Craig Sinclair Gordon (sinh ngày 31 tháng 12 năm 1982) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Scotland từng thi đấu ở vị trí thủ môn.

Craig Gordon
Tập tin:Craig Gordon Scotland v Bolivia 6 June 2026-19.jpg
Gordon trong màu áo Scotland năm 2026
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Craig Sinclair Gordon[1]
Ngày sinh 31 tháng 12, 1982 (43 tuổi)[2]
Nơi sinh Edinburgh, Scotland
Chiều cao 1,93 m (6 ft 4 in)[3]
Vị trí Thủ môn[2]
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
Currie Boys
2000–2003 Heart of Midlothian
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2001–2007 Heart of Midlothian 139 (0)
2001–2002Cowdenbeath (mượn) 12 (0)
2007–2012 Sunderland 88 (0)
2014–2020 Celtic 147 (0)
2020–2026 Heart of Midlothian 117 (0)
Tổng cộng 503 (0)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
2002–2003 U-21 Scotland 5 (0)
2003–2005 Scotland B 2 (0)
2004–2026 Scotland 84 (0)
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Gordon bắt đầu sự nghiệp với Currie Boys trước khi gia nhập Heart of Midlothian. Anh từng được cho Cowdenbeath mượn (trong mùa giải 2001–02), trước khi trở thành thủ môn số một của Hearts từ năm 2003 đến năm 2007, giành Cúp bóng đá Scotland mùa 2005–06.[4] Câu lạc bộ Premier League Anh Sunderland mua anh vào năm 2007 với giá 9 triệu bảng (khi đó là mức phí chuyển nhượng kỷ lục của bóng đá Anh dành cho một thủ môn).[5]

Gordon gặp nhiều chấn thương nghiêm trọng trong thời gian khoác áo Sunderland và bị giải phóng hợp đồng vào năm 2012.[5] Sau hai năm không thi đấu, Gordon ký hợp đồng với Celtic vào tháng 7 năm 2014.[6] Anh giành năm chức vô địch quốc gia Scotland, hai Cúp bóng đá Scotland và bốn Cúp Liên đoàn bóng đá Scotland cùng Celtic, bao gồm các cú ăn ba quốc nội ở các mùa 2016–17, 2017–182018–19. Anh rời Celtic và trở lại Hearts vào tháng 6 năm 2020.

Gordon là thủ môn thường xuyên của Đội tuyển bóng đá quốc gia Scotland từ năm 2004 đến năm 2010, trước khi sự nghiệp bị gián đoạn vì chấn thương, và trở lại đội tuyển quốc gia vào năm 2014.[7] Anh được ghi danh vào Danh sách danh dự quốc tế của Hiệp hội bóng đá Scotland sau khi có lần khoác áo Scotland thứ 50 vào năm 2017. Tháng 6 năm 2024, anh trở thành cầu thủ lớn tuổi nhất từng thi đấu cho Scotland.

Gordon từng ba lần được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của SFWA, vào các năm 2006, 2015 và 2022, đồng thời được bầu là Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của SPLSFWA vào năm 2004.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Giai đoạn đầu sự nghiệp

Sinh ra tại Edinburgh,[2] Gordon theo học Balerno Community High School từ năm 1994 đến năm 1999.[8] Cha anh, David Gordon, từng thi đấu ở vị trí thủ môn cho một số câu lạc bộ thuộc East of Scotland, và khi còn nhỏ Gordon dành nhiều buổi chiều thứ Bảy để xem cha mình thi đấu.[9] Gordon bắt đầu sự nghiệp thủ môn tại đội bóng địa phương Currie Boys Football Club, rồi gia nhập và trưởng thành từ chương trình đào tạo trẻ của Heart of Midlothian (Hearts). Anh giành Scottish Youth Cup mùa 1999–2000, khi Hearts đánh bại Rangers 5–3 tại Hampden Park[10]SPL Under-18 League mùa 2000–01, đều dưới sự dẫn dắt của John McGlynn.[11][12]

Cowdenbeath (mượn)

Gordon được cho câu lạc bộ hạng dưới Cowdenbeath mượn vào năm 2001. Trong thời gian ở đó, anh tiếp tục tập luyện thường xuyên với Hearts, nhưng dành hai buổi tối mỗi tuần để tập cùng Cowdenbeath.[cần dẫn nguồn] Trận đấu chuyên nghiệp đầu tiên của anh diễn ra tại Forthbank trước Stirling Albion, và anh có tổng cộng 13 lần ra sân trước khi được Hearts gọi trở lại.[13] Cowdenbeath bất bại trên sân nhà trong thời gian Gordon thi đấu tại đây,[cần dẫn nguồn] và anh được ca ngợi sau một màn trình diễn xuất sắc trong trận đấu sân khách tại giải vô địch quốc gia ở Dumfries trước Queen of the South, kết thúc với chiến thắng 3–1. Queens, đội vô địch hạng đấu mùa đó, áp đảo trận đấu, nhưng các pha cứu thua của Gordon liên tục ngăn cản họ, khiến huấn luyện viên đối phương John Connolly mô tả màn trình diễn của Gordon là "giật gân".[14]

Heart of Midlothian

Tập tin:Craig S Gordon.jpg
Gordon trong màu áo Heart of Midlothian năm 2006

Gordon có trận ra mắt cho Hearts trong trận hòa 1–1 với Livingston vào ngày 6 tháng 10 năm 2002.[15] Lần ra sân còn lại của anh trong mùa giải đó là thất bại 4–0 trước Falkirk vào ngày 25 tháng 1 năm 2003 ở vòng ba Cúp bóng đá Scotland.[16] Trong mùa giải 2003–04 tiếp theo, anh vượt qua Tepi Moilanen để trở thành thủ môn thường xuyên của Hearts, ra sân trong 29 trận đấu ở giải vô địch quốc gia của đội.[15][17] Gordon có lần đầu thi đấu ở đấu trường châu Âu vào ngày 6 tháng 11 năm 2003, góp mặt trong lượt đi vòng hai UEFA Cup của Hearts trên đất Pháp trước Bordeaux. Anh thi đấu tốt và giữ sạch lưới trong chiến thắng 1–0 ấn tượng của Hearts.[18] Dù vậy, Hearts thua trận lượt về 2–0 tại Edinburgh và bị loại với tổng tỉ số chung cuộc.[19] Những màn trình diễn của anh trong năm đó giúp anh lọt vào danh sách rút gọn cho giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của PFA Scotland,[20][21] giải thưởng sau đó thuộc về tiền vệ Celtic Stephen Pearson.[22] Gordon giành các danh hiệu Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của SFWACầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của SPL mùa 2003–04.[23][24] Anh cũng được chọn là Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất tháng của SPL tháng 12 năm 2003.[25][26] Huấn luyện viên Craig Levein ca ngợi các màn trình diễn của Gordon, nói rằng anh có một mùa giải "xuất sắc" và dù ban đầu Levein chỉ định sử dụng anh trong một vài trận, "cậu ấy thi đấu tốt đến mức tôi không thể loại cậu ấy khỏi [đội một]".[27] Gordon ký hợp đồng mới có thời hạn ba năm với câu lạc bộ vào tháng 8 năm 2004.[28]

Trong mùa giải trọn vẹn đầu tiên với tư cách thủ môn số một, Hearts giành quyền dự UEFA Cup sau khi kết thúc ở vị trí thứ ba sau nhà vô địch CelticRangers.[29] Đội bóng vượt qua Braga với tổng tỉ số 5–3 để vào vòng bảng UEFA Cup.[30][31] Hearts cũng vào bán kết cả Cúp bóng đá Scotland (thua Motherwell sau hiệp phụ) và Cúp Liên đoàn bóng đá Scotland (thua Celtic) trong mùa giải 2004–05.[32][33]

Gordon trở thành lựa chọn thường xuyên của Scotland vào năm 2005 và những màn trình diễn ổn định của anh trong mùa giải 2005–06 giúp Hearts kết thúc ở vị trí thứ hai tại Scottish Premier League[21][34] và giành Cúp bóng đá Scotland. Danh hiệu này được quyết định bằng loạt sút luân lưu trước Gretna sau trận hòa 1–1, trong đó Gordon cản phá quả đá phạt đền của Derek Townsley.[35] Anh giữ sạch lưới trong chiến thắng 4–0 trước kình địch derby Edinburgh Hibernian ở bán kết.[36] Chủ sở hữu Hearts Vladimir Romanov đã từ chối lời tiếp cận của đội bóng Serie A Palermo dành cho Gordon trước đó trong mùa giải.[37] Mùa giải đó, anh được Scottish Football Writers' Association bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất năm, trở thành cầu thủ Hearts đầu tiên giành giải kể từ Sandy Jardine năm 1986 và cũng là thủ môn đầu tiên kể từ Rangers' Andy Goram năm 1993.[21][38]

