Bước tới nội dung

Tịnh Phạn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Śuddhodana)
Tịnh Phạn vương
凈飯王
शुद्धोधन
Śuddhodana
Vua Ấn Độ
Tập tin:SudhodannaAndHisCourt.jpg
Vua Tịnh Phạn cùng quần thần
Vua thành Ca-tỳ-la-vệ
Tiền nhiệmSihahanu
Kế nhiệmTôn giả Ma Ha Nam
Thông tin chung
Phối ngẫuHoàng hậu Maya
Ma-ha Ba-xà-ba-đề
Hậu duệTất-đạt-đa Cồ-đàm
Nan-đà
Tôn-đà-lợi Nan-đà
Hoàng tộcHọ Thích Ca
Thân phụSihahanu

Tịnh Phạn vương (chữ Hán: 淨飯王), họ Cồ-đàm (Gautama) là một tông chủ thị tộc Shakya (Thích-ca),trị vì tại thành quốc Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu). Ông được kinh điển Phật giáo ghi nhận là cha ruột của Thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm (Tất-đạt-đa Cồ-đàm là người trở thành đức Phật Thích-Ca sau khi tu thành chánh quả).

Tập tin:Suddhodna seated on a throne Roundel 2 ivory tusk.jpg
Phù điêu khắc tượng vua Tịnh Phạn đang thiết triều

Nguyên danh của ông là Suddhodana (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., Śuddhodana; tiếng Pali: Suddhōdana; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), nghĩa là "người trồng lúa thuần tịnh". Khi kinh điển Phật giáo được dịch ra chữ Hán, các nhà dịch kinh đã chuyển nghĩa tên ông thành Tịnh Phạn (淨飯).

Gia đình

Cha của Tịnh Phạn là vua Sihahanu và mẹ của ông là hoàng hậu Kaccanā.

Ông cưới hai chị em Maya và Mahà Pajàpati (Ma-ha Ba-xà-ba-đề) và họ lần lượt là mẹ đẻ và mẹ kế của Tất-đạt-đa.

Những đứa con khác của Tịnh Phạn là hoàng tử Nan-đà (Nanda) và công chúa Sundari Nanda.

Tiểu sử

Sự ra đời của Siddhārtha Gautama

Truyền thuyết Ấn Độ cho rằng, hồi xưa khi Ấn Độ chỉ có đạo Bà La Môn, thần Vishnu cho Thái tử xuống đầu thai làm con trai của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Maya. Thái tử Tất-đạt-đa được sinh tại thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu) ở vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini), vốn là một vùng thuộc Nepal ngày nay. Một lần, nhà hiền triết A-tư-đà (Asita) đến thăm Tất-đạt-đa khi thái tử còn sơ sinh và đã rất ngạc nhiên khi thái tử đặt bàn chân lên đầu ông. Sau khi Asita quan sát bàn chân của thái tử, ông đã quỳ xuống và tỏ lòng kính trọng. Vua Tịnh Phạn đã ghi nhận hành động của ông.

Siddhārtha sau đó đã được đặt tên bởi 5 vị tu sĩ Bà-la-môn: Kiều Trần Như, Mahaanaama, Baspa, Asvajita, và Bharika. Sau này, 5 vị tu sĩ này trở thành người đồng hành của Tất-đạt-đa trong quá trình tu tập khổ hạnh và là 5 đệ tử đầu tiên sau khi thái tử đắc đạo.

Có lời tiên tri từ 5 vị tu sĩ này cho rằng, thái tử sẽ trở thành một vị vua tối cao. Tuy nhiên, nếu thái tử nhìn thấy 4 dấu hiệu: một người già, một người ốm, một xác chết và một nhà sư thì thái tử thay vì làm vua sẽ trở thành một tu sĩ. Kiều Trần Như không đồng ý với 4 người bạn tu sĩ của mình và đoán rằng thái tử sẽ trở thành Phật. Sau khi nghe điều này, vua Tịnh Phạn cố gắng không cho thái tử tiếp xúc với thế giới bên ngoài để không thấy 4 dấu hiệu và trở thành một vị vua quyền lực. Dù vậy, kế hoạch của ông đã không thành và Siddhārtha trở thành một tu sĩ, rời bỏ cung điện xa hoa, dấn thân vào cuộc hành trình tìm kiếm sự giải thoát.

Cuộc sống sau này

Vua Tịnh Phạn thương xót sự ra đi của con trai và rất cố gắng tìm kiếm thái tử. Nhiều năm về sau, sau khi nghe tin thái tử đã đắc đạo thành Phật, ông đã gửi một thông điệp cùng với 10.000 tùy tùng để mời Tất-đạt-đa quay trở lại. Phật đã thuyết pháp và 10.000 tùy tùng này tham gia tăng đoàn.

Vua Tịnh Phạn sau đó cử một người bạn thân của Tất-đạt-đa là Kaludayi đi mời Phật quay về. Kaludayi sau khi gặp Phật cũng đi tu, nhưng vẫn chuyển lời mời Phật quay trở về quê hương Kapilavastu. Phật chấp nhận lời mời của vua cha và trở về thăm. Trong chuyến trở về, Ngài đã thuyết pháp cho vua cha.

Theo kinh điển Pali phần Luật tạng, Mahākhandhaka (Đại phẩm), I. Chương trọng yếu: sau khi biết việc các con (Nan-đà) và cháu trai (La hầu la) xuất gia theo Phật, vua Tịnh Phan vô cùng đau khổ và sợ rằng các bậc cha mẹ khác cũng sẽ phải đau khổ giống như mình. Nhà vua đã thuyết phục Đức Phật thiết lập một quy định rằng không ai được xuất gia nếu không có sự cho phép của cha mẹ.[1]

“Bạch ngài, khi đức Thế Tôn đã xuất gia, đau khổ đã khởi lên ở trẫm không phải là ít, tương tự như vậy trong việc Nandā, (nhưng là sự đau khổ) vô cùng mãnh liệt trong việc Rāhula. Bạch ngài, lòng thương yêu đối với người con trai cắt vào da; sau khi cắt vào da, nó cắt vào lớp da trong; sau khi cắt vào lớp da trong, nó cắt vào thịt; sau khi cắt vào thịt, nó cắt vào gân; sau khi cắt vào gân, nó cắt vào xương; sau khi cắt vào xương, nó đạt đến tủy xương rồi trú (ở đó). Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài đại đức không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia.”

Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Suddhodana dòng Sakya bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Suddhodana dòng Sakya đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:—“Này các tỳ khưu, không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia; vị nào cho xuất gia thì phạm tội dukkaṭa.”

Nhiều năm sau, khi Phật nghe tin vua cha sắp qua đời, Ngài đã trở về một lần nữa và thuyết pháp cho vua cha lúc cuối đời. Và như thế, nhà vua đắc quả A la hán.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ "SuttaCentral". SuttaCentral (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2026.

Liên kết ngoài