đội, và thua 1-2 ở lượt đi tại Vicente Calderon Stadium. Ở lượt về tại King Power Stadium, Leicester thắng 2-0 và đi tiếp với tổng tỉ số 3-2, qua đó lọt vào tứ kết.[75] Tại đây, họ chạm trán Atlético Madrid, thua 0-1 trên sân khách ở lượt đi trước khi hòa 1-1 trên sân nhà ở lượt về. Kết quả này khép lại chiến dịch châu Âu đầu tiên của Leicester sau 15 năm, khi họ thua với tổng tỉ số 1-2 và dừng bước ở tứ kết.[76] Dù vậy, Leicester vẫn duy trì thành tích bất bại trên sân nhà trong suốt chiến dịch UEFA Champions League 2016-17.
Craig Shakespeare, sau khi gây ấn tượng trong giai đoạn tạm quyền, được bổ nhiệm chính thức theo bản hợp đồng ba năm.[77] Tuy nhiên, sau khởi đầu tệ hại của mùa giải, ông bị sa thải vào tháng 10 năm 2017 chỉ sau bốn tháng chính thức tại vị, khi Leicester đứng thứ 18 trên bảng xếp hạng.[78] Sau đó, ông được thay bởi Claude Puel vào ngày 25 tháng 10 năm 2017. Đến dịp Giáng sinh, Leicester đứng thứ 8 tại Premier League và kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 9. Ngày 21 tháng 2 năm 2018, có thông tin rộng rãi rằng câu lạc bộ đã đạt được thỏa thuận dàn xếp với English Football League, chấp nhận trả 3,1 triệu bảng trong vụ tranh chấp về Luật Công bằng Tài chính (FFP) liên quan đến mùa giải 2013-14. EFL cho biết Leicester "không cố ý vi phạm quy định hay đánh lừa bất kì ai, và tranh chấp phát sinh từ những khác biệt thực sự trong cách diễn giải quy định giữa các bên."[79]
Ngày 27 tháng 10 năm 2018, sau trận sân nhà gặp West Ham United, một chiếc trực thăng Leonardo AW169 chở chủ tịch Vichai Srivaddhanaprabha cùng bốn người khác đã gặp trục trặc và rơi bên ngoài sân vận động của câu lạc bộ. Tai nạn xảy ra ngay sau khi cất cánh từ mặt sân, và cả năm người trên trực thăng đều thiệt mạng. Một năm sau, Vườn tưởng niệm Vichai Srivaddhanaprabha được khánh thành vào ngày 27 tháng 10 năm 2019, trước khi tượng Khun Vichai Srivaddhanaprabha được khánh thành vào ngày 4 tháng 4 năm 2022, đúng vào dịp lẽ ra là sinh nhật lần thứ 64 của ông.[80][81][82]
Trong những tháng đầu năm 2019, Leicester trải qua chuỗi bảy trận không thắng, bao gồm bốn thất bại liên tiếp trên sân nhà. Sau trận thua 1-4 trên sân nhà trước Crystal Palace, câu lạc bộ chia tay huấn luyện viên Claude Puel vào ngày 24 tháng 2 năm 2019, khi đội đang đứng thứ 12.[83] Cựu huấn luyện viên Liverpool là Brendan Rodgers được bổ nhiệm thay thế, và câu lạc bộ một lần nữa kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 9.[84]
Ở mùa giải 2019-20 dưới thời Rodgers, đội bóng giành được 38 điểm sau 16 trận đầu tiên, trong đó có chuỗi tám trận thắng liên tiếp từ ngày 19 tháng 10 đến ngày 8 tháng 12 năm 2019. Ngày 25 tháng 10 năm 2019, Leicester giành chiến thắng 9-0 trên sân Southampton, trận thắng đậm nhất đồng hạng trong lịch sử Premier League và là chiến thắng sân khách đậm nhất lịch sử hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh.[85] Trong cùng mùa giải đó, câu lạc bộ vào tới bán kết Cúp Liên đoàn nhưng thua Aston Villa sau hai lượt trận.[86] Dù cạnh tranh trong top bốn suốt phần lớn mùa giải, Leicester sa sút về phong độ ở giai đoạn cuối, chỉ thắng hai trong chín trận sau khi giải đấu trở lại vì đại dịch COVID-19. Ba thất bại trong bốn trận cuối cùng khiến họ tụt xuống vị trí thứ năm, đây là thành tích cao thứ hai của câu lạc bộ tại Premier League, đồng thời giúp họ giành vé dự UEFA Europa League mùa giải sau.[87]
Tình hình tài chính của câu lạc bộ bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID, khi công ty mẹ King Power International Group hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ du lịch.[88][89] Dù vậy, câu lạc bộ vẫn chi 57 triệu bảng cho phí chuyển nhượng trong mùa hè năm 2020, với mức chi ròng là 10 triệu bảng, sau khi thu về 46 triệu bảng từ việc bán cầu thủ.[90] Vào tháng 12 năm 2020, câu lạc bộ chuyển đến trung tâm huấn luyện hiện đại mới trị giá 100 triệu bảng.[91] Leicester kết thúc ở vị trí thứ năm một lần nữa trong mùa giải Premier League 2020-21, và vì vậy giành quyền dự UEFA Europa League mùa thứ hai liên tiếp. Ngày 15 tháng 5 năm 2021, Leicester City lần đầu tiên vô địch Cúp FA, sau khi đã thua bốn trận chung kết trước đó vào các năm 1949, 1961, 1963 và 1969. Youri Tielemans ghi bàn duy nhất vào lưới Chelsea tại Sân vận động Wembley.[92] Nhờ đó, câu lạc bộ trở thành đội bóng thành công thứ sáu trong bóng đá Anh kể từ đầu thế kỉ 21, là một trong chỉ năm đội từng giành đủ ba danh hiệu lớn ở đấu trường quốc nội kể từ năm 2000.[1]
Sau thời kì thành công và sự sa sút (2021-nay)
Trong kì chuyển nhượng mùa hè năm 2021, Leicester một lần nữa chi hơn 50 triệu bảng cho các tân binh, nhưng lần này lại không bán bất kì cầu thủ chủ chốt nào với mức lợi nhuận cao, điều đi ngược với mô hình hoạt động của câu lạc bộ trong những năm trước đó. Mùa hè năm 2021 làm tăng mạnh tỉ lệ lương trên doanh thu của Leicester, nhưng sau đó câu lạc bộ lại không thể giành vé dự cúp châu Âu ở mùa giải Premier League kế tiếp (2021-22), khi kết thúc ở vị trí thứ 8.[93] Ngày 7 tháng 8 năm 2021, Leicester giành FA Community Shield lần thứ Hai trong lịch sử.[94] Ở chiến dịch UEFA Europa League 2021-22, Leicester đứng thứ ba ở bảng đấu của mình và được chuyển xuống giải UEFA Europa Conference League mới được thành lập. Họ sau đó lọt vào trận bán kết châu Âu đầu tiên trong lịch sử, nhưng thua nhà vô địch sau cùng là AS Roma sau hai lượt trận.[95] Việc chi tiêu của Leicester trong kì chuyển nhượng mùa hè năm 2022 bị hạn chế rất mạnh do lo ngại vi phạm các quy định về Financial Fair Play.[96] Tuy nhiên, cùng lúc đó, câu lạc bộ được cho là vẫn ưu tiên đầu tư vào cơ sở hạ tầng để có thể cạnh tranh tốt hơn với nhóm "big six" của Premier League về lâu dài.[97][98][99]
Brendan Rodgers rời câu lạc bộ vào ngày 2 tháng 4 năm 2023, sau bốn năm dẫn dắt, khi mùa giải còn mười trận và đội đang nằm trong nhóm xuống hạng.[100] Dean Smith được bổ nhiệm thay thế cho đến hết mùa giải.[101] Ngày 28 tháng 5 năm 2023, bất chấp chiến thắng 2-1 trên sân nhà trước West Ham United, Leicester City vẫn xuống hạng do Everton thắng AFC Bournemouth 1-0 trên sân nhà.[102] Câu lạc bộ xuống hạng dù sở hữu giá trị đội hình và quĩ lương lớn nhất từng có bên ngoài nhóm 'big six' truyền thống của Premier League, và mùa giải 2022-23 cũng khép lại quãng thời gian chín năm liên tiếp của họ ở Premier League.[103] Điều này khiến Leicester trở thành nhà vô địch Premier League cũ thứ hai bị rớt hạng kể từ khi giải đấu này bắt đầu vào mùa giải 1992-93, sau Blackburn Rovers ở mùa giải 1998-99.[104]
