Bước tới nội dung

Uttaranandamata

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Uttarānandamātā
Tập tin:092 Uttaranandamata (detail) (9164045901).jpg
Chức danhnữ cư sĩ
Đời tư
Sinhthế kỉ 6 TCN
Bạn đờiSumana
Tên khácUttarā
Đời tu
Tôn giáoPhật giáo
Chuyên mônUpāsikā
Vị trí cấp cao
Sư phụGautama Buddha

Uttarānandamātā là một nữ cư sĩ và là một trong những đệ tử ưu tú của Đức Phật. Bà được xem là người đứng đầu trong hàng nữ đệ tử về thiền định.[1] Bà cũng thường được gọi đơn giản là Uttarā, còn tên gọi "Uttarānandamātā" được dùng để phân biệt bà với những đệ tử khác cùng tên.

Bà được liệt kê trong danh sách các nữ cư sĩ kiệt xuất đã thực hành uposathaBát quan trai giới.[2]

Tiểu sử

Tiền kiếp

Theo Buddhavaṃsa, vị Uttarā Nandamātā trong tương lai sinh vào một gia đình giàu có tại thành Haṃsāvatī dưới thời Phật Padumuttara. Trong khi lắng nghe một thời pháp do vị Phật ấy thuyết giảng, bà chứng kiến Ngài tuyên dương một nữ cư sĩ là người xuất sắc nhất trong số những người an trú trong thiền định (jhāna). Bà phát nguyện rằng trong một đời vị lai mình cũng sẽ đạt được địa vị ấy và bày tỏ nguyện vọng với Đức Phật. Ngài đã thọ ký rằng nguyện ước của bà sẽ được thành tựu.

Thời niên thiếu

Chú giải Aṅguttara Nikāya cho biết Uttarā Nandamātā sinh vào thời kỳ của Đức Phật Thích Ca, là con gái của Puṇṇasīha (còn được gọi là Puṇṇa hoặc Puṇṇaka), một người hầu của vị trưởng giả (seṭṭhi) tên SumanaRājagaha. Mẹ của bà cũng tên là Uttarā.[3]

Puṇṇasīha trở thành một thương gia giàu có (dhanaseṭṭhi) sau khi nhận được khối tài sản lớn nhờ công đức có được từ việc cúng dường một bữa ăn cho Sāriputta. Sau đó, ông đã cúng dường thực phẩm đến Đức Phật cùng chư Tăng trong suốt bảy ngày. Vào ngày thứ bảy, sau khi Đức Phật thuyết pháp về công đức và sự tri ân đối với hạnh bố thí của ông, Puṇṇasīha, vợ ông và con gái ông đều chứng đắc quả vị Sotāpanna (Nhập lưu).

Hôn nhân

Sumana đã hỏi cưới Uttarā cho con trai mình, nhưng lời cầu hôn bị từ chối vì gia đình Sumana là ngoại đạo, không phải tín đồ Phật giáo. Puṇṇasīha giải thích với Sumana rằng Uttarā là đệ tử của Đức Phật và mỗi ngày đều cúng dường hoa với chi phí một kahāpana. Sumana đáp lại rằng Uttarā nên được cúng dường lượng hoa trị giá hai kahāpanas. Puṇṇasīha đồng ý, và Uttarā được gả đi.

Sau nhiều lần không thành công trong việc xin phép chồng được giữ ngày trai giới uposatha như khi còn sống ở nhà cha mẹ, bà nhận từ cha mình mười lăm nghìn kahāpanas và dùng số tiền này để thuê một kỹ nữ tên Sirimā, em gái của Jīvaka, chăm sóc chồng bà trong nửa tháng. Cuối cùng, người chồng chấp thuận và cho phép bà thực hành giới pháp uposatha trong thời gian đó.

Sự ghen tuông của Sirimā

Vào ngày cuối cùng của kỳ trai giới, Uttarā bận rộn chuẩn bị phẩm vật cúng dường Đức Phật. Chồng bà và Sirimā nhìn thấy bà rồi mỉm cười, cho rằng bà thật ngốc nghếch khi phải làm việc giữa những người hầu thay vì tận hưởng sự giàu sang của mình. Đến lượt mình, Uttarā cũng mỉm cười khi nghĩ đến sự mê lầm của họ, vì tin rằng cuộc sống an nhàn hưởng thụ ấy sẽ tồn tại mãi mãi.