Trong phần lớn mùa giải 2006–07, Gordon vướng vào các tin đồn rời Tynecastle, đặc biệt sau khi anh tham gia vào việc đưa ra tuyên bố chống lại chủ sở hữu câu lạc bộ Vladimir Romanov. Gordon và Paul Hartley đứng hai bên đội trưởng Steven Pressley khi Pressley đọc tuyên bố cho rằng có "sự bất ổn đáng kể" trong phòng thay đồ Hearts.[39] Địa điểm của tuyên bố này, sân tập Riccarton của Hearts, khiến truyền thông gọi các cầu thủ này là "Bộ ba Riccarton".[21][40] Rangers, Aston Villa, ArsenalManchester United đều được cho là quan tâm đến cầu thủ này vào cuối năm 2006. Huấn luyện viên Arsenal Arsène Wenger theo dõi Gordon thi đấu trong chiến thắng 1–0 của Scotland trước Pháp ở một trận Euro 2008 vòng loại.[41] Ông nhận xét Gordon có "sự hiện diện và khả năng bắt bóng tốt, và [cậu ấy] trông là một thủ môn rất giỏi đối với tôi." Gordon khẳng định giá trị ngày càng tăng của mình bằng một pha cứu thua ngoạn mục ngang khung thành trong derby Edinburgh tháng 10 năm 2006[41] và tháng sau đó được bổ nhiệm làm đội trưởng mới của Hearts, thay thế Pressley đã rời đi. Dù Hearts tuyên bố anh bị ốm, anh bị "đẩy" lên ghế dự bị trong trận gặp Dundee United vào tháng 12 năm 2006, điều mà nhiều người tin là một biện pháp kỷ luật của câu lạc bộ sau sự tham gia của anh trong tuyên bố "Bộ ba Riccarton".[42] Anh được đưa trở lại trong trận derby Edinburgh gặp Hibernian ba ngày sau đó, nhưng không có tên trong đội hình gặp Rangers vào ngày 27 tháng 1 năm 2007, bốn ngày trước khi kỳ chuyển nhượng khép lại, và câu lạc bộ xác nhận họ đang đàm phán chuyển nhượng anh.[43] Gordon vẫn là cầu thủ Hearts khi kỳ chuyển nhượng đóng cửa.

Tháng 3 năm 2007, Gordon bày tỏ mong muốn thi đấu cho Arsenal, sau khi có các báo cáo cho rằng anh là ứng viên kế nhiệm thủ môn kỳ cựu Jens Lehmann trong vai trò thủ môn số một của Arsenal, nói rằng "Arsenal là một trong những đội bóng hàng đầu ở Anh, châu Âu, nếu không muốn nói là thế giới, vì vậy đó chắc chắn là điều khiến bất kỳ cầu thủ nào cũng quan tâm".[44] Việc Hearts không giành quyền dự cúp châu Âu cuối mùa càng làm tăng đồn đoán rằng Gordon sẽ bị bán, với Sunderland và Aston Villa được đồn là những đội quan tâm vào tháng 7 năm 2007.[45] Lần ra sân của anh trong thất bại giao hữu 3–1 của Hearts trước Barcelona vào ngày 28 tháng 7[46] trở thành lần cuối cùng anh khoác áo câu lạc bộ trong 13 năm.

Ngày 8 tháng 11 năm 2007, Gordon được ghi danh vào Đại sảnh Danh vọng Hearts. Khi đó mới 24 tuổi, anh là cầu thủ trẻ nhất từng nhận vinh dự này.[21]

Sunderland

Tập tin:Fulham vs Sunderland.jpg
Gordon (áo xanh) thi đấu cho Sunderland năm 2008

Tháng 8 năm 2007, Gordon đồng ý hợp đồng năm năm với Sunderland.[47] Mức phí 9 triệu bảng là khoản phí cao nhất mà một câu lạc bộ Anh từng trả cho một thủ môn,[48] cho đến khi Manchester United trả khoảng 17 triệu bảng cho David de Gea vào năm 2011.[49] Gordon có trận ra mắt Sunderland trong trận mở màn Premier League 2007–08 trước Tottenham Hotspur, giữ sạch lưới khi đội của anh thắng 1–0. Trong trận đấu này, thủ môn đối phương là Paul Robinson, thủ môn số một của Anh. Đây là lần đầu tiên thủ môn số một của Scotland và thủ môn số một của Anh đối đầu nhau trong một trận đấu cấp câu lạc bộ kể từ năm 2001, khi David Seaman của Arsenal đối đầu Neil Sullivan của Tottenham.

Sau thất bại 7–1 của Sunderland trước Everton vào tháng 12, huấn luyện viên Sunderland Roy Keane đẩy Gordon lên ghế dự bị và thủ môn người Wales Darren Ward thay thế anh. Gordon giành lại vị trí thủ môn số một ba trận sau đó.[50]

Giữa mùa giải 2008–09, Gordon phải nghỉ thi đấu vài tháng vì chấn thương đầu gối và trở thành phương án dự bị cho Márton Fülöp. Anh giành lại vị trí trong đội hình xuất phát vào đầu mùa giải 2009–10. Ngày 7 tháng 11 trên sân Tottenham Hotspur, anh bị gãy tay sau va chạm với Jermain Defoe và phải nghỉ gần ba tháng.[51] Anh trở lại vào ngày 23 tháng 1 trong trận gặp Portsmouth.[52]

Trong mùa hè năm 2010, Gordon phẫu thuật cánh tay gãy để tháo nẹp kim loại. Anh trở lại tập luyện vài ngày sau đó, nhưng lại bị gãy tay trong một buổi tập. Có xác nhận rằng anh sẽ bỏ lỡ giai đoạn đầu chiến dịch Premier League 2010–11, với thủ môn mới của Sunderland Simon Mignolet thay thế. Khi Gordon trở lại sau chấn thương, Mignolet vẫn là thủ môn số một. Ngày 9 tháng 11 năm 2010, Gordon có lần ra sân đầu tiên trong mùa giải trên sân Tottenham Hotspur. Trận đấu kết thúc với tỉ số hòa 1–1. Gordon cũng tỏa sáng trong chiến thắng 3–0 của Sunderland trước Chelsea. Ngày 18 tháng 12 năm 2010, Gordon có một pha cứu thua phản xạ ngoạn mục để từ chối Zat Knight trong chiến thắng 1–0 trước Bolton Wanderers.[53] Năm 2012, pha cứu thua này được bầu là pha cứu thua hay nhất trong lịch sử 20 năm của Premier League.[53]

Chấn thương lại tái phát khi anh gặp vấn đề ở gân đầu gối, khiến anh bị Mignolet thay thế.[cần dẫn nguồn] Vấn đề gân đầu gối khiến anh chỉ có thể làm thủ môn dự bị dù chưa hoàn toàn bình phục. Ngày 19 tháng 4 năm 2011, có thông tin rằng Gordon đã phẫu thuật đầu gối để sửa chữa gân đầu gối và chấn thương dây chằng chéo trước mà anh gặp phải.[54] Việc chiêu mộ thủ môn Coventry City Keiren Westwood càng làm dấy lên nghi ngờ về tương lai của cầu thủ Scotland. Gordon được liên hệ với Arsenal và Celtic cùng một số câu lạc bộ khác vào tháng 8 năm 2011.[55] Gordon từ chối chuyển đến một câu lạc bộ khác theo dạng cho mượn để tiếp tục quá trình hồi phục tại Wearside.[56] Anh trở lại vào ngày 4 tháng 1 năm 2012 cho đội dự bị Sunderland, giữ sạch lưới trong chiến thắng 2–0 trước đội dự bị Arsenal. Anh trở lại đội một vào ngày 28 tháng 4 trước Bolton Wanderers, nhưng là một trong chín cầu thủ bị Sunderland giải phóng vào ngày 19 tháng 5 năm 2012.[57]

Cầu thủ tự do và công việc huấn luyện

Gordon được liên hệ chuyển đến Celtic vào năm 2011[58][59] và 2012,[60][61][62] nhưng anh không ký hợp đồng với câu lạc bộ nào trong hai năm vì tiếp tục gặp vấn đề với chấn thương đầu gối.[63] Anh thường xuyên làm việc truyền hình trong thời gian không thi đấu.[64] Sau khi gặp Ian Murray trong lúc làm truyền hình, Gordon làm công việc huấn luyện cho Dumbarton theo dạng không thường xuyên.[63] Gordon sau đó thừa nhận rất khó có khả năng anh thi đấu trong mùa 2012–13 và đang cân nhắc trở thành huấn luyện viên.[63] Gordon tập luyện với Rangers trong mùa giải 2013–14,[65][66] nhưng không được đề nghị hợp đồng.[67] Tháng 3 năm 2014, Gordon cho biết anh đã hoàn toàn bình phục chấn thương và muốn trở lại sự nghiệp thi đấu.[66] Tháng 6, Celtic xác nhận Gordon đã tập luyện cùng họ và hai bên đang đàm phán ký hợp đồng.[68]

Celtic

2014–15

Tập tin:FC Salzburg vs. Celtic FC (4. Oktober 2918 Gruppe B, 11. Spieltag).jpg
Gordon thi đấu cho Celtic năm 2018

Tháng 7 năm 2014, Gordon ký hợp đồng với Celtic.[69] Anh có lần ra sân đầu tiên cho Celtic vào ngày 19 tháng 7, thi đấu trong hiệp một của trận giao hữu tiền mùa giải gặp Dynamo Dresden.[70][71] Gordon có nhiều pha cứu thua trong 45 phút góp mặt và nói sau trận: "Thật tốt khi được trở lại thi đấu. Từ góc độ cá nhân, tôi đã nghỉ rất lâu. Vì vậy, thật tốt khi được ra sân, thi đấu 45 phút và giữ sạch lưới trong hiệp một. Tôi phải hài lòng với điều đó."[71] Fraser Forster chuyển đến Southampton với mức phí chuyển nhượng được cho là 10 triệu bảng vào tháng 8,[72] mở đường để Gordon trở thành thủ môn số một. Gordon có lần ra sân chính thức đầu tiên sau hơn hai năm vào ngày 13 tháng 8 năm 2014,[73] trong chiến thắng 3–0 trước St Johnstone.[74]