Ngày 16 tháng 6 năm 2023, Enzo Maresca được bổ nhiệm làm huấn luyện viên mới của câu lạc bộ trước thềm EFL Championship 2023-24.[105] Trong chiến dịch phá nhiều kỉ lục này, Leicester có khởi đầu tốt nhất trong một mùa giải vô địch của mình, đồng thời cũng là khởi đầu tốt nhất kể từ khi giải đấu được gọi là Championship vào mùa giải 2004-05.[106][107] Sau đó, câu lạc bộ giành quyền thăng hạng trở lại Premier League ngay ở lần thử đầu tiên, với thành tích 31 trận thắng, 4 trận hòa và 11 trận thua.[108] Đây cũng là danh hiệu hạng Nhì thứ 8 của Leicester, hiện là kỉ lục của giải đấu này.[109]
Vào tháng 3 năm 2024, câu lạc bộ bị Premier League đưa ra trước một ủy ban độc lập vì cáo buộc vi phạm Profit and Sustainability Rules (PSR) ở mùa giải 2022-23. Đến tháng 9 năm 2024, câu lạc bộ kháng cáo thành công vụ PSR liên quan đến mùa giải 2022-23, với lập luận rằng Premier League không có thẩm quyền hợp pháp để áp dụng bất kì án phạt nào sau khi Leicester không còn là thành viên của giải đấu vào cuối mùa giải đó.[110] Ngày 3 tháng 6 năm 2024, Enzo Maresca rời câu lạc bộ để gia nhập Chelsea trước thềm Premier League 2024-25. Leicester bổ nhiệm Steve Cooper làm người thay thế vào ngày 20 tháng 6 năm 2024, nhưng sau năm tháng, câu lạc bộ chia tay Cooper vào ngày 25 tháng 11 năm 2024.[111][112][113] Năm ngày sau, vào ngày 29 tháng 11 năm 2024, Ruud van Nistelrooy được công bố là huấn luyện viên mới của Leicester.[114]
Ngày 20 tháng 4 năm 2025, câu lạc bộ rớt hạng khỏi Premier League lần thứ Hai trong vòng ba năm, khi mùa giải vẫn còn năm trận nữa.[115] Ngày 20 tháng 5 năm 2025, Leicester bị Premier League buộc tội vi phạm ba điều khoản riêng biệt của quy định PSR.[116][117] Ngày 27 tháng 6 năm 2025, câu lạc bộ chấm dứt hợp đồng với van Nistelrooy ngay lập tức.[118] Ngày 15 tháng 7 năm 2025, câu lạc bộ bổ nhiệm Martí Cifuentes làm huấn luyện viên theo hợp đồng ba năm.[119]
Ngày 2 tháng 10 năm 2025, có thông báo rằng Susan Whelan đã từ chức giám đốc điều hành của câu lạc bộ sau 15 năm, בעקבות "quyết định chung" giữa bà với chủ sở hữu kiêm chủ tịch Aiyawatt Srivaddhanaprabha.[120] Ngày 14 tháng 11 năm 2025, có thông tin cho rằng câu lạc bộ sẽ tiến hành cải tổ toàn diện bộ máy bóng đá, bao gồm cả việc lần đầu tiên bổ nhiệm một giám đốc kĩ thuật. Cùng ngày, câu lạc bộ công bố bổ nhiệm Kamonthip Netthanomsak làm giám đốc điều hành tạm quyền.[121][122][123] Ngày 25 tháng 1 năm 2026, câu lạc bộ thông báo đã chia tay huấn luyện viên Marti Cifuentes, đánh dấu lần thay đổi huấn luyện viên thứ ba trong vòng 14 tháng.[124] Trong giai đoạn này, Srivaddhanaprabha thực hiện một số cuộc phỏng vấn với truyền thông Anh lần đầu tiên kể từ sau chức vô địch năm 2016 của câu lạc bộ.[125][126][127][128]
Ngày 5 tháng 2 năm 2026, có thông báo rằng câu lạc bộ bị trừ sáu điểm vì vi phạm quy định về lợi nhuận và bền vững tài chính của EFL với mức vượt quá 20,8 triệu bảng, tính trong chu kì ba năm đến hết mùa giải 2023-24. Leicester cũng bị xác định là đã vi phạm quy định của Premier League khi không nộp báo cáo tài chính hằng năm cho giải đấu đúng thời hạn quy định. Vì vậy, vị trí của câu lạc bộ trên bảng xếp hạng EFL Championship 2025-26 bị tụt từ thứ 17 xuống thứ 20, chỉ còn đứng trên nhóm xuống hạng nhờ hiệu số bàn thắng bại.[129] Trong ba năm tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2024, Leicester lỗ cộng dồn hơn 200 triệu bảng, vượt xa mức trần tối đa 81 triệu bảng lỗ trong chu kì ba năm liên tiếp.[130]
Vụ PSR chống lại Leicester và án phạt trừ điểm sau đó, dù chính thức do English Football League ban hành, thực chất lại do Premier League khởi xướng vào tháng 5 năm 2025, trong khi ủy ban độc lập xử lí vụ việc cũng do Premier League chỉ định. Vì vậy, đây là lần đầu tiên trong lịch sử một án phạt thể thao được EFL áp dụng thay mặt cho Premier League, sau một thay đổi trong quy định vốn trước đó từng cho phép câu lạc bộ thắng kiện trong một vụ pháp lí liên quan đến một cáo buộc vi phạm PSR khác ở mùa giải 2022-23.[131] Ngày 18 tháng 2 năm 2026, Gary Rowett được công bố là huấn luyện viên mới của câu lạc bộ theo hợp đồng ngắn hạn đến hết mùa giải 2025-26.[132] Ngày 19 tháng 2 năm 2026, có thông báo rằng cả Leicester City lẫn Premier League đều đã chính thức nộp đơn kháng cáo đối với án phạt trừ sáu điểm vừa qua.[133][134]
Ngày 3 tháng 3 năm 2026, câu lạc bộ công bố một "cơ cấu lãnh đạo điều hành mới", bao gồm việc bổ nhiệm Kevin Davies làm giám đốc điều hành, James McCarron làm giám đốc thể thao, và Russell Jones làm giám đốc thương mại. Jon Rudkin, người trước đó giữ chức giám đốc bóng đá, được bổ nhiệm vào vai trò giám đốc phụ trách bóng đá. Thông báo của câu lạc bộ cũng xác nhận giám đốc điều hành tạm quyền Kamonthip Netthanomsak sẽ tiếp tục công việc của mình, và quá trình tuyển dụng một giám đốc tài chính mới đang được tiến hành; đây là vị trí mà Kevin Davies (tân giám đốc điều hành) đã nắm giữ מאז tháng 5 năm 2023.[135]
Bản sắc câu lạc bộ
Màu áo sân nhà truyền thống của câu lạc bộ là áo xanh lam hoàng gia, quần trắng và tất trắng hoặc xanh, và đã được sử dụng cho trang phục thi đấu của đội trong phần lớn lịch sử. Kể từ mùa giải 2015-16, câu lạc bộ sử dụng bộ trang phục toàn màu xanh, ngoại trừ các mùa giải 2019-20 và 2021-22, khi họ quay trở lại mặc quần trắng. Năm 1948, hình ảnh một fox lần đầu tiên được đưa vào huy hiệu câu lạc bộ. Kể từ năm 1992, huy hiệu của câu lạc bộ có hình đầu cáo chồng lên một hoa cánh tròn năm cánh, tương tự như hoa cánh tròn năm cánh xuất hiện trên huy hiệu của thành phố Leicester.[136][137][138]
Việc chuyển sân vào năm 2002 đã dẫn đến một số thay đổi ở huy hiệu, và thiết kế cập nhật được đưa vào sân vận động mới, với biểu tượng này trở thành điểm nhấn chính ở mặt ngoài khán đài phía Tây. Ở mùa giải 2009-10, năm kỉ niệm 125 năm thành lập câu lạc bộ, một phiên bản huy hiệu đặc biệt đã được sử dụng trên cả trang phục sân nhà lẫn sân khách.[139] Đối với trang phục sân khách ở mùa giải này, cũng có sự quay trở lại với những màu áo đầu tiên mà câu lạc bộ từng sử dụng (ban đầu là Leicester Fosse), dù lần này mặc quần đen thay vì quần trắng như nguyên bản.[140][141] Bộ trang phục này lại được sử dụng thêm một lần nữa ở mùa giải 2023-24, sau khi từng xuất hiện cả ở mùa giải 2004-05.[142] Huy hiệu hiện tại của câu lạc bộ đã được sử dụng từ năm 2010.[141]
Năm 1941, câu lạc bộ bắt đầu sử dụng bản nhạc "Post Horn Galop" trong các trận sân nhà, để báo hiệu hai đội bước ra sân.[143] Cho đến nay, bản nhạc này thường vẫn được biểu diễn trực tiếp trên sân trong hiệp Một, còn một phiên bản hiện đại hơn sẽ được phát qua PA system trong hiệp Hai.[144] Câu lạc bộ cũng phát phiên bản hiện đại của bài hát truyền thống "When You're Smiling" trước giờ bóng lăn trong các trận sân nhà, với mối liên hệ giữa đội bóng và bài hát này có từ cuối thập niên 1970.[145] Foxes Never Quit là khẩu hiệu của câu lạc bộ, và dòng chữ này được đặt phía trên đường hầm bên trong sân vận động.