Sirimā tưởng rằng hai vợ chồng đang mỉm cười với nhau nên nổi cơn ghen dữ dội. Nàng cầm một muôi đầy dầu sôi và đổ lên đầu Uttarā. Nhưng vào lúc ấy, Uttarā đang an trú trong thiền từ tâm, khởi lòng thương xót đối với Sirimā, nên dầu sôi không làm tổn hại bà.

Một người hầu đã quở trách Sirimā vì hành động đó, khiến nàng nhận ra mức độ nghiêm trọng của việc mình làm. Nàng cầu xin Uttarā tha thứ. Uttarā trả lời rằng trước tiên nàng phải xin sự tha thứ từ vị thầy tâm linh của mình là Đức Phật.

Cả hai cùng đến gặp Đức Phật. Ngài tha thứ cho Sirimā và thuyết một bài pháp về sự trân trọng thực phẩm. Sau đó, Ngài đọc bài kệ sau trong Dhammapada (kệ 223):

Hãy chiến thắng người nóng giận bằng lòng từ ái;

Hãy chiến thắng kẻ xấu ác bằng điều thiện lành;
Hãy chiến thắng người keo kiệt bằng sự rộng lượng;
Hãy chiến thắng kẻ nói dối bằng lời chân thật.

Sau thời pháp ấy, Sirimā chứng đắc quả vị Sotāpanna (Nhập lưu).

Qua đời

Sau khi qua đời, Uttarā được tái sinh trong một vimāna ở cõi trời Tāvatiṃsa.

Moggallāna đã nhìn thấy bà trong một lần viếng thăm cõi Tāvatiṃsa và sau đó thuật lại câu chuyện của bà cho Đức Phật.

Trong văn học

Chú giải Vimānavatthu và Chú giải Pháp Cú có đưa ra một chút thay đổi cho câu chuyện trên. Theo các bản này, sau khi Đức Phật kết thúc thời pháp dành cho Sirimā, Uttarā chứng đắc quả vị Sakadāgāmī (Nhất Lai), còn chồng bà và cha chồng bà đều chứng đắc quả vị Sotāpanna.

Người con trai của bà là Nanda không bao giờ được nhắc đến. Thomas William Rhys Davids từng đề xuất rằng Uttarā Nandamātā có thể là cùng một người với Velukantakīnandamātā, nhưng nhiều học giả khác không đồng ý.[4] Uttara Nandamata (n.đ.'mẹ của Nanda', không nên nhầm lẫn với Nan-đà, người anh em cùng cha khác mẹ của Đức Phật có cùng tên).[5]

Uttarā cũng xuất hiện trong Chương 9 của Visuddhimagga như một ví dụ minh họa cho luận điểm rằng lửa không thể làm tổn hại thân thể của một người đang an trú trong tâm từ.

Xem thêm

Tài liệu tham khảo

  1. ^ Bhikkhu Sujato (2018). "Numbered Discourses 1: Chapter Seven". Sutta Central. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2025.
  2. ^ Hardy, Edmond (1899). The Aṅguttara-Nikāya: Part IV. London: Pali Text Society. tr. 347.
  3. ^ Ven. Mingun Sayadaw (1990). "Maha Buddhavamsa—The Great Chronicle of Buddhas". Wisdom Library. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2025.
  4. ^ Malalasekera, G. P. (1937). "Uttarā Nandamātā". Buddhist Dictionary of Pali Proper Names. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2025.
  5. ^ The Connected Discourses of the Buddha: A New Translation of the Samyutta Nikaya (bằng tiếng Anh). Simon and Schuster. ngày 10 tháng 6 năm 2005. ISBN 978-0-86171-973-0.The Connected Discourses of the Buddha: A New Translation of the Samyutta Nikaya. Simon and Schuster. 10 June 2005. ISBN 978-0-86171-973-0.

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).