Sau chỉ ba trận cho Celtic, khởi đầu ấn tượng của Gordon trong mùa giải giúp anh được triệu tập trở lại đội tuyển quốc gia Scotland vào tháng 8 năm 2014.[75] Phong độ tốt của anh cho Celtic tiếp tục cả ở trong nước lẫn đặc biệt tại châu Âu,[75][76] với những màn trình diễn mạnh mẽ trước Salzburg,[77][78] Dinamo Zagreb[79][80]Astra Giurgiu,[81][82] giúp Celtic vào vòng đấu loại trực tiếp UEFA Europa League 2014–15.[83] Các màn trình diễn của anh nhận được lời khen từ đồng đội, ban huấn luyện câu lạc bộ, huấn luyện viên đội tuyển quốc gia, cổ động viên và giới quan sát. Nhiều người tin rằng anh cuối cùng đã vượt qua các vấn đề chấn thương dài hạn và trở lại phong độ cao nhất. Anh đã được xem là một trong những món hời lớn nhất của Celtic.[84] Gordon cũng hai lần giữ sạch lưới trước đội bóng cũ Hearts trong các trận cúp.[85][86]

Gordon giữ sạch lưới tám trận liên tiếp từ tháng 12 đến tháng 2,[87] và chuỗi này suýt kéo dài thành chín trận cho đến khi bàn thắng ở phút 72 của St Johnstone chấm dứt chuỗi đó vào ngày 14 tháng 2 năm 2015.[88] Một pha cứu thua kép xuất sắc cuối trận giúp Celtic thắng 2–1.[89] Gordon trải qua một đêm khó khăn tại Europa League trước Inter Milan vào ngày 19 tháng 2 năm 2015, khi có lỗi trong bàn mở tỉ số của Inter và mắc lỗi trong bàn thứ ba trước giờ nghỉ; Celtic vùng lên gỡ hòa 3–3 bằng bàn thắng ở thời gian bù giờ, và Gordon phần nào sửa sai bằng một pha cứu thua xuất sắc từ quả đá phạt của Xherdan Shaqiri trong tình huống cuối cùng của trận đấu.[90] Ở lượt về tại San Siro, Gordon giúp Celtic chỉ còn 10 người tiếp tục nuôi hy vọng bằng nhiều pha cứu thua xuất sắc cho đến phút 87, khi Fredy Guarín ghi bàn bằng một cú sút mạnh giúp Inter thắng 1–0 trong trận đấu và 4–3 sau hai lượt.[91] Một trong những pha cứu thua của Gordon trên sân Inter được so sánh với pha cứu thua của Gordon Banks trước Pelé năm 1970.[92]

Gordon giành danh hiệu đầu tiên cùng Celtic sau khi đội đánh bại Dundee United 2–0 trong chung kết Cúp Liên đoàn bóng đá Scotland vào ngày 15 tháng 3 năm 2015.[93] Anh giữ sạch lưới ở mọi vòng của giải đấu,[94] bao gồm cả trận Old Firm đầu tiên trong ba năm.[95] Theo The Scotsman vào tháng 3 năm 2015, Gordon thu hút sự chú ý của Chelsea.[96][97] Anh có lần ra sân thứ 50 cho Celtic trong chiến thắng 2–1 tại giải vô địch quốc gia trên sân Dundee vào ngày 22 tháng 4 năm 2015.[87] Một ngày sau khi giữ sạch lưới trước Dundee trong chiến thắng 5–0 trên sân nhà,[98] Celtic trở thành nhà vô địch giải vô địch quốc gia sau khi Aberdeen thua Dundee United vào ngày 2 tháng 5 năm 2015.[99] Đây là chức vô địch quốc gia đầu tiên trong sự nghiệp cầu thủ của anh. Gordon ra sân 52 lần và giữ sạch lưới 28 trận trong mùa đầu tiên tại Celtic.[87][94]

Gordon được Scottish Football Writers' Association bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất năm và được chọn vào Đội hình tiêu biểu Scottish Premiership của PFA Scotland.[94][100][101][102] Anh không có tên trong danh sách rút gọn giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFA Scotland, dù từng được xem là một trong những ứng viên hàng đầu.[103][104][105][106]

2015–16

mùa giải 2015–16, Gordon được trao áo số 1, thay cho số 26 mà anh mặc khi mới ký hợp đồng.[107] Tháng 7 năm 2015, Gordon ký hợp đồng mới với Celtic đến năm 2018.[108][109] Trận đầu tiên của anh trong mùa 2015–16 là chiến thắng 2–0 trên sân nhà trước Stjarnan ở lượt đi vòng loại thứ hai UEFA Champions League 2015–16 vào ngày 15 tháng 7 năm 2015.[110] Celtic đi tiếp với tổng tỉ số 6–1.[111] Chiến thắng 1–0 trước Qarabağ ở lượt đi vòng loại thứ ba trên sân nhà là trận giữ sạch lưới thứ 30 của anh trong 55 lần ra sân cho Celtic.[112] Celtic đi tiếp với tổng tỉ số 1–0.[113] Gordon cũng khởi đầu chiến dịch giải vô địch quốc gia bằng những trận giữ sạch lưới liên tiếp trước Ross CountyPartick Thistle.[114] Tuy nhiên, phong độ của Gordon thời điểm này nhìn chung kém hơn mùa trước, một phần do Celtic gặp khó khăn trong việc tìm ra hàng phòng ngự ổn định sau sự ra đi của các trung vệ Virgil van DijkJason Denayer.[115][116]

2016–17

Gordon cản phá một quả phạt đền trong thất bại 2–0 ở lượt về trước Hapoel Be'er Sheva tại vòng play-off UEFA Champions League, giúp Celtic vào vòng bảng sau ba năm vắng mặt với tổng tỉ số 5–4.[117] Anh có lần đầu tiên ra sân tại vòng bảng UEFA Champions League 2016–17 trong trận hòa 3–3 trên sân nhà với Manchester City vào ngày 28 tháng 9 năm 2016.[118][119]

Gordon giành Cúp Liên đoàn thứ hai cùng câu lạc bộ mà không để thủng lưới bàn nào trong giải đấu (giống như mùa 2014–15), sau khi Celtic đánh bại Aberdeen 3–0 trong trận chung kết, qua đó câu lạc bộ giành danh hiệu lớn thứ 100 vào ngày 28 tháng 11 năm 2016.[120] Anh giữ sạch lưới trong chiến thắng 1–0 trên sân nhà trước St Johnstone vào ngày 25 tháng 1 năm 2017, kết quả giúp Celtic cân bằng kỷ lục câu lạc bộ 50 năm về khởi đầu bất bại 26 trận trong một mùa quốc nội (kỷ lục do Lisbon Lions lập ở mùa 1966–67).[121][122] Gordon giữ sạch lưới trước câu lạc bộ cũ Hearts bốn ngày sau đó trong chiến thắng 4–0 trên sân nhà, khi Celtic phá kỷ lục bất bại của Lisbon Lions.[123][124]

Câu lạc bộ Premier League Chelsea tiếp cận Gordon trong kỳ chuyển nhượng tháng 1 năm 2017,[125] nhưng Celtic từ chối. Tháng 3 năm 2017, Gordon ký hợp đồng với Celtic có thời hạn đến năm 2020.[126] Gordon một lần nữa giữ sạch lưới trước Hearts trong chiến thắng 5–0 tại Tynecastle vào ngày 2 tháng 4 năm 2017, khi câu lạc bộ giành chức vô địch Scottish Premiership 2016–17 lần thứ sáu liên tiếp trong thời gian kỷ lục với tám trận còn lại. Đội bóng cũng phá kỷ lục 100 năm của câu lạc bộ về khởi đầu bất bại trong một mùa quốc nội (36 trận liên tiếp ở mùa 1916–17), với chiến thắng này là trận quốc nội bất bại thứ 37 của họ.[127]

Gordon cũng bắt chính cho Celtic trong chiến thắng 5–1 tại giải vô địch quốc gia trên sân Rangers vào ngày 29 tháng 4 năm 2017, chiến thắng lớn nhất của câu lạc bộ tại Ibrox kể từ năm 1897 (4–0 năm 1897).[128] Ngày 21 tháng 5 năm 2017, anh giữ sạch lưới trong chiến thắng 2–0 trên sân nhà trước Hearts ở trận cuối cùng của mùa giải, kết quả giúp Celtic hoàn tất mùa giải 38 trận mà không thua trận nào, là đội đầu tiên trải qua cả một mùa giải vô địch quốc gia Scotland bất bại kể từ mùa 1898–99.[129] Anh cũng giành Cúp bóng đá Scotland 2016–17, sau khi thi đấu trong chiến thắng 2–1 ở trận chung kết trước Aberdeen vào ngày 27 tháng 5 năm 2017, giúp câu lạc bộ hoàn tất cú ăn ba quốc nội và kết thúc một mùa giải quốc nội trọn vẹn 47 trận mà không thua.[130][131]

Celtic đứng đầu danh sách giữ sạch lưới nhiều nhất tại SPFL với 19 trận và có thành tích tốt nhất ngang bằng Hibernian về số bàn thua tại SPFL với 25 bàn.[132][133][131]