Nhà cung cấp trang phục và nhà tài trợ áo đấu
Nguồn:[137]
| Năm | Nhà sản xuất trang phục | Nhà tài trợ chính trên áo | Nhà tài trợ tay áo |
|---|---|---|---|
| 1972-1976 | Bukta | Không có | Không có |
| 1976-1979 | Admiral | ||
| 1979-1983 | Umbro | ||
| 1983-1986 | Admiral | Ind Coope | |
| 1986-1987 | John Bull | ||
| 1987-1988 | Walkers Crisps | ||
| 1988-1990 | Scoreline | ||
| 1990-1992 | Bukta | ||
| 1992-1999 | Fox Leisure | ||
| 1999-2000 | Fox Leisure / Le Coq Sportif | ||
| 2000-2001 | Le Coq Sportif | ||
| 2001-2003 | LG | ||
| 2003-2005 | Alliance & Leicester | ||
| 2005-2007 | JJB Sports | ||
| 2007-2009 | Jako | Topps Tiles | |
| 2009-2010 | Joma | Không có (sân nhà) / LOROS Hospice Care (sân khách) | |
| 2010-2012 | Burrda | King Power | |
| 2012-2016 | Puma | ||
| 2017-2018 | Siam Commercial Bank | ||
| 2018-2020 | Adidas | Bia Saigon | |
| 2020-2021 | Tourism Authority of Thailand / King Power | ||
| 2021-2023 | FBS | ||
| 2023-2024 | King Power | ||
| 2024– | BC.GAME |
Kể từ năm 2018, trang phục của Leicester City do công ty đồ thể thao Đức Adidas sản xuất.[146] Các nhà sản xuất trước đó gồm Bukta (1972-76, 1990-92), Admiral (1976-79, 1983-88), Umbro (1979-83), Scoreline (1988-90), Fox Leisure (1992-2000), Le Coq Sportif (1999-2005), JJB (2005-07), Jako (2007-09), Joma (2009-10), Burrda (2010-12)[147] và Puma (2012-18).[148]
Nhà tài trợ chính hiện tại trên áo đấu của câu lạc bộ là BC.GAME.[149][150] Logo tài trợ đầu tiên xuất hiện trên áo Leicester là của Ind Coope vào năm 1983.[137] Nhà sản xuất đồ ăn vặt Anh Walkers Crisps là đối tác đồ ăn nhẹ chính thức của câu lạc bộ.[151] Walkers Crisps có mối liên hệ lâu dài với câu lạc bộ, tài trợ áo đấu từ năm 1987 đến năm 2001 và tài trợ tên sân từ năm 2002 đến năm 2011.[137][152] Các nhà tài trợ khác gồm John Bull (1986-87),[137] LG (2001-03),[137] Alliance & Leicester (2003-07),[137] Topps Tiles (2007-09),[137] Loros (2009-10),[140] King Power (2010-21, 2023-24), Tourism Authority of Thailand (2020-21) và FBS (2021-23).[153] Siam Commercial Bank trở thành nhà tài trợ tay áo đầu tiên của câu lạc bộ ở mùa giải 2017-18.[154] Kể từ mùa giải 2018-19, nhà tài trợ tay áo là Bia Saigon.[155]
Sân vận động và trung tâm huấn luyện
Trong những năm đầu, Leicester thi đấu trên nhiều sân khác nhau, nhưng kể từ khi gia nhập Football League, họ mới chỉ chơi trên hai sân. Ban đầu, họ thi đấu trên một bãi đất cạnh Fosse Road, do đó tên ban đầu của câu lạc bộ là Leicester Fosse.[156] Từ đó, họ chuyển sang Victoria Park, rồi sau đó là Belgrave Road. Sau khi chuyển sang chuyên nghiệp, câu lạc bộ dời đến Mill Lane.[156] Sau khi bị buộc rời Mill Lane, câu lạc bộ thi đấu tại sân cricket của hạt County Cricket ground trong khi tìm kiếm sân mới. Sau đó, họ đảm bảo được quyền sử dụng một khu đất cạnh Filbert Street và chuyển đến đây vào năm 1891.[156]
Một số cải tạo do kiến trúc sư sân bóng nổi tiếng Archibald Leitch thực hiện diễn ra trong thời kì Edward, và đến năm 1927, một khán đài hai tầng mới được xây dựng, có biệt danh là "The Double Decker."[156] Khán đài này tồn tại cho đến khi sân đóng cửa vào năm 2002. Filbert Street không có thêm sự phát triển đáng kể nào nữa (ngoài việc lắp ghế bắt buộc) cho đến năm 1993, khi khán đài chính bị phá bỏ và được thay thế bằng khán đài Carling mới. Việc bổ sung khán đài mới trong khi phần còn lại của sân gần như không thay đổi kể từ thập niên 1920 từng khiến huấn luyện viên Martin O'Neill nói đùa rằng ông thường "dẫn các tân binh bước ra phía sau" để họ chỉ nhìn thấy khán đài Carling.[157]
Câu lạc bộ rời Filbert Street vào năm 2002 để chuyển tới sân vận động toàn ghế ngồi mới có sức chứa 32.500 chỗ, nằm cách sân cũ chưa tới 300 yard.[158][159] Địa chỉ của sân hiện tại, Filbert Way, vẫn giữ mối liên hệ với sân nhà cũ của câu lạc bộ. Trận đầu tiên được tổ chức tại sân này là trận hòa 1-1 với Athletic Bilbao, trong đó Tiko của Bilbao ghi bàn đầu tiên tại sân, còn Jordan Stewart trở thành cầu thủ Leicester đầu tiên ghi bàn tại đây.[160] Trận chính thức đầu tiên là chiến thắng 2-0 trước Watford.[161]
Sân vận động được biết đến với tên Walkers Stadium cho đến năm 2011 theo thỏa thuận tài trợ với nhà sản xuất thực phẩm Walkers có trụ sở tại Leicester. Ngày 19 tháng 8 năm 2010, xuất hiện thông tin rằng các ông chủ mới từ King Power muốn đổi tên sân thành King Power Stadium, đồng thời có kế hoạch tăng sức chứa lên 42.000 chỗ nếu Leicester giành quyền thăng hạng.[162] Ngày 5 tháng 7 năm 2011, có thông báo rằng Walkers Stadium sẽ từ đó được gọi là King Power Stadium.[163]
Sân hiện có sức chứa 32.259 chỗ, với kế hoạch mở rộng lên 40.000 chỗ đã được phê duyệt chính thức vào tháng 12 năm 2023.[164][165] Năm 2020, câu lạc bộ chuyển đến một khu trung tâm huấn luyện tối tân mới tại làng Seagrave thuộc Leicestershire, được mô tả là "một trong những cơ sở huấn luyện hiện đại nhất thế giới". Sân tập cũ Belvoir Drive của câu lạc bộ hiện được dùng làm sân tập cho Leicester City Women.[166]
Cổ động viên, kình địch và hooligan
Nguồn gốc của bài hát truyền thống "When You're Smiling", được người hâm mộ hát trong các trận sân nhà lẫn sân khách, có từ cuối thập niên 1970; hiện một phiên bản hiện đại của giai điệu này được phát trước giờ bóng lăn ở các trận sân nhà.[145]
Những đối thủ lớn nhất của câu lạc bộ là Nottingham Forest, Derby County và Coventry City.[167][168][169] Những mối kình địch nhỏ hơn cũng tồn tại với Chelsea, bắt nguồn từ khoảng năm 1980, và gần đây hơn là với Tottenham Hotspur, khi hai đội cạnh tranh chức vô địch Premier League 2015-16.[170][171][172] Leicester từng được xem rộng rãi là đối thủ lớn nhất của Nottingham Forest trước giữa thập niên 1970. Tuy nhiên, khi Brian Clough được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Forest vào năm 1975, trong sự bất bình lớn của người hâm mộ Derby, mối kình địch giữa Forest và Derby nhanh chóng trở nên gay gắt hơn. Dù vậy, mối kình địch giữa Leicester và Forest vẫn rất rõ nét ở khu vực giáp ranh giữa hai thành phố, cũng như giữa hai hạt (Leicestershire và Nottinghamshire). Điều tương tự cũng đúng với sự đối đầu cùng Derby County, trong khi mối kình địch với Coventry City thường được cảm nhận mạnh nhất bởi những người hâm mộ ở khu vực phía nam Leicestershire.
Giống như nhiều câu lạc bộ khác trong bóng đá Anh, Leicester từng có liên hệ với hooligan. Vào tháng 8 năm 2000, Leicester bị xếp là câu lạc bộ bóng đá bạo lực thứ nhì ở Anh và Wales.[173] Vào tháng 6 năm 2002, Leicester là một trong sáu câu lạc bộ bị cấm mang cổ động viên tới sân Millwall trong mùa giải 2002-03.[174] Trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2023, Leicester bị xếp vào nhóm có số lượng hooligan tại các trận đấu cao thứ năm.[175] Trong các mùa giải 2022-23 và 2023-24, câu lạc bộ lần lượt đứng thứ 3 và thứ 4 về số lệnh cấm tới sân bóng.[176][177] Vào tháng 3 năm 2025, một báo cáo cho thấy trong năm mùa giải gần nhất, Leicester đứng thứ 12 trên toàn quốc về số vụ bắt giữ liên quan đến người hâm mộ.[178]
Thành tích ở châu Âu
| Mùa giải | Giải đấu | Vòng | Câu lạc bộ | Sân nhà | Sân khách | Tổng tỉ số |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1961-62 | Cúp C2 châu Âu | VSL | 3-1 | 4-1 | 7-2 | |
| V1 | Tây Ban Nha Atlético Madrid | 1-1 | 0-2 | 1-3 | ||
| 1997-98 | Cúp UEFA | V1 | Tây Ban Nha Atlético Madrid | 0-2 | 1-2 | 1-4 |
| 2000-01 | Cúp UEFA | V1 | 1-1 | 1-3[nb 1] | 2-4 | |
| 2016-17 | UEFA Champions League | GS | 1-0 | 0-5 | 1 | |
| 2-1 | 3-0 | |||||
| 1-0 | 0-0 | |||||
| R16 | 2-0 | 1-2 | 3-2 | |||
| QF | 1-1 | 0-1 | 1-2 | |||
| 2020-21 | UEFA Europa League | GS | 4-0 | 3-3 | 1 | |
| 2-0 | 2-1 | |||||
| 3-0 | 0-1 | |||||
| R32 | 0-2 | 0-0 | 0-2 | |||
| 2021-22 | UEFA Europa League | GS | 2-2 | 2-3 | 3 | |
| 1-1 | 4-3 | |||||
| 3-1 | 0-1 | |||||
| UEFA Europa Conference League | KPO | 4-1 | 3-1 | 7-2 | ||
| V16 | 2-0 | 1-2 | 3-2 | |||
| TK | 0-0 | 2-1 | 2-1 | |||
| BK | 1-1 | 0-1 | 1-2 |
- Ghi chú
- Bàn thắng của Leicester City được ghi trước
- KPO: Vòng play-off loại trực tiếp
- VSL: Vòng sơ loại
- V1: Vòng Một
- GS: Vòng bảng
- V32: Vòng 32 đội
- V16: Vòng 16 đội
- TK: Tứ kết
- BK: Bán kết
Lịch sử huấn luyện viên
Huấn luyện viên hiện tại của câu lạc bộ là Gary Rowett, người được bổ nhiệm vào ngày 18 tháng 2 năm 2026 cho đến hết mùa giải 2025-26.[179]
Nigel Pearson và Peter Hodge đều có hai giai đoạn riêng biệt dẫn dắt câu lạc bộ. Dave Bassett cũng có giai đoạn thứ Hai làm huấn luyện viên tạm quyền sau lần đầu tiên giữ vai trò huấn luyện viên chính thức.[180] Trước khi Peter Hodge được thuê sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, câu lạc bộ không có huấn luyện viên chính thức. Khi đó, một vai trò mang tính danh nghĩa là thư kí kiêm huấn luyện viên được sử dụng, nhưng phần lớn công việc của đội lại do ban lãnh đạo và ủy ban tuyển chọn kiểm soát. Chính Hodge là người thiết lập hệ thống để huấn luyện viên có toàn quyền trong việc tuyển mộ cầu thủ và nhân sự, lựa chọn đội hình, và chiến thuật. Dù ban đầu Hodge mang chức danh "thư kí kiêm huấn luyện viên", về sau ông được nhìn nhận hồi tố là "huấn luyện viên" chính thức đầu tiên của câu lạc bộ.[181]
Matt Gillies là huấn luyện viên phục vụ lâu năm nhất của câu lạc bộ. Trong giai đoạn từ năm 1958 đến năm 1968, ông đưa Leicester City tới bốn trận chung kết cúp quốc nội lớn, bao gồm cả danh hiệu lớn đầu tiên, đồng thời giúp đội có bốn mùa giải kết thúc trong top tám của First Division. Dưới thời Gillies, câu lạc bộ từng cạnh tranh cho cú đúp First Division và Cúp FA ở mùa giải 1962-63.
Kỉ lục và thống kê
Graham Cross giữ kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất cho Leicester, với 600 trận trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1976; con số này tăng từ 599 sau khi câu lạc bộ quyết định đưa FA Charity Shield 1971 vào hệ thống thống kê chính thức.[182] Tuy nhiên, Adam Black giữ kỉ lục số lần ra sân tại giải vô địch, với 528 trận trong giai đoạn từ năm 1920 đến năm 1935.[183]
Tiền đạo Arthur Chandler hiện là chân sút ghi nhiều bàn nhất mọi thời đại của câu lạc bộ, với 273 bàn trong 12 năm gắn bó. Ông cũng từng ghi bàn trong 8 trận liên tiếp ở mùa giải 1924-25.[3] Số bàn thắng nhiều nhất mà một cầu thủ ghi được trong một mùa giải cho câu lạc bộ là 44 bàn của Arthur Rowley, ở mùa giải 1956-57.[3] Bàn thắng nhanh nhất trong lịch sử câu lạc bộ được ghi sau 9 giây bởi Matty Fryatt trong trận gặp Preston North End vào tháng 4 năm 2006.[184]
Tiền đạo Jamie Vardy đã phá kỉ lục Premier League trước đó là ghi bàn trong 11 trận liên tiếp, bằng việc ghi 13 bàn trong chuỗi 11 trận liên tiếp ở mùa giải Premier League 2015-16.[185] Bàn thắng của Vardy trong trận gặp Sunderland ngày 10 tháng 4 năm 2016 giúp anh trở thành cầu thủ Leicester đầu tiên kể từ Gary Lineker ở mùa giải 1984-85 ghi được 20 bàn tại hạng đấu cao nhất cho câu lạc bộ, sau khi trước đó đã trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn nhất cho Leicester trong một mùa giải Premier League.[186] Vardy khép lại mùa giải với 23 bàn thắng và giành danh hiệu Premier League Golden Boot của mùa giải đó.[187]
Mức phí chuyển nhượng kỉ lục mà Leicester từng chi cho một cầu thủ rơi vào khoảng 32 đến 40 triệu bảng, dành cho tiền vệ Youri Tielemans từ AS Monaco.[188] Khoản phí chuyển nhượng cao nhất mà Leicester từng thu về cho một cầu thủ là khoảng 80 triệu bảng từ Manchester United khi bán Harry Maguire; vào thời điểm đó, đây là mức phí cao thứ 11 trong lịch sử,[189] là thương vụ đắt giá nhất từng diễn ra giữa hai câu lạc bộ Anh,[190] đồng thời cũng là mức phí cao nhất từng được trả cho một hậu vệ.[191]
Kỉ lục khán giả sân nhà của Leicester là 47.298 người, ở trận vòng Năm Cúp FA gặp Tottenham Hotspur tại Filbert Street vào năm 1928.[192] Kỉ lục khán giả sân nhà hiện tại tại sân vận động mới là 32.242 người, trong trận Premier League gặp Sunderland vào ngày 8 tháng 8 năm 2015.[193] Số khán giả cao nhất từ trước tới nay cho một trận bóng đá không chính thức tại King Power Stadium là 32.188 người, ở trận giao hữu trước mùa giải gặp Real Madrid ngày 30 tháng 7 năm 2011.[194]
Thứ hạng cao nhất của Leicester tại giải vô địch là vị trí số một ở Premier League mùa giải 2015-16.[29] Câu lạc bộ hiện giữ kỉ lục số danh hiệu hạng Nhì nhiều nhất với 8 lần vô địch.[109]
Chuỗi bất bại dài nhất của Leicester tại giải vô địch tính đến nay kéo dài từ ngày 1 tháng 11 năm 2008 đến ngày 7 tháng 3 năm 2009. Đội bóng duy trì thành tích bất bại trong 23 trận trên hành trình giành chức vô địch League One.[195] Chuỗi thắng liên tiếp dài nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch hiện là chín trận, được thiết lập từ ngày 21 tháng 12 năm 2013 đến ngày 1 tháng 2 năm 2014 ở Championship.
Trong mùa giải 2015-16, Leicester lập nhiều kỉ lục mới của câu lạc bộ trong điều mà The Daily Telegraph mô tả là "một trong những chức vô địch giải đấu gây kinh ngạc nhất mọi thời đại".[196] Họ có số trận thắng liên tiếp nhiều nhất và số trận thua ít nhất trong mọi mùa giải Premier League trước đó của câu lạc bộ, đồng thời cũng có số trận thua sân khách ít nhất trong mọi mùa giải hạng đấu cao nhất trước đây. Kỉ lục về các chiến thắng liên tiếp được thiết lập trước Watford, Newcastle United, Crystal Palace, Southampton và Sunderland. Trùng hợp là Leicester cũng giữ sạch lưới trong năm trận liên tiếp trước chính năm đối thủ đó. Trong suốt mùa giải Premier League 2015-16, người hâm mộ trên sân nhà của Leicester chỉ phải chứng kiến đội bóng của mình thua đúng một lần.[186]
Leicester có lần đầu ra mắt tại UEFA Champions League ở mùa giải 2016-17, đánh dấu lần thứ tư câu lạc bộ góp mặt ở đấu trường châu Âu. Câu lạc bộ trở thành đội bóng Anh thứ ba giành chiến thắng ngay trong trận ra mắt Champions League, sau Manchester United năm 1994 và Newcastle United năm 1997. Họ cũng trở thành đội bóng Anh đầu tiên thắng trên sân khách ngay ở trận ra mắt Champions League, đồng thời thắng cả ba trận mở màn ở giải đấu này.[197][198] Leicester hiện vẫn là đội đầu tiên và duy nhất trong lịch sử Champions League giữ sạch lưới ở cả bốn trận mở màn của mình tại giải đấu.[199] Đến tháng 3 năm 2017, Leicester trở thành đội bóng thứ 50 lọt vào tứ kết UEFA Champions League.