Những năm sau

Celtic tiếp tục giành các cú ăn ba quốc nội trong 2017–182018–19. Điều này đồng nghĩa họ đã giành cả ba giải đấu trong ba năm liên tiếp, một thành tích được gọi là "treble treble".[134][135] Gordon thi đấu thường xuyên trong giai đoạn đó nhưng đôi lúc mắc các sai lầm đáng chú ý, chẳng hạn tại UEFA Europa League trước Fenerbahçe năm 2015[136]Red Bull Salzburg năm 2018,[137] làm dấy lên nghi ngờ về độ tin cậy của anh; anh mất vị trí vào tay Fraser Forster (trở lại từ Southampton theo dạng cho mượn) ở mùa 2019–20 và chỉ có sáu lần ra sân cho đội một trong mùa giải đó.[138] Anh quyết định rời Celtic vào tháng 6 năm 2020, dù được đề nghị hợp đồng mới, vì muốn thi đấu thường xuyên hơn.[138]

Trở lại Heart of Midlothian

Sau khi rời Celtic, Gordon ký hợp đồng hai năm với Heart of Midlothian vào tháng 6 năm 2020.[139] Anh khởi đầu tốt trong giai đoạn thứ hai tại Hearts, giúp đội vào Chung kết Cúp bóng đá Scotland 2020 bằng những pha cứu thua quan trọng trong trận bán kết với Hibs (bị hoãn từ mùa giải trước).[140] Trước Ayr United, Gordon đeo băng đội trưởng trong lần ra sân thứ 200 cho câu lạc bộ. Anh trở thành cầu thủ Hearts thứ 75 đạt cột mốc này.[141] Chiến thắng 3–0 đánh dấu trận giữ sạch lưới thứ 66 của anh cho Hearts.[142] Anh kết thúc mùa giải với tám trận giữ sạch lưới liên tiếp.[143] Gordon thua đồng đội Liam Boyce trong cuộc đua giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm Championship,[144][145] nhưng vẫn được chọn vào Đội hình tiêu biểu năm của hạng đấu.[146]

Trước mùa giải 2021–22, Gordon trở thành đội trưởng câu lạc bộ Hearts sau khi đội trưởng trước đó Steven Naismith giải nghệ.[147] Anh ký hợp đồng mới vào tháng 12 năm 2021, giữ anh ở lại câu lạc bộ đến năm 2024.[148] Tháng 11 năm 2021, anh phá kỷ lục do Steven Pressley nắm giữ về số lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất khi còn là cầu thủ Hearts.[149] Gordon lần đầu lọt vào danh sách rút gọn giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFA Scotland mùa 2021–22 và một lần nữa được chọn vào Đội hình tiêu biểu năm của hạng đấu.[150][151] Dù không giành giải PFA (thuộc về Callum McGregor),[152] SFWA bầu anh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm lần thứ ba kỷ lục.[153]

Ngày 24 tháng 12 năm 2022, Gordon dính chấn thương chân nghiêm trọng sau va chạm với Steven Fletcher trong một trận Scottish Premiership gặp Dundee United.[154] Hearts xác nhận hai ngày sau rằng Gordon bị gãy đôi chân và sẽ bỏ lỡ phần còn lại của mùa giải 2022–23.[155]

Gordon trở lại tập luyện với đội một Hearts vào tháng 10 năm 2023,[156] và có lần ra sân đầu tiên kể từ chấn thương vào ngày 20 tháng 1 năm 2024 trước Spartans tại Cúp bóng đá Scotland 2023–24.[157] Lần ra sân này giúp anh trở thành cầu thủ nam lớn tuổi nhất thi đấu trong một trận chính thức cho Hearts.[158] Một tháng sau, anh ký hợp đồng mới với Hearts, giữ anh ở lại câu lạc bộ trong mùa giải 2024–25.[159]

Anh thi đấu thường xuyên cho Hearts trong mùa giải 2024–25, lập kỷ lục mới về số lần ra sân cho câu lạc bộ ở đấu trường châu Âu.[160] Sau khi mùa giải kết thúc và sau khi Derek McInnes được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng Hearts, Gordon ký thêm hợp đồng một năm với câu lạc bộ.[160] Gordon nói rằng anh "quyết tâm" để mùa 2025–26 tốt hơn mùa 2024–25, khi Hearts kết thúc ở nửa dưới Premiership và thay huấn luyện viên hai lần.[160] Sau khi phải làm dự bị cho Alexander Schwolow trong suốt mùa giải 2025–26, Gordon có lần ra sân đầu tiên vào ngày 11 tháng 1 năm 2026 trước Dundee, sau khi Schwolow bị truất quyền thi đấu ngay trước giờ nghỉ vì một lỗi chuyên môn. Gordon vào sân từ ghế dự bị thay Cláudio Braga và có một pha cứu thua ngoạn mục ở phút cuối để bảo toàn lợi thế cho Hearts, giúp đội thắng 1–0.[161]

Sự nghiệp quốc tế

Đội U-21 Scotland

Gordon có trận ra mắt U-21 Scotland vào ngày 4 tháng 9 năm 2002 tại New Douglas Park, Hamilton trong chiến thắng 2–1 trước U-21 Israel.[162] Trong năm tiếp theo, anh thi đấu thêm bốn trận cho đội U-21.[163]

Đội tuyển quốc gia, 2004–2010

Gordon có trận ra mắt Scotland trong chiến thắng 4–1 trước Trinidad và Tobago tại Easter Road vào ngày 30 tháng 5 năm 2004.[164] Scotland bắt đầu chiến dịch vòng loại World Cup 2006 vào ngày 8 tháng 9 năm 2004 trước Slovenia tại Hampden Park. Gordon bắt chính và giữ sạch lưới, dù Scotland thi đấu kém trong trận hòa không bàn thắng.[165] Sau khi được Berti Vogts trao cơ hội ra mắt, Gordon trở thành thủ môn số một của Scotland trong suốt chiến dịch và dưới thời người kế nhiệm Vogts là Walter Smith, thi đấu cả mười trận vòng loại của Scotland.[166]

Bình luận viên BBC kiêm cựu cầu thủ Allan Preston xem anh là một tài năng có thể trở thành huyền thoại Scotland, mô tả anh là "một trong những thủ môn xuất sắc nhất châu Âu".[167] Sau trận hòa 1–1 trước Ý, Gordon nhận được lời khen từ thủ môn đối phương Gianluigi Buffon, người nói rằng anh có thể trở thành một trong những thủ môn hay nhất thế giới.[168] Gordon giữ sạch lưới khi Scotland hai lần thắng Pháp 1–0 tại Vòng loại UEFA Euro 2008.[169][170] Anh cũng có một pha kiến tạo tại Parc des Princes, sau khi James McFadden khống chế cú phát bóng dài của Gordon, xoay người vượt qua người kèm và sút tung lưới từ cự ly 35 yard.[171][172] Gordon đạt tổng cộng 40 lần khoác áo đội tuyển vào tháng 11 năm 2010 nhưng các vấn đề chấn thương khiến anh không thể nâng thành tích này trong bốn năm tiếp theo.[63][173]

Trở lại, 2014–2017

Sau khi trở lại cùng Celtic, Gordon được triệu tập trở lại đội hình Scotland vào tháng 9 năm 2014 cho trận vòng loại Euro 2016 gặp Đức.[75] Gordon cuối cùng có lần khoác áo thứ 41, kết thúc bốn năm vắng mặt ở bóng đá quốc tế, khi vào sân thay người trong hiệp hai ở thất bại giao hữu trước Anh vào ngày 18 tháng 11 năm 2014.[173] Gordon đá chính trận đầu tiên cho Scotland sau gần năm năm trong chiến thắng giao hữu trước Bắc Ireland vào tháng 3 năm 2015.[174][175]

Gordon có lần đầu đá chính cho Scotland trong một trận chính thức sau bảy năm ở trận vòng loại World Cup 2018 trước Anh vào tháng 11 năm 2016,[176] và giữ vị trí trong đội ở chiến thắng 1–0 trên sân nhà trước Slovenia vào tháng 3 năm 2017.[177] Ngày 5 tháng 10 năm 2017, Gordon có lần khoác áo thứ 50 trước Slovakia tại Hampden Park để gia nhập Danh sách danh dự của Scotland.[178] Willie Miller trao huy chương cho anh sau khi anh giành lần khoác áo thứ 50.[179]

Steve Clarke, 2020–nay

Gordon không được huấn luyện viên Scotland Steve Clarke lựa chọn trong năm đầu tiên Clarke dẫn dắt, do anh mất vị trí đội một tại Celtic.[140] Sau khởi đầu tốt trong lần thứ hai khoác áo Hearts, Gordon được gọi trở lại đội tuyển quốc gia vào tháng 11 năm 2020.[140][180][181] Lần triệu tập này bao gồm trận thắng Serbia trong trận chung kết play-off UEFA Nations League 2018–19 để giành quyền tham dự Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020, giải đấu lớn đầu tiên của đội tuyển nam Scotland sau 23 năm.[182][183] Anh cũng có lần khoác áo thứ 55, thất bại 1–0 trên sân Slovakia tại UEFA Nations League 2020–21, lập kỷ lục mới về sự nghiệp quốc tế kéo dài nhất đối với một cầu thủ Scotland (16 năm 5 tháng và 17 ngày).[184] Thành tích này vượt qua cột mốc do đối thủ cạnh tranh vị trí David Marshall lập chỉ ba ngày trước đó, vốn đã phá kỷ lục có từ năm 1903 của thủ môn đồng hương Ned Doig.[185][184]

Gordon được chọn vào đội hình Scotland tham dự Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020,[186][187] nhưng là cầu thủ dự bị không được sử dụng trong giải khi Marshall thi đấu cả ba trận của Scotland.[188] Gordon trở lại làm thủ môn số một vào tháng 9 năm 2021, khi Marshall không còn thi đấu cho câu lạc bộ của mình.[189] Tháng 11 năm 2021, anh cản phá một quả phạt đền trong chiến thắng 2–0 tại Moldova, qua đó bảo đảm một suất dự vòng play-off vòng loại World Cup.[190] Đồng đội Callum McGregor nói Gordon "giống như Peter Pan" sau trận đấu đó, ám chỉ sự bền bỉ trong các màn trình diễn của anh.[190]

Gordon lọt vào danh sách rút gọn giải SFWA International Player of the Year mùa 2021–22,[191] giải thưởng mà anh đã từng giành ở mùa 2009–10.[192]

Ngày 14 tháng 6 năm 2022, anh có lần khoác áo Scotland thứ 70 trong chiến thắng 4–1 tại Nations League trước Armenia, trở thành cầu thủ thứ bảy trong lịch sử đạt mốc 70 lần khoác áo đội tuyển nam Scotland.[193] Ở lần khoác áo thứ 73 trước Ukraina (0–0), Gordon giữ sạch lưới trận thứ 30, giúp Scotland thăng lên Nhóm A của UEFA Nations League.[cần dẫn nguồn] Gordon bỏ lỡ toàn bộ Vòng loại UEFA Euro 2024 do chấn thương gãy chân vào tháng 12 năm 2022, dù Scotland tự động vượt qua vòng loại khi anh vắng mặt.[156] Tháng 2 năm 2024, anh nói rằng anh muốn trở thành cầu thủ lớn tuổi nhất của Scotland, kỷ lục khi đó do David Weir nắm giữ,[159] và sau đó được triệu tập trở lại đội tuyển một tháng sau đó.[194] Gordon phá kỷ lục đó vào ngày 7 tháng 6 khi vào sân thay người trong hiệp hai của trận giao hữu với Phần Lan, nhưng bị loại khỏi danh sách cuối cùng tham dự Giải vô địch bóng đá châu Âu 2024.[195]

Anh giữ sạch lưới liên tiếp tại Nations League trong tháng 10 và tháng 11 năm 2024, khi Scotland hòa Bồ Đào Nha 0–0 và thắng Croatia 1–0.[196] Tiếp đó là chiến thắng 2–1 trước Ba Lan vào ngày 18 tháng 11 năm 2024, trận đấu giúp Gordon trở thành cầu thủ lớn tuổi thứ ba thi đấu ở một giải đấu châu Âu khi 41 tuổi 322 ngày.[197]

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, Gordon, khi 42 tuổi, có lần ra sân thứ 80 cho Scotland trước Hy Lạp tại Nations League, gia nhập Kenny Dalglish, Jim Leighton, Darren FletcherAndrew Robertson với tư cách những cầu thủ duy nhất đạt mốc 80 lần khoác áo.[198][199]

Tháng 11 năm 2025, Gordon thay thế làm thủ môn số một của Scotland trong hai trận cuối gặp Hy LạpĐan Mạch tại chiến dịch vòng loại World Cup 2026 sau chấn thương của Angus Gunn, dù Gordon chưa thi đấu trận nào cho Hearts trong mùa giải đó.[200] Ở tuổi 42, anh giúp Scotland giành quyền tham dự vòng chung kết World Cup đầu tiên kể từ năm 1998 trong chiến thắng nổi tiếng 4–2 trước Đan Mạch.[201] Anh cũng trở thành cầu thủ châu Âu lớn tuổi nhất góp mặt trong một trận vòng loại World Cup, phá kỷ lục đã tồn tại 68 năm của Stanley Matthews.[202][203]

Sau kì FIFA World Cup 2026 kết thúc, Craig Gordon chính thức giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế sau 25 năm thi đấu chuyên nghiệp.

Đời tư

Gordon có năm người con: hai con gái Freya và Emma với vợ cũ Jennifer,[204] và các con trai Ace Harlow (sinh năm 2021),[205] Axel (sinh năm 2022) và Archer (sinh năm 2026) trong mối quan hệ với bạn đời Summer Harl.[206] Axel chào đời vào buổi sáng của một trận đấu quốc tế của Scotland mà cha anh tham dự.[206]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Số trận và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia[a] Cúp liên đoàn[b] Châu Âu Tổng cộng
Hạng đấu Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Heart of Midlothian 2001–02 Scottish Premier League 0 0 0 0 0 0 0 0
2002–03 1 0 1 0 0 0 2 0
2003–04 29 0 2 0 2 0 2[c] 0 35 0
2004–05 38 0 6 0 3 0 6[c] 0 53 0
2005–06 36 0 5 0 2 0 43 0
2006–07 34 0 1 0 1 0 6[d] 0 42 0
Tổng cộng 139 0 15 0 8 0 14 0 175 0
Cowdenbeath (mượn) 2001–02 Scottish Second Division 12 0 0 0 1 0 13 0
Sunderland 2007–08 Premier League 34 0 1 0 0 0 35 0
2008–09 12 0 1 0 1 0 14 0
2009–10 26 0 1 0 3 0 30 0
2010–11 15 0 0 0 0 0 15 0
2011–12 1 0 0 0 0 0 1 0
Tổng cộng 88 0 3 0 4 0 0 0 95 0
Celtic 2014–15 Scottish Premiership 33 0 5 0 4 0 10[e] 0 52 0
2015–16 35 0 2 0 3 0 12[f] 0 52 0
2016–17 35 0 5 0 4 0 11[g] 0 55 0
2017–18 26 0 3 0 4 0 12[g] 0 45 0
2018–19 18 0 0 0 0 0 14[h] 0 32 0
2019–20 0 0 0 0 2 0 4[i] 0 6 0
Tổng cộng 147 0 15 0 17 0 63 0 242 0
Heart of Midlothian 2020–21 Scottish Championship 26 0 2[j] 0 3 0 31 0
2021–22 36 0 5 0 5 0 46 0
2022–23 16 0 0 0 1 0 8[k] 0 25 0
2023–24 3 0 4 0 0 0 0 0 7 0
2024–25 33 0 4 0 1 0 8[l] 0 46 0
2025–26 3 0 0 0 0 0 0 0 3 0
Tổng cộng 117 0 15 0 10 0 16 0 158 0
Tổng cộng sự nghiệp 502 0 48 0 40 0 92 0 682 0
  1. ^ Bao gồm Scottish Cup, FA Cup
  2. ^ Bao gồm Scottish League Cup, Football League Cup
  3. ^ a b Số lần ra sân tại UEFA Cup
  4. ^ Bốn lần ra sân tại UEFA Champions League, hai lần ra sân tại UEFA Cup
  5. ^ Hai lần ra sân tại UEFA Champions League, tám lần ra sân tại UEFA Europa League
  6. ^ Sáu lần ra sân tại UEFA Champions League, sáu lần ra sân tại UEFA Europa League
  7. ^ a b Số lần ra sân tại UEFA Champions League
  8. ^ Sáu lần ra sân tại UEFA Champions League, tám lần ra sân tại UEFA Europa League
  9. ^ Một lần ra sân tại UEFA Champions League, hai lần ra sân tại UEFA Europa League
  10. ^ Ra sân ở giai đoạn sau của Cúp bóng đá Scotland 2019–20 diễn ra vào tháng 10 và tháng 12 năm 2020.
  11. ^ Hai lần ra sân tại UEFA Europa League, sáu lần ra sân tại UEFA Europa Conference League
  12. ^ Hai lần ra sân tại UEFA Europa League, bốn lần ra sân tại UEFA Conference League

Quốc tế

Số trận và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm[207]
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn
Scotland 2004 5 0
2005 9 0
2006 5 0
2007 10 0
2008 6 0
2009 3 0
2010 2 0
2014 1 0
2015 2 0
2016 2 0
2017 7 0
2018 2 0
2020 1 0
2021 9 0
2022 10 0
2024 5 0
2025 4 0
2026 1 0
Tổng cộng 84 0

Danh hiệu

Học viện Hearts

Heart of Midlothian

Celtic

Cá nhân

Tham khảo

  1. ^ "Craig Gordon". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Paris. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2024.
  2. ^ a b c "Craig Gordon". Barry Hugman's Footballers.
  3. ^ "Craig Gordon: Overview". Premier League. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2020.
  4. ^ "Where are the Hearts Scottish cup-winning team of 2006 now?". Edinburgh Evening News. ngày 13 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017.
  5. ^ a b Marshall, Alan (ngày 11 tháng 2 năm 2013). "Scotland ace Craig Gordon admits his sights are set on management after career-threatening knee injury". Daily Record. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2013.
  6. ^ "Craig Gordon signs for Celtic". Celtic. ngày 3 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017.
  7. ^ Haggerty, Anthony (ngày 20 tháng 11 năm 2014). "Craig Gordon: Having family see my Scotland comeback against England tops everything I've done in football". Daily Record. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2017.
  8. ^ Scotland players' old schools send good luck messages, Henry Hepburn, TES (magazine), 11 tháng 6 năm 2021
  9. ^ Grahame, Ewing (ngày 16 tháng 11 năm 2007). "Craig Gordon: Dad inspired me". The Daily Telegraph. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014.
  10. ^ a b "Famous Faces – Youth Cup Final". SFA. ngày 19 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2019.
  11. ^ a b "JOHN MCGLYNN Pro Licensed Manager, Coach & Scout". Sports Career Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2019.
  12. ^ "2000/01 U18 SPL: Hearts 3-1 Aberdeen". AFC Heritage. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2019.
  13. ^ "Craig Gordon career playing details". Cowdenbeath-Mad. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014.
  14. ^ Young, David (ngày 11 tháng 11 năm 2001). "Gordon saves pals blushes; QOS 1 Cowdenbeath.3". Sunday Mail. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014.
  15. ^ a b "Hearts Hall of Fame". ngày 2 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2012.
  16. ^ "Mighty Falkirk stun Hearts". BBC Sport. ngày 13 tháng 2 năm 2003. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2019.
  17. ^ "2003–04". London Hearts Supporters Club. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016.
  18. ^ "De Vries delight for Hearts". UEFA. ngày 7 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016.
  19. ^ "Hearts sunk by Bordeaux". BBC Sport. ngày 27 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016.
  20. ^ "Parkhead players dominate player of the year shortlist". Herald Scotland. ngày 19 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2014.
  21. ^ a b c d e f "On this day in Edinburgh's history: 1982 Scottish goalkeeper Craig Gordon was born". STV News. ngày 31 tháng 12 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.
  22. ^ Buckingham, Mark. "Bhoys duo take player awards". Sky Sports. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2014.
  23. ^ a b "Rangers land their Rae of hope". The Daily Telegraph. ngày 19 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2019.
  24. ^ "#1 Craig Gordon". The Football Network. ngày 15 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2019.
  25. ^ a b "BANK OF SCOTLAND MONTHLY AWARD WINNERS". SPFL. ngày 17 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2020.
  26. ^ "SPL / SPFL Manager and Player of the Month Award 2000-01 to 2018-19". My Football Facts. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2020.
  27. ^ "Craig's praise for keeper". Hearts FC. ngày 5 tháng 7 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2015.
  28. ^ "Hearts warmed by Gordon deal". UEFA. ngày 10 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2020.
  29. ^ "Levein leaves Hearts". UEFA. ngày 29 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020.
  30. ^ "Hearts 3-1 Braga". BBC. ngày 16 tháng 9 năm 2004. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020.
  31. ^ "Braga 2-2 Hearts". ngày 30 tháng 9 năm 2004. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020.
  32. ^ "Motherwell 3-2 Hearts (AET)". BBC. ngày 1 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020.
  33. ^ "Hearts 1-2 Celtic". BBC. ngày 10 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020.
  34. ^ "Hearts 1–0 Aberdeen". BBC Sport. ngày 3 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2014.
  35. ^ a b "Hearts 1–1 Gretna (4–2 on pens)". BBC Sport. ngày 13 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2014.
  36. ^ "Hibernian 0-4 Hearts". BBC. ngày 2 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020.
  37. ^ "Number one target". The Guardian. ngày 31 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2020.
  38. ^ a b "Gordon voted player of the year". BBC Sport. ngày 16 tháng 4 năm 2006.
  39. ^ "Romanov issues player ultimatum". BBC Sport. ngày 27 tháng 10 năm 2006.
  40. ^ "Romanov brands Riccarton Three "traitors" in latest rant". Edinburgh Evening News. ngày 23 tháng 2 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2007.
  41. ^ a b "Gordon backed as best in Britain". BBC Sport. ngày 10 tháng 10 năm 2006.
  42. ^ "Craig Gordon dropped to Hearts' bench". BBC Sport. ngày 23 tháng 12 năm 2006.
  43. ^ "Hearts may sell Gordon & Hartley". BBC Sport. ngày 28 tháng 1 năm 2007.
  44. ^ Wilson, Jeremy (ngày 20 tháng 3 năm 2007). "Puzzled Reyes dismisses Madrid rumours of a return to Sevilla". The Guardian. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2007.
  45. ^ "McLeish tells Gordon to grab 'chance of a lifetime". The Scotsman. ngày 7 tháng 8 năm 2007.
  46. ^ White, Duncan (ngày 29 tháng 7 năm 2007). "Barcelona too hot for Hearts". The Daily Telegraph. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2014.
  47. ^ "Black Cats Sign Craig Gordon". Sky Sports. ngày 8 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2007.
  48. ^ "Sunderland's Craig Gordon sidelined by fractured arm". BBC Sport. ngày 16 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2014.
  49. ^ Taylor, Daniel (ngày 24 tháng 5 năm 2011). "Manchester United confirm signing of David de Gea from Atlético Madrid". The Guardian. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2014.
  50. ^ Stewart, Rob (ngày 9 tháng 5 năm 2008). "Roy Keane hails 'untouchable' Craig Gordon". The Daily Telegraph. London.
  51. ^ "Devastated Craig Gordon was close to peak form, insists Steve Bruce". The Scotsman. ngày 20 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2012.
  52. ^ "Portsmouth 2 – 1 Sunderland". BBC Sport. ngày 23 tháng 1 năm 2010.
  53. ^ a b "Sunderland's Gordon wins Best Save Award". Premier League. ngày 11 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2012.
  54. ^ "Gordon out for six months". Sky Sports. BSkyB. ngày 19 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012.
  55. ^ "Gordon attracts Celtic interest". BBC Sport. ngày 15 tháng 8 năm 2011.
  56. ^ "Craig Gordon rejected a loan move". Sports Mole. ngày 25 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2022.
  57. ^ "Craig Gordon released by Sunderland as nine players leave". BBC Sport. ngày 19 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012.
  58. ^ "Celtic give trial to goalkeeper Stipe Pletikosa and eye Craig Gordon". The Guardian. ngày 12 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2014.
  59. ^ "Sunderland keeper Craig Gordon attracts Celtic interest". BBC Sport. ngày 15 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2014.
  60. ^ "Craig Gordon open to advances from Celtic as he leaves Sunderland". STV Sport. ngày 17 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015.
  61. ^ "Craig Gordon turned down three-year deal with SPL champions Celtic". STV. ngày 3 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015.
  62. ^ "Craig Gordon turns down Celtic contract". Sports Mole. ngày 3 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015.
  63. ^ a b c d "Craig Gordon admits he 'may never play again'". The Scotsman. ngày 11 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2013.
  64. ^ "Craig Gordon looking for fresh start after conquering knee problem". The Guardian. ngày 6 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2020.
  65. ^ "Transfer news: Richard Foster hoping to see Craig Gordon at Rangers". Sky Sports. ngày 26 tháng 6 năm 2013.
  66. ^ a b "Craig Gordon eyes Scotland return after prolonged injury lay-off". BBC Sport. ngày 31 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2014.
  67. ^ "Craig Gordon, the goalie Rangers let slip away". The Herald. ngày 1 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015.
  68. ^ McLauchlin, Brian (ngày 6 tháng 6 năm 2014). "Craig Gordon: Celtic confirm signing talks with goalkeeper". BBC Sport. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014.
  69. ^ "Celtic sign Scotland goalkeeper Craig Gordon". BBC Sport. ngày 3 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2014.
  70. ^ "Former Scotland keeper Craig Gordon makes Celtic debut in 1–1 draw against Dynamo Dresden". Herald Scotland. ngày 20 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014.
  71. ^ a b McGill, John (ngày 25 tháng 7 năm 2014). "Gordon: Celtic debut helped me clear mental barrier of playing again". Evening Times. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014.
  72. ^ "England goalkeeper Fraser Forster moves from Celtic to Southampton for £10 million to boost Saints". The Daily Telegraph. ngày 10 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2014.
  73. ^ Johnson, Kristian (ngày 13 tháng 8 năm 2014). "Team News: Craig Gordon makes first competitive start in more than two years". Sports Mole. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2014.
  74. ^ "Scottish Premiership: Celtic open title defence with 3–0 win at St Johnstone". Sky Sports. BSkyB. ngày 13 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2014.
  75. ^ a b c "Gordon Strachan calls up Callum McGregor and Craig Gordon". BBC Sport. ngày 25 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014.
  76. ^ "Craig Gordon offers consolation for Celtic fans". The Scotsman. ngày 27 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2015.
  77. ^ "Manager delighted with team's commitment". Celtic FC. ngày 18 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014.
  78. ^ "Celtic boss Deila hails 'fantastic signing'". Here is the City. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014.
  79. ^ "Europa League: Celtic manager praises goalkeeper Craig Gordon after Dinamo Zagreb win". Sky Sports. BSkyB. ngày 3 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014.
  80. ^ Celtic fans react to Craig Gordon's performance on Twitter – 'Better than Forster' Lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2014 tại Wayback Machine Here is the City. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014.
  81. ^ "Celtic have Craig Gordon to thank for victory jig". BBC Sport. ngày 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014.
  82. ^ "Celtic fans react to Craig Gordon's performance against Astra Giurgiu on twitter". Here is the City. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2014.
  83. ^ "Craig Gordon hopes Celtic form can rekindle Scotland career". Celtic FC. ngày 11 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2015.
  84. ^ "Craig Gordon is 'pure class' like Henrik Larsson and Lubo Moravcik, says John Collins". Daily Express. ngày 17 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2015.
  85. ^ "Scottish League Cup: Celtic 3–0 Hearts". BBC Sport. ngày 24 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2015.
  86. ^ "Scottish Cup: Hearts 0–4 Celtic". Celtic FC. ngày 30 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2015.
  87. ^ a b c "Craig Gordon – 2014/15 stats". Soccerbase. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
  88. ^ "St Johnstone 1-2 Celtic". BBC Sport. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2021.
  89. ^ McCarthy, David (ngày 14 tháng 2 năm 2015). "St Johnstone 1 Celtic 2: Ronny Deila's men survive late fight back to win their eighth game on the spin". Daily Record. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2015.
  90. ^ McCarthy, David (ngày 20 tháng 2 năm 2015). "Celtic 3 Inter Milan 3: John Guidetti puts seal on stunning night of intense drama at Parkhead". Daily Record. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015.
  91. ^ "Inter Milan 1–0 Celtic: Player ratings from the Europa League clash". STV Sport. ngày 26 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015.
  92. ^ "Craig Gordon's greatest saves: Celtic and Scotland star proves he is back to his best". Daily Record. ngày 27 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015.
  93. ^ a b "Dundee Utd 0–2 Celtic". BBC Sport. ngày 14 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015.
  94. ^ a b c d Halliday, Stephen (ngày 20 tháng 5 năm 2015). "Craig Gordon named writers' Player of the Year". The Scotsman. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
  95. ^ "Celtic 2–0 Rangers". BBC Sport. ngày 1 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
  96. ^ "Chelsea eye shock swoop for Craig Gordon". The Scotsman. ngày 3 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
  97. ^ "Craig Gordon flattered by rumoured Chelsea interest". The Scotsman. ngày 14 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
  98. ^ "Celtic 5–0 Dundee". BBC Sport. ngày 1 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015.
  99. ^ "Dundee United 1–0 Aberdeen". BBC Sport. ngày 2 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015.
  100. ^ "Celtic's Craig Gordon wins writers' player of the year award". BBC Sport. ngày 20 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
  101. ^ a b "PFA Scotland Team of the Year sees Rangers' season voted unworthy of mention". Herald Scotland. ngày 1 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015.
  102. ^ Kyle, Gregor (ngày 1 tháng 5 năm 2015). "The SPFL dream team: PFA Scotland announce their teams of the year". Daily Record. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015.
  103. ^ "Most read Chris Sutton: Craig Gordon's been so good for Celtic this season no one's noticed Fraser Forster's away". Daily Record. ngày 28 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
  104. ^ "Who is YOUR Scottish Premiership Player of the Year? The runners and riders ahead of big vote". Daily Record. ngày 20 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015.
  105. ^ "Craig Gordon in Player of the Year SNUB". Daily Record. ngày 23 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015.
  106. ^ "Craig Gordon gets my vote for player of the year". Evening Times. ngày 25 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2015.
  107. ^ "Craig Gordon is Celtic's No.1". Celtic FC. ngày 13 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
  108. ^ "Goalkeeper Craig Gordon extends Celtic deal to 2018". BBC Sport. ngày 29 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2015.
  109. ^ "Craig Gordon Extends Celtic Contract". Celtic FC. ngày 29 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2015.
  110. ^ "Trận thi đấu của Craig Gordon trong 2015/2016". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015.
  111. ^ "Stjarnan 1–4 Celtic". BBC Sport. ngày 22 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2015.
  112. ^ "Ronny Deila hails Celtic star Craig Gordon as the best keeper he has ever seen". Daily Record. ngày 31 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2015.
  113. ^ "Qarabag 0–0 Celtic". BBC Sport. ngày 5 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2015.
  114. ^ "Games Involving Gordon, Craig Anthony In Season 2015/2016". Fitbastats. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2015.
  115. ^ ""Gordon needs Deila's help" Bonner". CQN Magazine. ngày 20 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2015.
  116. ^ Lamont, Alasdair (ngày 22 tháng 10 năm 2015). "Molde 3 – 1 Celtic". BBC Sport. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2015.
  117. ^ Swan, Craig (ngày 23 tháng 8 năm 2016). "Hapoel Beer Sheva 2–0 Celtic (4–5 on agg): Scottish champions back in Champions League group stages". Daily Mirror. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2017.
  118. ^ "Celtic's Craig Gordon: I loved my Champions League debut – now I hope to keep my first-team jersey". Herald. ngày 29 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2017.
  119. ^ "Craig Gordon: Champions League debut was loudest game I've played in". STV. ngày 28 tháng 9 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2017.
  120. ^ "Aberdeen 0–3 Celtic: Brendan Rodgers' side win the Scottish League Cup". Sky Sports. ngày 28 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2017.
  121. ^ "Celtic 1–0 St Johnstone". BBC Sport. ngày 25 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2017.
  122. ^ "Celtic 1–0 St Johnstone: Rodgers hails players after Lisbon Lions record equalled". BBC Sport. ngày 25 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2017.
  123. ^ "Celtic 4 Hearts 0 as Hoops break 50-year record with Parkhead romp". Daily Record. ngày 29 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2017.
  124. ^ "Brendan Rodgers hails Celtic's "incredible run" as Bhoys break record with 4–0 win over Hearts". Mirror. ngày 29 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2017.
  125. ^ McLaughlin, Chris (ngày 26 tháng 1 năm 2017). "Craig Gordon: Celtic tell Chelsea that goalkeeper is not for sale". BBC Sport. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2017.
  126. ^ "Craig Gordon: Celtic goalkeeper commits to club until 2020". BBC Sport. ngày 8 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2017.
  127. ^ "Heart of Midlothian 0–5 Celtic". BBC Sport. ngày 2 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2017.
  128. ^ "Rangers 1–5 Celtic". BBC Sport. ngày 29 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2017.
  129. ^ "Celtic become The Invincibles and here's the records they have shattered during a stunning season". Daily Record. ngày 21 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2017.
  130. ^ "Celtic 2–1 Aberdeen". BBC Sport. ngày 27 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2017.
  131. ^ a b "Season 2016/17 in numbers". SPFL. ngày 29 tháng 5 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2017.
  132. ^ "Scottish Premiership 2016-17 Overview". Sportsmole. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2019.
  133. ^ "SPFL SHUT-OUTS 2016/17". SPFL. ngày 27 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2019.
  134. ^ Forsyth, Roddy (ngày 26 tháng 5 năm 2019). "Celtic's 'treble treble' success opens up comparisons debate". The Daily Telegraph. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2019.
  135. ^ Sked, Joel (ngày 28 tháng 5 năm 2019). "The incredible stats behind Celtic's unprecedented treble treble". The Scotsman. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2019.
  136. ^ Celtic bow out of Europa League with battling draw at 10-man Fenerbahce, The Guardian, 10 tháng 12 năm 2015
  137. ^ Celtic survive Craig Gordon's calamity to advance in Europa League, The Guardian, 13 tháng 12 năm 2018
  138. ^ a b "Craig Gordon: Goalkeeper leaves Celtic amid Hearts interest". BBC Sport. BBC. ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2020.
  139. ^ "Craig Gordon: Hearts sign Scotland goalkeeper after Celtic exit". BBC Sport. BBC. ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2020.
  140. ^ a b c "Craig Gordon: Hearts goalkeeper to make Scotland return for Serbia play-off". BBC Sport. BBC. ngày 3 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2020.
  141. ^ "CRAIG GORDON MAKES 200TH HEARTS APPEARANCE". Hearts FC. ngày 13 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2021.
  142. ^ "Craig Gordon emphasises Hearts clean sheet record after 'nice day's work' on 200th appearance". Edinburgh Live. ngày 13 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2021.
  143. ^ "Hearts goalkeeper Craig Gordon involved in huge dilemma for Scotland manager Steve Clarke ahead of Euro 2020". MSN. ngày 13 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2021.
  144. ^ "Hearts duo Craig Gordon and Liam Boyce nominated for Championship Player of the Year". Edinburgh Live. ngày 13 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2021.
  145. ^ "Liam Boyce voted best player in Scottish Championship by his fellow pros". Belfast Live. ngày 17 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2021.
  146. ^ "PFA SCOTLAND CHAMPIONSHIP TEAM OF THE YEAR 2021". PFA Scotland. ngày 17 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2021.
  147. ^ "Robbie: Craig perfect captain choice | Heart Of Midlothian Football Club". www.heartsfc.co.uk. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2021.
  148. ^ "CRAIG GORDON SIGNS NEW CONTRACT". Heart of Midlothian FC. ngày 31 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2022.
  149. ^ "The 5 most-capped Hearts players of all-time". Edinburgh Evening News. ngày 23 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2022.
  150. ^ "Callum McGregor, Tom Rogic, Craig Gordon, Regan Charles-Cook shortlisted for PFA Scotland player of the year award". Sky Sports. ngày 27 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2022.
  151. ^ "Celtic dominate PFA Scotland Premiership team of the year". BT Sport. ngày 26 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2022.
  152. ^ "Celtic dominate PFA Scotland awards". The Scotsman. ngày 2 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2022.
  153. ^ "Hearts and Scotland keeper Craig Gordon makes history". The National. ngày 4 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2022.
  154. ^ Paton, Ewan (ngày 24 tháng 12 năm 2022). "Craig Gordon suffers serious injury as Hearts captain stretchered off". Glasgow Times.
  155. ^ "Injury Update: Craig Gordon | Heart Of Midlothian Football Club". www.heartsfc.co.uk. ngày 26 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2022.
  156. ^ a b "Hearts: Craig Gordon has 'good opportunity' to make Euro 2024 - Steven Naismith". BBC Sport. ngày 19 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2023.
  157. ^ "Spartans 1 Hearts 2: Craig Gordon back in action as Jambos scrape through". The National (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2024.
  158. ^ Anderson, Barry (ngày 21 tháng 1 năm 2024). "The fight is on at Hearts: Craig Gordon's physical state, the No.1 role and Euro 2024 aims". Edinburgh Evening News. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2024. He is the first Hearts player to play competitively in his 40s and was fully aware of the statistic before Saturday's tie. "Yeah, I was. Thanks," he said, with a wry smile. "I didn't play at all when I was 40, I just skipped straight to 41. It's a good record, another one, so let's see if we can make it 42."
  159. ^ a b "Craig Gordon aims to be Scotland's oldest player after signing new Hearts deal". www.bbc.co.uk/sport. BBC Sport. ngày 9 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2024.
  160. ^ a b c "'Determined' Gordon signs for another season with Hearts". BBC Sport. ngày 23 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
  161. ^ Young, George (ngày 11 tháng 1 năm 2026). "Dundee 0–1 Hearts". BBC Sport.
  162. ^ "2–1 vs Israel in friendly (04/09/2002)". FitbaStats. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015.
  163. ^ "Gordon, Craig". FitbaStats. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015.
  164. ^ "Scotland 4–1 Trinidad". BBC Sport. BBC. ngày 30 tháng 5 năm 2004.
  165. ^ "Scotland 0–0 Slovenia". BBC Sport. BBC. ngày 8 tháng 9 năm 2004. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015.
  166. ^ "Profiles – Craig Gordon". Scottish FA. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015.
  167. ^ "Gordon is the best keeper in Europe, claims Preston". Edinburgh Evening News. ngày 6 tháng 8 năm 2007.
  168. ^ "Buffon backs "great" Gordon". Sky Sports. ngày 16 tháng 11 năm 2007.
  169. ^ Moffat, Colin (ngày 7 tháng 10 năm 2006). "Scotland 1–0 France". BBC Sport. BBC. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2014.
  170. ^ McGuigan, Thomas (ngày 12 tháng 9 năm 2007). "France 0–1 Scotland". BBC Sport. BBC. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2014.
  171. ^ "Cheeky Boy' shoots his way to star status". Financial Times. ngày 16 tháng 11 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2019.
  172. ^ "5 goals that will make you fall in love with Scottish football". Press and Journal. ngày 14 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2019.
  173. ^ a b "Gordon return a silver lining on dark night". The Scotsman. ngày 18 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2014.
  174. ^ "Celtic goalkeeper overjoyed at Scotland appearance". Inside Futbol. ngày 27 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2015.
  175. ^ "Hampered hat-trick for Celtic and Scotland's Gordon". Evening Times. ngày 28 tháng 3 năm 2015.
  176. ^ "Craig Gordon sets sights on 50-cap Scotland milestone". The Scotsman. ngày 24 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2017.
  177. ^ "FIFA World Cup 2018: Scotland 1–0 Slovenia". BBC Sport. ngày 26 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2017.
  178. ^ McConnell, Alison (ngày 2 tháng 10 năm 2017). "Craig Gordon feared 50th Scotland cap would never come". Evening Times. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2017.
  179. ^ "Gordon soars into top 10". Evening Telegraph. ngày 22 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2022 – qua pressreader.com.
  180. ^ "Scotland squad for Euro play-off against Serbia named as Dundee United star Lawrence Shankland included alongside Celtic striker Leigh Griffiths". Evening Telegraph. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2021.
  181. ^ "Serbia v Scotland: Ryan Fraser & Grant Hanley to miss Euro 2020 play-off". BBC Sport. ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2021.
  182. ^ "Scotland 1-1 Serbia | Live updates from EURO 2020 play-off". The Herald. ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2021.
  183. ^ "ECQ: Serbia 1–1 Scotland (4–5 pens)". BBC Sport. ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2021.
  184. ^ a b "Scotland Players by Career Span". London Hearts Supporters Club. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2021.
  185. ^ Pattullo, Alan (ngày 11 tháng 11 năm 2020). "David Marshall speaks on his record-breaking Scotland career and those rumours about re-joining Celtic". The Scotsman (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2021.
  186. ^ "Scotland confirm Euro 2020 squad as Chelsea teenager Billy Gilmour makes the cut". The Independent. ngày 19 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2021.
  187. ^ "Scotland Euro 2020 squad announcement". Sky Sports. ngày 19 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2021.
  188. ^ Anderson, Barry (ngày 24 tháng 6 năm 2021). "Hearts and Scotland goalkeeper Craig Gordon's international future comes into focus". Edinburgh Evening News. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2021.
  189. ^ Grahame, Ewing (ngày 1 tháng 9 năm 2021). "Craig Gordon returns as first-choice Scotland keeper hoping the numbers keep stacking up". The Times. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2021.
  190. ^ a b "Moldova 0-2 Scotland: 'Peter Pan' goalkeeper Craig Gordon hailed". www.bbc.co.uk/sport. BBC Sport. ngày 12 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2021.
  191. ^ "Craig Gordon and Billy Gilmour among five players in contention for SFWA award". Herald Scotland. ngày 1 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2002.
  192. ^ "Jim Stewart saved me from being ditched by Hearts when I was 15, says Scotland No1 Craig Gordon". Daily Record. ngày 25 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2019.
  193. ^ "Hearts hero Craig Gordon climbs further up Scotland's all-time standings after Armenia win". ngày 14 tháng 6 năm 2022.
  194. ^ "Scotland: Craig Gordon in squad for friendlies against Netherlands and Northern Ireland". BBC Sport. ngày 12 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2024.
  195. ^ "Record-breaking goalkeeper Gordon out of Scotland Euro 2024 squad". MSN. ngày 7 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2024.
  196. ^ McCafferty, Gavin (ngày 16 tháng 11 năm 2024). "No overthinking Nations League table as Craig Gordon eyes another Scotland win". The Irish News.
  197. ^ "EURO qualifying's oldest players | European Qualifiers". UEFA. ngày 15 tháng 9 năm 2023.
  198. ^ "Steve Clarke: Craig Gordon hopes Scotland manager extends deal". BBC Sport. ngày 17 tháng 3 năm 2025.
  199. ^ Coyle, Andy (ngày 21 tháng 3 năm 2025). "Gordon prepared for 'difficult' second leg as Greece tie 'in the balance'". STV News. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2025.
  200. ^ "'You've got to go experience' - Gordon backed to start in Athens". BBC Sport. London, England: BBC. ngày 14 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  201. ^ Canavan, Amy (ngày 18 tháng 11 năm 2025). "Scotland qualify for first men's World Cup in 28 years after Denmark epic". BBC Sport Scotland. Glasgow, Scotland: BBC. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2025.
  202. ^ "Craig Gordon: No time to reflect before crucial Scotland qualifier with Denmark". STV News. ngày 16 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2025.
  203. ^ "How Hearts star was talked out of retirement to pursue one final World Cup dream". Edinburgh News. ngày 21 tháng 11 năm 2025.
  204. ^ Swan, Craig (ngày 16 tháng 3 năm 2015). "Craig Gordon: I was out of football so long my kids didn't know what I did". Daily Record (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2022.
  205. ^ McStay, Kirsten (ngày 22 tháng 4 năm 2021). "Summer Harl and Craig Gordon announce unique name for new son - and it's very cute". Daily Record. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2022.
  206. ^ a b "Scotland 2-1 Republic of Ireland: Perfect day for bleary-eyed goalkeeper Craig Gordon". BBC Sport. ngày 24 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2022.
  207. ^ "Craig Gordon – Scotland". FitbaStats. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2014.
  208. ^ "Hearts confirmed as Scottish Championship winners as Robbie Neilson secures promotion to Premiership". Herald Scotland. ngày 10 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2021.
  209. ^ English, Tom (ngày 4 tháng 5 năm 2019). "Celtic secured an eighth consecutive title in style with a convincing win away to wasteful Aberdeen". BBC Sport. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2019.
  210. ^ "Aberdeen 1 – 2 Celtic". BBC Sport. ngày 27 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2019.
  211. ^ "Motherwell 0 – 2 Celtic". BBC Sport. ngày 19 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2019.
  212. ^ English, Tom (ngày 27 tháng 11 năm 2016). "Aberdeen 0–3 Celtic". BBC Sport. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017.
  213. ^ "Motherwell 0 – 2 Celtic". BBC Sport. ngày 26 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2017.
  214. ^ "Aberdeen 0 – 1 Celtic". BBC Sport. ngày 2 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2019.
  215. ^ "Rangers 0 – 1 Celtic". BBC Sport. ngày 8 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2019.
  216. ^ Collin, Iain (ngày 4 tháng 5 năm 2022). "Craig Gordon: I wanted to show I could still do it". The Times. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2022.
  217. ^ "GORDON VOTED PLAYER OF YEAR HEARTS KEEPER EARNS 2021/22 AWARD". SPFL. ngày 17 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2022.
  218. ^ "SFWA YOUNG PLAYER OF THE YEAR". SFWA. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2020.
  219. ^ "NOW YOU KNOW: Faddy outfoxed opposition to land first youth award". Glasgow Times. ngày 10 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2020.
  220. ^ "Jim Stewart saved me from being ditched by Hearts when I was 15, says Scotland No1 Craig Gordon". Daily Record. ngày 8 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2019.
  221. ^ a b "HEROES HONOURED AT FOREVER HEARTS". HOMFC. ngày 9 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2022.
  222. ^ "Lawrence Shankland scoops Hearts awards as Zander Clark recognised at Player of the Year bash". Edinburgh Live. ngày 24 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2025.
  223. ^ "Shanks at the treble! | Player of the Year". Heart of Midlothian FC. ngày 24 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2025.
  224. ^ "Player of the Year 2025". Heart of Midlothian FC. ngày 28 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2025.
  225. ^ "HEARTS DUO MAKE TEAM OF THE YEAR". Heart of Midlothian FC. ngày 26 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2022.

Liên kết ngoài

  • Craig Gordon tại Celtic FC (lưu trữ)
  • Craig Gordon tại Hiệp hội bóng đá ScotlandLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
  • Craig Gordon tại SoccerbaseLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).