Trong giai đoạn đầu của Premier League 2019-20, câu lạc bộ thắng 12 trong 16 trận mở màn, đây là số chiến thắng nhiều nhất mà Leicester từng có ở giai đoạn này của bất kì mùa giải vô địch nào trước đó.[200][201][202]
Ngày 25 tháng 10 năm 2019, đội Leicester dưới sự dẫn dắt của Brendan Rodgers lập kỉ lục về chiến thắng sân khách với cách biệt lớn nhất trong lịch sử hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh, khi đánh bại Southampton 9-0 tại St Mary's Stadium. Với kết quả này, họ cũng san bằng kỉ lục về chiến thắng đậm nhất trong lịch sử Premier League, cân bằng với trận Manchester United thắng Ipswich Town 9-0 trên sân nhà năm 1995.[203] Vì vậy, Leicester City hiện nắm giữ các kỉ lục mọi thời đại ở hạng đấu cao nhất về trận thua đậm nhất, chiến thắng sân khách đậm nhất, và trận hòa có nhiều bàn thắng nhất.
Ngày 8 tháng 12 năm 2019, chiến thắng 4-1 trên sân Aston Villa giúp câu lạc bộ thiết lập kỉ lục mới với tám trận thắng liên tiếp. Thành tích này vượt qua kỉ lục năm trận thắng liên tiếp ở mùa giải vô địch Premier League 2015-16, đồng thời cũng vượt qua kỉ lục cũ mọi thời đại của Leicester tại hạng đấu cao nhất là bảy chiến thắng liên tiếp, được thiết lập trong giai đoạn từ tháng 12 năm 1962 đến tháng 3 năm 1963.[201][204]
Ngày 15 tháng 5 năm 2021, Leicester City vô địch Cúp FA lần đầu tiên trong lịch sử, sau khi đã thua bốn trận chung kết trước đó vào các năm 1949, 1961, 1963 và 1969. Bản hợp đồng kỉ lục của câu lạc bộ, Youri Tielemans, đã ghi bàn thắng quyết định vào lưới Chelsea tại Sân vận động Wembley.[205]
Ngày 28 tháng 5 năm 2023, câu lạc bộ rớt hạng khỏi Premier League với giá trị đội hình và quĩ lương cầu thủ cao nhất từ trước tới nay bên ngoài nhóm 'big six' truyền thống của Premier League.[103][102]
Trong EFL Championship 2023-24, câu lạc bộ lập thêm một loạt kỉ lục mới. Họ có khởi đầu tốt nhất trong một mùa giải vô địch tính đến thời điểm đó, đồng thời cũng là tốt nhất trong lịch sử giải đấu này kể từ khi mang tên Championship vào năm 2004.[206] Họ cũng cân bằng kỉ lục mọi thời đại là chín chiến thắng liên tiếp tại giải vô địch trên cả sân nhà lẫn sân khách, đồng thời có bốn trận sân nhà liên tiếp không để thủng lưới lần đầu tiên kể từ năm 1973.[207][208]
Lịch sử thi đấu ở giải vô địch
Kể từ khi được bầu vào Football League năm 1894, Leicester City đã trải qua tất cả các mùa giải, trừ một mùa, trong hai hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Quãng thời gian dài nhất của câu lạc bộ ở hạng đấu cao nhất kéo dài từ năm 1957 đến năm 1969. Trong những năm này, câu lạc bộ vào ba trận chung kết Cúp FA, lần đầu tiên tham dự cúp châu Âu, và đạt thành tích cao thứ ba trong lịch sử tại giải vô địch. Trong mùa giải 2008-09, Leicester thi đấu tại League One, hạng Ba của bóng đá Anh, lần đầu tiên sau khi rớt hạng từ Championship. Tuy nhiên, câu lạc bộ đã trở lại hạng Nhì ngay lập tức với chức vô địch League One 2008-09.
- Nguồn[93]
|
|
|
|
|
|
- Số mùa giải thi đấu ở Cấp độ 1 của hệ thống giải bóng đá: 56
- Số mùa giải thi đấu ở Cấp độ 2 của hệ thống giải bóng đá: 63
- Số mùa giải thi đấu ở Cấp độ 3 của hệ thống giải bóng đá: 1
(tính đến hết mùa giải 2024-25)
Cầu thủ
Đội hình đội một
- Tính đến 3 tháng 2 năm 2026[209]
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Đội U-21 và học viện
Cầu thủ cũ
Ban quản lí
Tính đến ngày 3 tháng 3 năm 2026[cập nhật][210]
| Ban giám đốc và lãnh đạo cấp cao | |
|---|---|
| Vai trò | Người đảm nhiệm |
| Chủ tịch | Aiyawatt Srivaddhanaprabha |
| Phó chủ tịch | Apichet Srivaddhanaprabha |
| Phó chủ tịch | Liu Shilai |
| Giám đốc phụ trách bóng đá | Jon Rudkin |
| Giám đốc thể thao | James McCarron |
| Giám đốc điều hành | Kevin Davies |
| Giám đốc điều hành thường trực | Kamonthip Netthanomsak |
| Giám đốc thương mại | Russell Jones |
| Giám đốc tài chính | Khuyết |
| Giám đốc vận hành bóng đá | Andrew Neville |
| Giám đốc vận hành | Alan Dawson |
| Giám đốc truyền thông và tiếp thị | Anthony Herlihy |
| Phó giám đốc phụ trách vận hành trung tâm huấn luyện | Tony Kavanagh |
| Phó giám đốc phụ trách nội dung, tiếp thị và kĩ thuật số | Sam Chambers |
| Ban huấn luyện | |
|---|---|
| Vai trò | Người đảm nhiệm |
| Huấn luyện viên đội một | Gary Rowett |
| Trợ lí huấn luyện viên đội một | Callum Davidson |
| Các huấn luyện viên đội một | Andy King Adam Sadler |
| Huấn luyện viên phụ trách bóng chết đội một | Andrew Hughes |
| Trưởng bộ phận thể lực và điều kiện vận động | Matt Reeves |
| Trưởng bộ phận y học | Dr. Simon Morris |
| Trưởng bộ phận vật lí trị liệu | Gary Silk Niall Stevens |
| Quản lí trang phục | Paul McAndrew |
| Trưởng bộ phận tuyển mộ cầu thủ cấp cao | Martyn Glover |
| Giám đốc học viện | Jon Rudkin |
Thống kê cầu thủ
Cầu thủ xuất sắc nhất năm
Giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Leicester City được người hâm mộ câu lạc bộ bầu chọn vào cuối mỗi mùa giải.[181]
Thành viên Đại sảnh Danh vọng bóng đá Anh
Những người sau đây từng thi đấu cho Leicester City và đã được đưa vào Đại sảnh Danh vọng bóng đá Anh:
Gordon Banks 2002 (thành viên đầu tiên)[214]
Peter Shilton 2002 (thành viên đầu tiên)[214]
Gary Lineker 2003[215]
Don Revie 2004 (được ghi danh với tư cách huấn luyện viên)[216]
Frank McLintock 2009[217][218]
100 huyền thoại của Football League
Football League 100 Legends là danh sách "100 cầu thủ bóng đá huyền thoại" do The Football League công bố năm 1998 để kỉ niệm mùa giải thứ 100 của bóng đá giải vô địch.[219] Danh sách này cũng bao gồm các cầu thủ Premier League, và những cựu cầu thủ Leicester City sau đây đã được chọn:[219]
Cầu thủ có hơn 300 lần ra sân cho Leicester
Chỉ tính các lần ra sân ở các giải đấu chính thức. Những cầu thủ hiện tại được in đậm.
Graham Cross 600
Adam Black 557
Jamie Vardy 500
Kasper Schmeichel 479
Hugh Adcock 460
Mark Wallington 460
Steve Walsh 450
Arthur Chandler 419
John Sjoberg 414
Mal Griffiths 409
Steve Whitworth 401
Andy King 379
Sep Smith 373
Mike Stringfellow 370
Richie Norman 365
Gordon Banks 356
John O'Neill 345Dave Gibson 339
Peter Shilton 339
Colin Appleton 333
Dennis Rofe 324
Wes Morgan 323
Paul Ramsey 322Arthur Rowley 321
Arthur Lochhead 320
Muzzy Izzet 319
Ian Wilson 318
Derek Hines 317
Marc Albrighton 313
Lenny Glover 306
Cầu thủ có từ 50 bàn thắng trở lên cho Leicester
Chỉ tính các giải đấu chính thức. Những cầu thủ hiện tại được in đậm.
Arthur Chandler 273
Arthur Rowley 265
Jamie Vardy 200
Ernie Hine 156
Derek Hines 117
Arthur Lochhead 114
Gary Lineker 103
Mike Stringfellow 97
Johnny Duncan 95
Jimmy Walsh 91
Jack Lee 84
Alan Smith 84
Frank Worthington 78
Mal Griffiths 76
Ken Keyworth 76
Danny Liddle 71
Arthur Maw 64
Matty Fryatt 62
Andy King 62
Steve Walsh 62
Kelechi Iheanacho 61
Steve Lynex 60
David Nugent 59
Fred Shinton 58
Jack Bowers 56
James Maddison 55
Dave Gibson 53
Jackie Sinclair 53
Hugh Adcock 52
George Dewis 51
Gary McAllister 51
Danh hiệu
Leicester City hiện là một trong 5 câu lạc bộ, cùng với Manchester United, Manchester City, Chelsea và Liverpool, đã giành được Premier League, Cúp FA và Cúp Liên đoàn kể từ năm 2000. Tính từ đầu thiên niên kỉ, họ là câu lạc bộ thành công thứ 6 của bóng đá Anh và là một trong 14 câu lạc bộ đã giành cả 4 danh hiệu quốc nội lớn.[222] Câu lạc bộ cũng giữ kỉ lục nhiều danh hiệu hạng Nhì nhất với tám lần vô địch.[223]
Giải vô địch
- First Division / Premier League (cấp độ 1)
- Second Division / First Division / Championship (cấp độ 2)
- League One (cấp độ 3)
- Vô địch: 2008-09
Cúp
Ghi chú
- ^ Trận sân khách được tổ chức tại Sân vận động Gerhard Hanappi, Vienna, Áo
Tham khảo
- ^ a b "Honours - LCFC Men". Leicester City Football Club (bằng tiếng English). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ^ James, Stuart (ngày 24 tháng 2 năm 2017). "Claudio Ranieri's reign ends in cruel, brutal fashion as Leicester lose patience". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2023.
- ^ a b c d Sewell, Albert (1974). Observer's Book of Association Football. London: Frederick Warne & Co. tr. 58. ISBN 978-0-7232-1536-3.
- ^ "Short sporting lifetime". Leicester Mercury. ngày 1 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b c d e f g h i j k l m "The History of Leicester City Football Club". Leicester City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Final 1908/1909 English Division 1 (old) Table". Football DataCo Limited. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b "All Time Leicester Records & Achievements". Soccerbase.com. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester City 1924-1925: English Division Two (old) Table". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester City 1934-1935 : English Division Two (old) Table". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester City 1936-1937: English Division Two (old) Table". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester City 1938-1939: English Division Two (old) Table". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Socerbase.com FA Cup 1949". Soccerbase.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester City 1948-1949: Results". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester City 1948-1949: English Division Two (old) Table". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester City 1953-1954: English Division Two (old) Table". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "QosFC: Legends – Dave Halliday". qosfc.com. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester City drops into second division". Leader-Post. Regina. Reuters. ngày 20 tháng 5 năm 1969. tr. 21. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2013.
- ^ Bagchi, Rob (ngày 6 tháng 10 năm 2011). "The forgotten story of ... Leicester City: Ice Kings". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ Miller, Nick (ngày 4 tháng 8 năm 2016). "The forgotten story of ... Leicester City winning the 1971 Charity Shield". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2016.
- ^ "Liverpool in 5th Cup Final". The Age. ngày 5 tháng 4 năm 1975. tr. 26. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2009. [liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ^ Hern, Bill; Gleave, David (2020). Football's Black Pioneers. Leicester: Conker Editions. tr. 168–169. ISBN 9781999900854.
- ^ "Liverpool finally get something". New Straits Times. ngày 8 tháng 5 năm 1980. tr. 30. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2009.
- ^ "McGhee the new man at Molineux". The Independent. London. ngày 14 tháng 12 năm 1995. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2009.
- ^ "Red Star end Leicester dreams". BBC News. ngày 28 tháng 9 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Statement by the Foxes Trust on an unofficial forum". Talkingballs.co.uk. ngày 24 tháng 11 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester City put into administration". BBC News. ngày 22 tháng 10 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2006.
- ^ "Mandarić seals Leicester takeover". BBC Sport. ngày 13 tháng 2 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ Nickless, Graham (ngày 26 tháng 11 năm 2007). "Bristol City 0 Leicester City 2: 'Hollywood' Holloway makes successful start". The Independent. London. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2009.
- ^ a b Roeder, Oliver (ngày 3 tháng 5 năm 2016). "Leicester City's Stunning Rise, In Two Charts". FiveThirtyEight. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Sousa confirmed as new Leicester boss". BBC Sport. ngày 7 tháng 7 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Thai consortium eyes deal to buy Leicester for £39m". BBC Sport. ngày 5 tháng 8 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Thai group buys Leicester City". Agence France-Presse. ngày 12 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Thai-based consortium seal Leicester City deal". BBC Sport. ngày 12 tháng 8 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester sack Paulo Sousa". BBC Sport. ngày 1 tháng 10 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Portsmouth 6-1 Leicester". BBC Sport. ngày 24 tháng 9 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Sven-Goran Eriksson appointed Leicester City manager". BBC Sport. ngày 3 tháng 10 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Vichai Raksriaksorn named Leicester City chairman". BBC Sport. ngày 10 tháng 2 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Sven-Goran Eriksson leaves his role as Leicester boss". BBC Sport. ngày 24 tháng 10 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester City appoint Hull City's Nigel Pearson as boss". BBC Sport. ngày 15 tháng 11 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2015.
- ^ "Leicester City: Billionaire owner 'will spend £180m' to make top five". BBC Sport. ngày 13 tháng 5 năm 2014.
- ^ Mike Whalley. "Leicester City 1-1 Arsenal". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
- ^ Steve Canavan. "Stoke City 0-1 Leicester City". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
- ^ Aimee Lewis. "Leicester City 5-3 Manchester United". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
- ^ Corless, Liam (ngày 16 tháng 5 năm 2015). "The incredible run that secured Leicester City's Premier League survival". The Mirror. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018.
- ^ "Sunderland vs Leicester City reaction: Foxes secure perhaps the greatest escape in Premier League history". The Independent. ngày 17 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2017.
- ^ "Nigel Pearson: Leicester boss's sacking linked to son's actions". BBC Sport. ngày 1 tháng 7 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Leicester City parts company with Nigel Pearson". Leicester City FC. ngày 30 tháng 6 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2015.
- ^ "Claudio Ranieri: Leicester City appoint ex-Chelsea manager". BBC Sport. ngày 13 tháng 7 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2015.
- ^ "Claudio Ranieri: Leicester City appoint ex-Chelsea manager" (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 7 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2019.
- ^ "Jamie Vardy breaks record for goals in consecutive games". BBC Sport. ngày 28 tháng 11 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2016.
- ^ Osborne, Chris (ngày 19 tháng 12 năm 2015). "Everton 2-3 Leicester City". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Leicester city stats". Skysports.com. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016.
- ^ Clark, Gill. "Leicester qualify for Champions League". Goal.com. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2016.
- ^ "Leicester City win Premier League title after Tottenham draw at Chelsea". BBC Sport. ngày 2 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2016.
- ^ Lawrence, Amy. "Leicester celebrate first title after Chelsea recover for Tottenham draw". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Bookies set to hand over £15m if Leicester win title". ITV News. ngày 2 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2016.
- ^ Rayner, Gordon; Brown, Oliver. "Leicester City win Premier League and cost bookies biggest ever payout". The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2016.
- ^ Wood, Greg (ngày 3 tháng 5 năm 2016). "The 5.000-1 payouts on Leicester only tell part of Premier League betting story". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2016.
- ^ Hayward, Paul (ngày 3 tháng 5 năm 2016). "Leicester City's football fairytale touches us all". The Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018.
- ^ "Sport's greatest-ever upset". Sporting Life. ngày 2 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2016.
- ^ Markazi, Arash (ngày 12 tháng 2 năm 2016). "How longest of long shots could make history". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2016.
- ^ Hinshelwood, Colin. "Thailand Cheers as Far-away Leicester City Clinches Unlikely Soccer Title". TIME. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2016.
- ^ "The success of Leicester City will be pored over for management lessons". The Economist. ngày 7 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2016.
- ^ Sharma, Aabhas (ngày 3 tháng 5 năm 2016). "Leicester City: The champions who were never meant to be". Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Leicester City parade: Thousands gather to celebrate Premier League title win". BBC News. ngày 15 tháng 5 năm 2016.
- ^ JJ Bull (ngày 21 tháng 12 năm 2016). "The return of 4-4-2, non-striking strikers and keepers who can play: The tactical trends of 2016". Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2016.
- ^ Chris Whiting (ngày 9 tháng 5 năm 2016). "Nigel Pearson verdict". Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Sports Personality 2016: Leicester win Team of the Year, Claudio Ranieri top coach". BBC Sport. ngày 20 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2016.
- ^ a b "Claudio Ranieri: Leicester manager sacking made Gary Lineker 'shed a tear'". BBC Sport. ngày 24 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Football transfer gossip: Barkley, Vermaelen, Mahrez, Neymar, Sanchez". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Leicester City 3-1 Liverpool". BBC Sport. ngày 27 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Leicester City 3-1 Hull City". BBC Sport. ngày 4 tháng 3 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Craig Shakespeare Takes Charge of Leicester City Until The end of the Season". Leicester City F.C. ngày 12 tháng 3 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2017.
- ^ "Champions league table & Standings". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Leicester reach Champions League quarter-finals and threaten to defy logic again". BBC Sport. ngày 15 tháng 3 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Leicester City 1-1 Atlético Madrid". BBC Sport. ngày 18 tháng 4 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Craig Shakespeare: Leicester City caretaker named permanent manager". BBC Sport. ngày 8 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
- ^ "Craig Shakespeare: Leicester City sack manager four months after appointment". BBC Sport. ngày 17 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2017.
- ^ "Leicester City to pay Football League £3.1m to settle Financial Fair Play dispute". BBC Sport. ngày 21 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Leicester City owner's helicopter crashes". BBC News. ngày 27 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2018.
- ^ "Leicester City confirm chairman's death" (bằng tiếng Anh). BBC News. ngày 28 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2018.
- ^ Blackwell, Jordan (ngày 4 tháng 4 năm 2022). "Leicester City unveil Vichai statue in ceremony at King Power Stadium". LeicestershireLive. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Claude Puel Leaves Leicester City". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Brendan Rodgers: Leicester City appoint former Celtic boss as manager". BBC Sport. ngày 26 tháng 2 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Premier League: Ruthless Leicester City rout Southampton 9-0 to notch joint biggest away win in league history". ngày 26 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2019.
- ^ McNulty, Phil (ngày 28 tháng 1 năm 2020). "Late Trezeguet goal sends Villa into final". BBC Sport.
- ^ "Leicester 0-2 Man Utd – report and reaction as Foxes miss out". ngày 26 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.
- ^ "The full cost of COVID-19 on Leicester City's finances". Leicester Mercury. ngày 17 tháng 2 năm 2022.
- ^ "Leicester City's Thai owners standing firm behind club after revealing full extent of Covid losses". Business-live.co.uk. ngày 17 tháng 2 năm 2022.
- ^ "The money each Premier League club spent and received during transfer window". ngày 6 tháng 10 năm 2020.
- ^ https://www.skysports.com/football/news/11712/12173274/brendan-rodgers-believes-leicester-citys-new-training-ground-can-help-attract-elite-players
- ^ "Leicester's FA Cup final dreams come true as Chelsea fall short at Wembley". Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020.
- ^ a b "Leicester City". Football Club History Database. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2023.
- ^ "Leicester beat Man City to win Community Shield". BBC Sport.
- ^ "Leicester miss out on Conference League final". BBC Sport. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2023.
- ^ Percy, John (ngày 22 tháng 3 năm 2024). "How Leicester City's magic carpet ride spiralled into a spending rules nightmare". The Daily Telegraph.
- ^ "Leicester Mercury – What Leicester City's finances mean for summer transfers and James Maddison". Leicestermercury.co.uk. ngày 8 tháng 3 năm 2023.
- ^ "A nightmarish transfer window for Leicester City". Foxesofleicester.com. ngày 3 tháng 8 năm 2022.
- ^ "Owners investing in infrastructure to close the gap on the 'big six' in the long term". Sky Sports.
- ^ "LCFC Statement – Brendan Rodgers". Lcfc.com.
- ^ "Leicester City Appoint Dean Smith". Lcfc.com.
- ^ a b Hafez, Shamoon (ngày 28 tháng 5 năm 2023). "Leicester City 2-1 West Ham: Foxes relegated from Premier League". BBC Sport. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2025.
- ^ a b Percy, John (ngày 2 tháng 4 năm 2024). "Leicester City facing new PSR concerns after posting huge £89.7m losses". The Telegraph.
- ^ "Premier League: Everton avoids relegation on dramatic final day as Leicester City and Leeds United drop down to Championship". CNN. ngày 28 tháng 5 năm 2023.
- ^ "LCFC Appoint Maresca As Manager". Leicester City FC. ngày 16 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Record-Breaking Foxes Seal Swans Win". Leicester City FC. ngày 21 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Leicester's Lightning Start Gives Hope for Rapid Premier League Return". ngày 19 tháng 10 năm 2023.
- ^ Aloia, Andrew (ngày 29 tháng 4 năm 2024). "Preston North End 0-3 Leicester City". BBC Sport. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2024.
- ^ a b "City Clinch Record Eighth Second Tier Title At Preston". Leicester City FC. ngày 29 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2024.
- ^ "Premier League statement". ngày 3 tháng 9 năm 2024.
- ^ Hynter, David (ngày 3 tháng 6 năm 2024). "'A dream': Enzo Maresca appointed Chelsea head coach on five-year deal". The Guardian. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Cooper appointed Leicester manager". BBC Sport. BBC. ngày 20 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Steve Cooper: Leicester sack manager after just five months in charge". Sky Sports. Sky Group. ngày 25 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Leicester confirm appointment of Ruud van Nistelrooy as manager". The Guardian. ngày 29 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Leicester City 0-1 Liverpool: Foxes relegated by Alexander-Arnold Liverpool winner". BBC Sports.
- ^ Mashiter, Nick; Sanghera, Mandeep (ngày 20 tháng 5 năm 2025). "Leicester City referred to commission by Premier League over alleged EFL financial breaches". BBC Sports. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ^ "Leicester City charged by Premier League over alleged breaches of EFL's financial rules for 2023/24 season". Sky Sports. ngày 20 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ^ "Ruud Van Nistelrooy: First Team Manager And Leicester City Agree To Part Ways". Leicester City F.C. ngày 27 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2025.
- ^ "Leicester City Appoint Martí Cifuentes As Manager". Leicester City F.C. ngày 15 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2025.
- ^ Blackwell, Jordan (ngày 2 tháng 10 năm 2025). "Breaking: Leicester City chief executive Susan Whelan to step down after 15 years". Leicestershire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2025.
- ^ Percy, John (ngày 14 tháng 11 năm 2025). "Leicester director of football Jon Rudkin to move 'upstairs' in major overhaul". The Telegraph.
- ^ Tanner, Rob (ngày 14 tháng 11 năm 2025). "Leicester City chairman Khun Top pledges to rebuild connection with club's fans". The New York Times.
- ^ https://www.lcfc.com/pages/en/media-article/kamonthip-netthanomsa-interim-managing-director-leicester-city-lcfc
- ^ https://www.lcfc.com/pages/en/media-article/leicester-city-lcfc-statement-marti-cifuentes-manager
- ^ https://www.bbc.co.uk/sport/football/articles/crlepxyer74o
- ^ https://www.skysports.com/football/news/11712/13499286/leicester-city-club-owner-speaks-for-first-time-in-10-years-on-premier-league-title-fathers-legacy-and-struggles-returning-to-top
- ^ https://www.telegraph.co.uk/football/2026/01/27/leicester-owner-interview-selling-club-not-an-option/
- ^ https://www.nytimes.com/athletic/6999463/2026/01/27/khun-top-leicester-city-interview/
- ^ "Leicester docked six points for financial breaches". BBC Sport. ngày 5 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2026.
- ^ Percy, John (ngày 14 tháng 11 năm 2025). "Leicester director of football Jon Rudkin to move 'upstairs' in major overhaul". The Telegraph.
- ^ https://www.skysports.com/football/news/11095/13474908/leicester
- ^ https://www.lcfc.com/pages/en/media-article/gary-rowett-leicester-city-new-manager-lcfc-press-release
- ^ "Leicester appeal against six-point deduction". BBC Sport. ngày 19 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
- ^ "Premier League Statement". www.premierleague.com (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2026.
- ^ https://www.lcfc.com/pages/en/media-article/leicester-city-lcfc-leadership-structure-kevin-davies-jon-rudkin-james-mccarron-kamonthip-netthanomsak-russell-jones
- ^ Hutchinson, John (ngày 18 tháng 7 năm 2012). "City Shirts – A Potted History". Leicester City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b c d e f g h "Leicester City". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2009.
- ^ https://www.lcfc.com/pages/en/history-crests
- ^ "Leicester City unveil new home kit". Leicester Mercury. ngày 25 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b Moor, Dave. "Coca Cola Championship 2009 – 2010". historicalkits.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2020.
- ^ a b "Crests | Leicester City". lcfc.com.
- ^ "Leicester City's 2023/24 adidas Away Kit Unveiled & Launched Online & In-Store".
- ^ Official History DVD, 00:32:00
- ^ "The Post-Horn Gallop | Leicester City". lcfc.com.
- ^ a b "When You're Smiling | Leicester City". Lcfc.com.
- ^ "No More Puma – Adidas Leicester City 18-19 Home Kit Revealed". Footy Headlines. ngày 1 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Burrda Announced As Official Kit Supplier". LCFC.com. ngày 14 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "LCFC & PUMA Unveil 13/14 Home Kit". LCFC.com. ngày 6 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "BC.GAME Announced As New LCFC Principle Partner" (Thông cáo báo chí). Leicester City Football Club. ngày 5 tháng 7 năm 2024.
- ^ "BC.GAME Returns As Leicester City's Official Principal Partner" (Thông cáo báo chí). Leicester City Football Club. ngày 17 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Partnerships | Leicester City". Lcfc.com.
- ^ "Leicester rename Walkers Stadium the King Power Stadium". BBC Sport. ngày 5 tháng 7 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2020.
- ^ "FBS — OFFICIAL CLUB PARTNER OF LCFC". FBS.
- ^ "Siam Commercial Bank To Be Leicester City Sleeve Sponsor". Leicester City F.C. ngày 15 tháng 7 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018.
- ^ "Leicester City And ThaiBev Agree Multi-Year Global Partnership" (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2018.
- ^ a b c d Inglis, Simon (1987). The Football Grounds of Great Britain (2nd ed.). London: Collins Willow. tr. 136. ISBN 0-00-218249-1.
- ^ Author notes on Farewell to Filbert Street. ASIN 095235361X.
- ^ "Lineker unveils new Foxes home". BBC Sport. ngày 23 tháng 7 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "'A Massive Step Forward' – when the Foxes Moved to Filbert Way". Lcfc.com.
- ^ "Empate del Athletic Bilbao". El Dia (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 5 tháng 8 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2009.
- ^ Leach, Conrad (ngày 11 tháng 8 năm 2002). "Leicester make a tidy profit from Deane double". The Independent. London. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester City's Walkers Stadium could be renamed and increased in size". Leicester Mercury. ngày 19 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Leicester change stadium name". Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2020.
- ^ "King Power Stadium Development Latest".
- ^ "Premier League Handbook 2022/23" (PDF). ngày 19 tháng 7 năm 2022. tr. 24. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2023.
- ^ "Leicester City Make Historic Move To New Seagrave Training Ground". LCFC. ngày 22 tháng 12 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Football Rivals: The Census". Sky Sports. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2024.
- ^ Sinclair, John (ngày 17 tháng 2 năm 2007). "Leicester v Coventry". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2009.
- ^ "Club Rivalries Uncovered" (PDF). Football Fans Census. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2024.
- ^ White, Jim (ngày 8 tháng 2 năm 2025). "Football's weirdest rivalries: The reasons these clubs hate each other". The Telegraph. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Football Mysteries: What have Chelsea got against Leicester?". Shoot.co.uk. ngày 13 tháng 9 năm 2016.
- ^ "Vardy reignites Tottenham rivalry with jibe despite unbeaten start to season". Daily Mirror. ngày 18 tháng 9 năm 2023.
- ^ "Hooligan league - Cardiff fans fifth". BBC News. ngày 14 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2024.
- ^ https://www.theguardian.com/football/2002/jun/12/newsstory.sport
- ^ Keeping, Freya (ngày 26 tháng 3 năm 2024). "Leicester City ranks among teams with the highest number of hooligans". Melton Times. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Football-related arrests and banning orders, England and Wales: 2022 to 2023 season".
- ^ "Football-related arrests and banning orders, England and Wales: 2023 to 2024 season – 3.1 Highest number of new football banning orders since the 2010 to 2011 season". Government of the United Kingdom – Home Office. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2024.
- ^ "Study reveals the 15 English football teams with the most fan arrests over past five seasons". ngày 20 tháng 3 năm 2025.
- ^ https://www.lcfc.com/pages/en/media-article/gary-rowett-leicester-city-new-manager-lcfc-press-release
- ^ "Past Managers". Leicester City F.C. ngày 20 tháng 6 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ a b c d Smith, Dave; Taylor, Paul (2010). Of Fossils and Foxes. Pitch Publishing (Brighton) Limited. ISBN 978-1-905411-94-8.
- ^ "Leicester City Statistics – The FA Community Shield". Leicester City F.C. ngày 6 tháng 8 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2021.
- ^ a b "Most Appearances". Leicester City F.C. ngày 23 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Miscellaneous Records". Leicester City F.C. ngày 30 tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Jamie Vardy breaks record for goals in consecutive games". BBC Sport. ngày 28 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2023.
- ^ a b "CHAMPIONS: City's Record-Breaking Season". Leicester City F.C. ngày 4 tháng 5 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2016.
- ^ "Premier League Golden Boot: Leicester City's Jamie Vardy wins with 23 goals". BBC Sport. BBC. ngày 26 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2024.
- ^ "Leicester sign Youri Tielemans from Monaco for club record fee". The Guardian. ngày 8 tháng 7 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2021.
- ^ Barata, Pedro (ngày 5 tháng 8 năm 2019). "Football's most expensive XI". Marca. Adapted by Conor Clancy. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2021.
- ^ Romano, Fabrizio (ngày 4 tháng 8 năm 2021). "Jack Grealish poised to join Manchester City from Aston Villa in £100m deal". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2025.
United top the list of fees paid by one English club to another, too, with their £80m purchase of Harry Maguire from Leicester in 2019.
- ^ "Harry Maguire: Manchester United pay Leicester world-record fee for a defender". Sky Sports Football. ngày 5 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2021.
- ^ John Hutchinson (ngày 20 tháng 2 năm 2013). "TWIH: Filbert Street's record crowd". Leicester City FC. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2023.
- ^ "King Power Stadium Leicester City FC, Info & Map | Premier League".
- ^ "Record crowd watch Leicester City play Real Madrid". BBC Sport. ngày 1 tháng 8 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ "No escape act this time, City!". Leicester Mercury. ngày 12 tháng 3 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
- ^ Wallace, Sam (ngày 10 tháng 12 năm 2016). "Leicester City 4 Man City 2: Foxes find their ferocious side as Jamie Vardy hat-trick ends 16 match goal drought". Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2016.
- ^ @TheOddsBible (ngày 18 tháng 10 năm 2016). "Leicester are the first English side ever to win their first three Champions League games" (Tweet) – qua Twitter.
- ^ Miller, Max (ngày 27 tháng 9 năm 2016). "Leicester City make BEST EVER start to Champions League life by English club". Metro.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2016.
- ^ @SkySportsStatto (ngày 2 tháng 11 năm 2016). "@LCFC are the 1st team in Champions League history to keep clean sheets in their opening 4 games in the competition" (Tweet) – qua Twitter.
- ^ "Leicester 2-0 Watford: Jamie Vardy and James Maddison on target". BBC Sport. ngày 3 tháng 12 năm 2019.
- ^ a b "Aston Villa 1-4 Leicester: Jamie Vardy scores two as Leicester claim club record eighth win in row". BBC Sport. ngày 6 tháng 12 năm 2019.
- ^ "Leicester City (Sky Sports)". SkySports.
- ^ "Leicester City equal Premier League record win with nine-goal rout over sorry Southampton". The Telegraph. ngày 25 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2019.
- ^ "MW15 stats: Leicester on club-record winning sequence". www.premierleague.com. ngày 3 tháng 12 năm 2019.
- ^ "Chelsea 0-1 Leicester: Foxes lift FA Cup for first time after Youri Tielemans stunner". BBC Sport. ngày 14 tháng 5 năm 2021.
- ^ "Record-Breaking Foxes Seal Swans Win". Lcfc.com.
- ^ "Leicester City in 2023/24: Records Broken & Others in Sight". Lcfc.com.
- ^ "Leicester's Lightning Start Gives Hope for Rapid Premier League Return". ngày 19 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Men Teams LCFC". Leicester City F.C. ngày 22 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2025.
- ^ https://www.lcfc.com/pages/en/senior-management
- ^ "Iheanacho & Leitzig Earn Player Of The Season Recognition". Leicester City Football Club. ngày 31 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2023.
- ^ "Award Braces For Dewsbury-Hall & Rantala". Leicester City F.C. ngày 30 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2024.
- ^ "Vardy Crowned Player Of The Season On Landmark Day". Leicester City F.C. ngày 19 tháng 5 năm 2025.
- ^ a b "English football's finest honoured". BBC Sport. ngày 30 tháng 11 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Football Focus | Robson joins Hall of Fame". BBC Sport. ngày 2 tháng 12 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.
- ^ Riach, James. "Revie remembered". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.
- ^ Stephen Halliday (ngày 12 tháng 11 năm 2012). "Football Hall of Fame: Pat Stanton and Gordon McQueen among five new inductees". The Scotsman. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Frank McLintock". National Football Museum. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2017.
- ^ a b "Football | Legends list in full". BBC News. ngày 5 tháng 8 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2016.
- ^ "The official site of Leicester City Football Club". Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011.
- ^ "Players". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013.
- ^ "Honours | Leicester City". lcfc.com.
- ^ "Leicester City: Champions!". Leicester City F.C. ngày 29 tháng 4 năm 2024.
Đọc thêm
- Smith, Dave; Taylor, Paul (2001). Of Fossils and Foxes: The Official Definitive History of Leicester City Football Club. ISBN 978-1-899538-21-8.
- Smith, Dave; Taylor, Paul (1995). The Foxes Alphabet: Complete Who's Who of Leicester City Football Club. ISBN 978-1-899538-06-5.
- Leicester City FC, The Official History of Leicester City Football Club DVD (2003) (hết lưu hành). EAN 5035593200013.
- Hutchinson, John (2014). From Shed to Stadium: Illustrated history of LCFC. ISBN 978-1-909872-18-9.
- Hutchinson, John; Plumb, Neil; O'Donnell, Rob (2015). Leicester City Classic Shirts 1949-2016. ISBN 978-1-909872-76-9.
Liên kết ngoài
- Không tìm thấy URL. Vui lòng định rõ một URL ở đây hoặc thêm vào trên Wikidata.
Các trang độc lập
- Leicester City F.C. trên BBC Sport: Tin tức câu lạc bộ – Kết quả gần đây – Lịch thi đấu sắp tới (bằng tiếng Anh)
- Leicester City tại Sky Sports
- Leicester City FC tại Premier League
- Leicester City FC tại UEFA
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Bài có liên kết hỏng
- Bài có liên kết hỏng vĩnh viễn
- Nguồn CS1 tiếng Tây Ban Nha (es)
- Trang có lỗi kịch bản
- Bài có mô tả ngắn
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Bài viết có văn bản tiếng Anh
- Website chính thức thiếu URL
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Anh (en)
- Leicester City F.C.
- Câu lạc bộ bóng đá Anh
- Câu lạc bộ Premier League
- Thể thao Leicester
- Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1884
- Vô địch Cúp EFL
- Midland Football League (1889)
- Câu lạc bộ English Football League
- Khởi đầu năm 1884 ở Anh
- Câu lạc bộ bóng đá Leicestershire
- Vô địch Cúp FA
- Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh