Mùa giải 2012-13 là mùa giải thi đấu bóng đá thứ 133 tại Anh.

Bóng đá Anh
Mùa giải2012-13
Bóng đá nam
Premier LeagueManchester United
ChampionshipCardiff City
League OneDoncaster Rovers
League TwoGillingham
Conference PremierMansfield Town
Cúp FAWigan Athletic
League CupSwansea City
Community ShieldManchester City
Bóng đá nữ
WSLLiverpool
FA Women's Premier League National DivisionSunderland
FA Women's Premier League Northern DivisionSheffield
FA Women's CupArsenal
WSL CupArsenal
2011-12 Anh 2013-14

Mùa giải khởi tranh vào ngày 11 tháng 8 năm 2012 đối với Football Conference[1] và ngày 18 tháng 8 năm 2012 đối với cả Giải bóng đá Ngoại hạng Anh lẫn The Football League.[2][3] Mùa giải thường lệ của Football Conference khép lại vào ngày 20 tháng 4 năm 2013,[1] tiếp đến là League OneLeague Two, đều kết thúc vào ngày 27 tháng 4 năm 2013,[2] trong khi Championship kết thúc vào ngày 4 tháng 5 năm 2013[2] và sau cùng là Giải bóng đá Ngoại hạng Anh vào ngày 19 tháng 5 năm 2013.[3]

Thăng hạng và xuống hạng

Tiền mùa giải

Giải đấu Thăng hạng đến giải đấu   Xuống hạng từ giải đấu Fall
Premier League
Championship
League One
League Two

Sau mùa giải

Giải đấu Thăng hạng đến giải đấu   Xuống hạng từ giải đấu Fall
Premier League
Championship
League One
League Two

Câu lạc bộ mới

Câu lạc bộ bị loại bỏ

  • Witney Town F.C. của Premier Division thuộc Hellenic Football League (cấp độ 9, Bậc 5) đã bị đuổi khỏi sân nhà vào đầu tháng 2 năm 2013 do không trả tiền thuê sân. Sau đó, câu lạc bộ đã giải thể vì thiếu kinh phí.[6]

Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh

Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014

Giao hữu quốc tế

Bảng xếp hạng

Giải bóng đá ngoại hạng Anh

Trong mùa giải cuối cùng của Sir Alex Ferguson trên cương vị huấn luyện viên, Manchester United đã dễ dàng giành chức vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Anh thứ 13 và là chức vô địch hạng đấu cao nhất thứ 20 trong lịch sử của họ, vươn lên dẫn đầu bảng vào giữa tháng 11 và không bao giờ đánh mất vị trí đó, dù chỉ giành ba chiến thắng trong tám trận cuối khiến họ bỏ lỡ cơ hội trở thành đội đầu tiên ở hạng đấu cao nhất giành được 100 điểm trong một mùa giải. Đội láng giềng và cũng là đương kim vô địch Manchester City kết thúc ở vị trí thứ hai, nhưng họ chưa bao giờ cho thấy khả năng thực sự cạnh tranh cho chức vô địch thứ hai liên tiếp, và điều đó, cộng với phong độ kém ở các đấu trường khác, đã khiến Roberto Mancini mất việc. Dù trải qua một mùa giải đầy biến động khi huấn luyện viên vô địch Champions League Roberto Di Matteo bị sa thải từ sớm và được thay bằng cựu huấn luyện viên Liverpool Rafael Benítez theo dạng tạm quyền, một quyết định cực kì không được lòng người, Chelsea vẫn cải thiện thành tích của mùa trước thêm ba bậc và 11 điểm, đồng thời lần đầu tiên trong lịch sử vô địch Europa League. Suất cuối cùng dự Champions League thuộc về Arsenal; dù bị bỏ lại khá xa trong phần lớn mùa giải sau sự ra đi của Robin van Persie với giá 24 triệu bảng vào mùa hè, họ vẫn kịp giành vị trí thứ tư nhờ chuỗi phong độ xuất sắc ở giai đoạn cuối, qua đó lại đẩy đối thủ Tottenham Hotspur xuống Europa League.

David Moyes khép lại 11 năm dẫn dắt Everton bằng việc đưa The Toffees cán đích ở vị trí thứ sáu, hơn kình địch Liverpool hai điểm; đội bóng này lại trở thành tâm điểm vì những lí do tiêu cực khi tiền đạo Luis Suárez bị cấm thi đấu dài hạn sau khi cắn hậu vệ Chelsea Branislav Ivanović trong một trận tại giải. Swansea City giành quyền dự Europa League nhờ vô địch League Cup, trở thành câu lạc bộ xứ Wales đầu tiên giành quyền tham dự một giải đấu lớn cấp câu lạc bộ ở châu Âu, trong khi West Bromwich Albion đứng thứ tám, thành tích tốt nhất của họ trong kỉ nguyên Giải bóng đá Ngoại hạng Anh.

West Ham United là đội có thành tích tốt nhất trong ba đội mới thăng hạng, chỉ thua bốn trận sân nhà trong cả mùa và kết thúc đầy ấn tượng ở vị trí thứ mười, bất chấp những đồn đoán liên tiếp rằng huấn luyện viên Sam Allardyce sẽ bị sa thải để thay bằng một người có danh tiếng với lối chơi hấp dẫn hơn. Southampton xếp dưới họ bốn bậc, vật lộn với cuộc chiến trụ hạng suốt mùa trước khi Nigel Adkins bị sa thải và được thay bằng cái tên còn tương đối xa lạ là Mauricio Pochettino, người đã giúp The Saints giành 19 điểm trong 16 trận còn lại.

Ở cuối bảng xếp hạng, Queens Park Rangers phải xuống hạng sau một mùa giải thảm hại, trong đó họ tạo ra khởi đầu tệ nhất lịch sử Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, không thắng nổi một trận nào tại giải cho đến tháng 12, và ngay cả việc bổ nhiệm Harry Redknapp làm huấn luyện viên cùng khoản đầu tư lớn vào đội hình trong kì chuyển nhượng tháng 1 cũng không cải thiện đáng kể tình hình. Reading, đội chưa bao giờ thực sự thích nghi được với tốc độ của hạng đấu cao nhất sau khi thăng hạng với tư cách nhà vô địch ở mùa trước, cũng chẳng khá hơn bao nhiêu và xuống hạng ở vị trí áp chót. Cả Reading lẫn Queens Park Rangers cùng xuống hạng trong cùng một ngày sau trận hòa 0-0 với nhau. Dù vô địch Cúp FA, qua đó giành vé dự Europa League mùa sau, Wigan Athletic cuối cùng vẫn phải xuống hạng sau tám năm liên tục chiến đấu để trụ lại tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh.

Bảng xếp hạng

Premier League
Mùa giải2012–13
Thời gian18 tháng 8 năm 2012 – 19 tháng 5 năm 2013
Vô địchManchester United
Lần thứ 13 vô địch kể từ khi đổi tên thành Giải Ngoại hạng Anh
Lần thứ 20 vô địch Anh
Champions LeagueManchester United
Europa LeagueSwansea City
Số trận đấu380
Số bàn thắng1.063 (2,8 bàn mỗi trận)
Vua phá lướiRobin van Persie
(24 bàn)[7]
Chiến thắng sân
nhà đậm nhất
Chelsea 8–0 Aston Villa
Chiến thắng sân
khách đậm nhất
Queens Park Rangers 0–5 Swansea City
Trận có nhiều bàn thắng nhấtArsenal 7–3 Newcastle United
Chuỗi thắng dài nhất7 trận[8]
Manchester United
Chuỗi bất bại dài nhất18 trận[8]
Manchester United
Chuỗi không
thắng dài nhất
16 trận[8]
Queens Park Rangers
Chuỗi thua dài nhất7 trận[8]
Reading
Trận có nhiều khán giả nhất75.605[8]
Manchester United 1-0 Reading
(16 tháng 3 năm 2013)
Trận có ít khán giả nhất15.436[8]
Wigan Athletic 3–2 Reading
(24 tháng 11 năm 2012)
Số khán giả trung bình35.931[8]

Giải bóng đá ngoại hạng Anh 2012–13 là mùa thứ 21 giải bóng đá cao nhất nước Anh được tổ chức kể khi đổi tên thành giải Ngoại hạng kể từ năm 1992. Lịch thi đấu mùa giải được công bố vào ngày 18 tháng 6 năm 2012.[9][10] Mùa giải sẽ được tổ chức theo thể thức vòng tròn 2 lượt bắt đầu từ ngày 18 tháng 8 năm 2012[10] và kết thúc vào ngày 19 tháng 5 năm 2013.

Manchester City là đương kim vô địch của giải đấu. Mùa giải gồm 20 đội bóng tham dự, bao gồm 17 đội bóng tham dự mùa giải trước, cộng thêm 3 đội lên hạng từ giải Championship là: Reading, SouthamptonWest Ham United.

Ngày 22 tháng 4 năm 2013, trong trận đấu muộn vòng 34 giải Ngoại hạng Anh, Manchester United đã đánh bại Aston Villa 3-0, để chính thức lên ngôi vô địch giải Ngoại hạng Anh lần thứ 13 và vô địch nước Anh lần thứ 20.[11][12]

Đội lên hạng

Mùa giải 2011-12, ba đội xuống hạng là Wolverhampton Wanderers, Blackburn Rovers F.C.Bolton Wanderers F.C. Wolverhampton bị xuống hạng ở vòng 35,[13] Blackburn xuống hạng ở vòng áp chót sau khi thua Wigan 1-0[14] và Bolton xuống hạng ở vòng cuối cùng. Thay vào đó, Reading, Southamton và West Ham Untied lên hạng mùa 2012-13. Reading vô địch giải hạng nhất, Southamton đứng thứ nhì, còn West Ham phải đá Play-off với Blackpool và giành chiến thắng.

Sân vận động và vị trí

Ghi chú: Xếp theo thứ tự bảng chữ cái.[15][16]

Đội Địa điểm Sân vận động Chỗ ngồi[17]
Arsenal London Emirates &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng60,362
Aston Villa Birmingham Villa Park &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng42,785
Chelsea London Stamford Bridge &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng41,798
Everton Liverpool Goodison Park &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng39,571
Fulham London Craven Cottage &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng25,700
Liverpool Liverpool Anfield &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng45,276
Manchester City Manchester Etihad[18] &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng47,405
Manchester United Manchester Old Trafford &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng75,765
Newcastle United Newcastle upon Tyne St James' Park [17] &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng52,405
Norwich City Norwich Carrow Road &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng27,224
Queens Park Rangers London Sân vận động Loftus Road &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng18,439
Reading Reading Sân vận động Madejski &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng24,197
Southampton Southampton Sân vận động St Mary &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng32,689
Stoke City Stoke-on-Trent Sân vận động Britannia &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng27,740
Sunderland Sunderland Sân vận động Ánh sáng &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng48,707
Swansea City Swansea Sân vận động Liberty &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng20,745
Tottenham Hotspur London White Hart Lane &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng36,284
West Bromwich Albion West Bromwich Sân vận động The Hawthorns &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng26,445
West Ham United London Boleyn Ground &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng35,016
Wigan Athletic Wigan Sân vận động DW &Lỗi biểu thức: Dấu phân cách “,” không rõ ràng25,133

Nhân sự

Huấn luyện viên trưởng và đội trưởng

Đội bóng Huấn luyện viên trưởng Đội trưởng[19] Thiết kế áo đấu Tài trợ áo đấu
Arsenal   Arsène Wenger   Thomas Vermaelen Nike Emirates
Aston Villa   Paul Lambert   Ron Vlaar2 Macron Genting Casinos
Chelsea   José Mourinho   John Terry Adidas Samsung
Everton   David Moyes   Phil Neville Nike Chang Beer
Fulham   Martin Jol   Brede Hangeland Kappa FxPro
Liverpool   Brendan Rodgers   Steven Gerrard Warrior Sports Standard Chartered
Manchester City   Roberto Mancini   Vincent Kompany Umbro Etihad Airways
Manchester United   Sir Alex Ferguson   Nemanja Vidić Nike Aon
Newcastle United   Alan Pardew   Fabricio Coloccini Puma Virgin Money
Norwich City   Chris Hughton   Grant Holt Erreà Aviva
Queens Park Rangers   Harry Redknapp   Clint Hill Lotto AirAsia
Reading   Nigel Adkins   Jobi McAnuff Puma Waitrose
Southampton   Mauricio Pochettino   Adam Lallana Umbro aap3
Stoke City   Tony Pulis   Ryan Shawcross Adidas Bet365
Sunderland   Paolo Di Canio   Lee Cattermole Adidas Invest In Africa
Swansea City   Michael Laudrup   Garry Monk Adidas 32Red
Tottenham Hotspur   André Villas-Boas   Michael Dawson Under Armour Aurasma
West Bromwich Albion   Steve Clarke   Chris Brunt Adidas Zoopla
West Ham United   Sam Allardyce   Kevin Nolan Macron SBOBET
Wigan Athletic   Roberto Martínez   Gary Caldwell MiFit 12BET

Thay đổi huấn luyện viên

Đội Huấn luyện viên cũ Lý do Ngày Vị trí trên bảng xếp hạng Huấn luyện viên mới Ngày mua về
West Bromwich Albion   Roy Hodgson Được bầu làm HLV đội tuyển Anh 13 tháng 5 năm 2012[20] Thứ hạng tại mùa giải trước   Steve Clarke 8 tháng 6 năm 2012[21]
Aston Villa   Alex McLeish Sa thải 14 tháng 5 năm 2012[22]   Paul Lambert 2 tháng 6 năm 2012[23]
Liverpool   Kenny Dalglish 16 tháng 5 năm 2012[24]   Brendan Rodgers 1 tháng 6 năm 2012[25]
Swansea City   Brendan Rodgers Chuyển đến Liverpool 1 tháng 6 năm 2012[25]   Michael Laudrup 15 tháng 6 năm 2012[26]
Norwich City   Paul Lambert Chuyển đến Aston Villa 4 tháng 6 năm 2012[23]   Chris Hughton 7 tháng 6 năm 2012[27]
Tottenham Hotspur   Harry Redknapp Sa thải 13 tháng 6 năm 2012[28]   André Villas-Boas 3 tháng 7 năm 2012[29]
Chelsea   Roberto Di Matteo 21 tháng 11 năm 2012[30] thứ 3   Rafael Benítez (tạm quyền) 21 tháng 11 năm 2012[31]
Queens Park Rangers   Mark Hughes 23 tháng 11 năm 2012[32] thứ 20   Harry Redknapp 24 tháng 11 năm 2012[33]
Southampton   Nigel Adkins 18 tháng 1 năm 2013[34] thứ 15   Mauricio Pochettino 18 tháng 1 năm 2013[34]
Reading   Brian McDermott 11 tháng 3 năm 2013[35] thứ 15   Nigel Adkins 26 tháng 3 năm 2013[36]
Sunderland   Martin O'Neill 31 tháng 3 năm 2013[37] thứ 16   Paolo Di Canio 31 tháng 3 năm 2013[38]
Chelsea   Rafael Benítez Kết thúc tạm quyền 21 tháng 4 năm 2013[31] thứ 3   José Mourinho 21 tháng 4 năm 2013[31]

Bảng xếp hạng

XH
Đội
Tr
T
H
T
BT
BB
HS
Đ
Lên hay xuống hạng
1 Manchester United (C) 38 28 5 5 86 43 +43 89 Vòng bảng UEFA Champions League
2 Manchester City 38 23 9 6 66 34 +32 78
3 Chelsea 38 22 9 7 75 39 +36 75
4 Arsenal 38 21 10 7 72 37 +35 73 Vòng Play-off UEFA Champions League
5 Tottenham Hotspur 38 21 9 8 66 46 +20 72 Vòng Play-off UEFA Europa League 2013-14
6 Everton 38 16 15 7 55 40 +15 63
7 Liverpool 38 16 13 9 71 43 +28 61
8 West Bromwich Albion 38 14 7 17 53 57 −4 49
9 Swansea City 38 11 13 14 47 51 −4 46 Vòng loại thứ ba UEFA Europa League 2013-14 1
10 West Ham United 38 12 10 16 45 53 −8 46
11 Norwich City 38 10 14 14 41 58 −17 44
12 Fulham 38 11 10 17 50 60 −10 43
13 Stoke City 38 9 15 14 34 45 −11 42
14 Southampton 38 9 14 15 49 60 −11 41
15 Aston Villa 38 10 11 17 47 69 −22 41
16 Newcastle United 38 11 8 19 45 68 −23 41
17 Sunderland 38 9 12 17 41 54 −13 39
18 Wigan Athletic (XH) 38 9 9 20 47 73 –26 36 Vòng bảng UEFA Europa League 2013–14 2
Xuống chơi tại Football League Championship 2013-14
19 Reading (R) 38 6 10 22 43 73 −30 28 Xuống chơi tại Football League Championship 2013-14
20 Queens Park Rangers (R) 38 4 13 21 30 60 −30 25

Nguồn: Barclays Premier League
Quy tắc xếp hạng: 1. Điểm; 2. Hiệu số bàn thắng; 3. Số bàn thắng.
1Swansea vô địch Cúp Liên đoàn bóng đá Anh 2012-13 nên tham dự Vòng loại thứ ba UEFA Europa League 2013–14 2Wigan Athletic dự Vòng bảng UEFA Europa League 2013–14
(VĐ) = Vô địch; (XH) = Xuống hạng; (LH) = Lên hạng; (O) = Thắng trận Play-off; (A) = Lọt vào vòng sau.
Chỉ được áp dụng khi mùa giải chưa kết thúc:
(Q) = Lọt vào vòng đấu cụ thể của giải đấu đã nêu; (TQ) = Giành vé dự giải đấu, nhưng chưa tới vòng đấu đã nêu.

Kết quả thi đấu

S.nhà ╲ S.khách ARS AST CHE EVE FUL LIV MCI MUN NEW NOR QPR REA SOT STO SUN Bản mẫu:Fb team Swansea City TOT WBA WHA WIG
Arsenal

2–1

1–2

0–0

3–3

2–2

0–2

1–1

7–3

3–1

1–0

4–1

6–1

1–0

0–0

0–2

5–2

2–0

5–1

4–1

Aston Villa

0–0

1–2

1–3

1–1

1–2

0–1

2–3

1–2

1–1

3–2

1–0

0–1

0–0

6–1

2–0

0–4

1–1

2–1

0–3

Chelsea

2–1

8–0

2–1

0–0

1–1

0–0

2–3

2–0

4–1

0–1

4–2

2–2

1–0

2–1

2–0

2–2

1–0

2–0

4–1

Everton

1–1

3–3

1–2

1–0

2–2

2–0

1–0

2–2

1–1

2–0

3–1

3–1

1–0

2–1

0–0

2–1

2–1

2–0

2–1

Fulham

0–1

1–0

0–3

2–2

1–3

1–2

0–1

2–1

5–0

3–2

2–4

1–1

1–0

1–3

1–2

0–3

3–0

3–1

1–1

Liverpool

0–2

1–3

2–2

0–0

4–0

2–2

1–2

1–1

5–0

1–0

1–0

1–0

0–0

3–0

5–0

3–2

0–2

0–0

3–0

Manchester City

1–1

5–0

2–0

1–1

2–0

2–2

2–3

4–0

2–3

3–1

1–0

3–2

3–0

3–0

1–0

2–1

1–0

2–1

1–0

Manchester United

2–1

3–0

0–1

2–0

3–2

2–1

1–2

4–3

4–0

3–1

1–0

2–1

4–2

3–1

2–1

2–3

2–0

1–0

4–0

Newcastle United

0–1

1–1

3–2

1–2

1–0

0–6

1–3

0–3

1–0

1–0

1–2

4–2

2–1

0–3

1–2

2–1

2–1

0–1

3–0

Norwich City

1–0

1–2

0–1

2–1

0–0

2–5

3–4

1–0

0–0

1–1

2–1

0–0

1–0

2–1

2–2

1–1

4–0

0–0

2–1

Queens Park Rangers

0–1

1–1

0–0

1–1

2–1

0–3

0–0

0–2

1–2

0–0

1–1

1–3

0–2

3–1

0–5

0–0

1–2

1–2

1–1

Reading

2–5

1–2

2–2

2–1

3–3

0–0

0–2

3–4

2–2

0–0

0–0

0–2

1–1

2–1

0–0

1–3

3–2

1–0

0–3

Southampton

1–1

4–1

2–1

0–0

2–2

3–1

3–1

2–3

2–0

1–1

1–2

1–0

1–1

0–1

1–1

1–2

0–3

1–1

0–2

Stoke City

0–0

1–3

0–4

1–1

1–0

3–1

1–1

0–2

2–1

1–0

1–0

2–1

3–3

0–0

2–0

1–2

0–0

0–1

2–2

Sunderland

0–1

0–1

1–3

1–0

2–2

1–1

1–0

0–1

1–1

1–1

0–0

3–0

1–1

1–1

0–0

1–2

2–4

3–0

1–0

Bản mẫu:Fb team Swansea City

0–2

2–2

1–1

0–3

0–3

0–0

0–0

1–1

1–0

3–4

4–1

2–2

0–0

3–1

2–2

1–2

3–1

3–0

2–1

Tottenham Hotspur

2–1

2–0

2–4

2–2

0–1

2–1

3–1

1–1

2–1

1–1

2–1

3–1

1–0

0–0

1–0

1–0

1–1

3–1

0–1

West Bromwich Albion

1–2

2–2

2–1

2–0

1–2

3–0

1–2

5–5

1–1

2–1

3–2

1–0

2–0

0–1

2–1

2–1

0–1

0–0

2–3

West Ham United

1–3

1–0

3–1

1–2

3–0

2–3

0–0

2–2

0–0

2–1

1–1

4–2

4–1

1–1

1–1

1–0

2–3

3–1

2–0

Wigan Athletic

0–1

2–2

0–2

2–2

1–2

0–4

0–2

0–4

2–1

1–0

2–2

3–2

2–2

2–2

2–3

2–3

2–2

1–2

2–1

Cập nhật lần cuối: 22 tháng 4 năm 2013.
Nguồn: Premier League
^ Đội chủ nhà được liệt kê ở cột bên tay trái.
Màu sắc: Xanh = Chủ nhà thắng; Vàng = Hòa; Đỏ = Đội khách thắng.
a nghĩa là có bài viết về trận đấu đó.

Bàn thắng

Top ghi bàn

Tính đến ngày 22 tháng 4 năm 2013
Số thứ tự Cầu thủ Câu lạc bộ Số bàn thắng[7]
1   Robin van Persie Manchester United 24
2   Luis Suárez Liverpool 23
3   Gareth Bale Tottenham Hotspur 18
4   Michu Swansea City 17
5   Demba Ba Chelsea 15
  Christian Benteke Aston Villa
7   Rickie Lambert Southampton 14
8   Dimitar Berbatov Fulham 13
  Romelu Lukaku West Bromwich Albion
10   Santi Cazorla Arsenal 12
  Edin Džeko Manchester City
  Frank Lampard Chelsea
  Wayne Rooney Manchester United

Hat-trick

Cầu thủ Đội Đáu với Kết quả Ngày
  Robin van Persie Manchester United Southampton 3–2[39] 2 tháng 9 năm 2012
  Luis Suárez Liverpool Norwich City 5–2[40] 29 tháng 9 năm 2012
  Jordi Gómez Wigan Athletic Reading 3–2[41] 24 tháng 11 năm 2012
  Santi Cazorla Arsenal Reading 5–2[42] 17 tháng 12 năm 2012
  Gareth Bale Tottenham Hotspur Aston Villa 4–0[43] 26 tháng 12 năm 2012
  Theo Walcott Arsenal Newcastle United 7–3[44] 29 tháng 12 năm 2012
  Shinji Kagawa Manchester United Norwich City 4–0[45] 2 tháng 3 năm 2013
  Luis Suárez Liverpool Wigan Athletic 4–0[46] 2 tháng 3 năm 2013
  Robin van Persie Manchester United Aston Villa 3–0[47] 22 tháng 4 năm 2013

Bàn thắng

  • Bàn đầu tiên của mùa giải: Michu, trong trận Swansea City đấu với Queens Park Rangers (18 tháng 8 năm 2012)[48]
  • Bàn thắng nhanh nhất: 20 giây, Theo Walcott ghi trong trận Arsenal gặp Queens Park Rangers (4 tháng 5 năm 2013)[49]
  • Trận thắng có cách biệt lớn nhất: 8 bàn
  • Chelsea 8–0 Aston Villa (23 tháng 12, 2012)
  • Trận nhiều bàn thắng nhất: 10 bàn
  • Arsenal 7–3 Newcastle United (29 tháng 12 năm 2012)
  • Trận đấu đội thắng ghi được nhiều bàn nhất: 8 bàn
  • Chelsea 8–0 Aston Villa (23 tháng 12 năm 2012)
  • Trận đấu đội thua ghi được nhiều bàn thắng nhất: 3 bàn
  • Reading 3–4 Manchester United (1 tháng 12 năm 2012)
  • Swansea City 3–4 Norwich City (8 tháng 12 năm 2012)
  • Manchester United 4–3 Newcastle United (26 tháng 12 năm 2012)
  • Norwich City 3–4 Manchester City (29 tháng 12 năm 2012)
  • Arsenal 7–3 Newcastle United (29 tháng 12 năm 2012)

Giữ sạch lưới

  • Đội bóng giữ sạch lưới nhiều trận nhất:[8]
  • Manchester City, 15 trận giữ sạch lưới
  • Đọi bóng giữ sạch lưới ít trận nhất:[8]
  • Reading, 4 trận giữ sạch lưới

Thẻ vàng, thẻ đỏ

  • Câu lạc bộ nhận nhiều thẻ vàng nhất:[50]
  • Aston Villa (67 chiếc thẻ vàng)
  • Cầu thủ nhận nhiều thẻ vàng nhất:[51]
  • Câu lạc bộ nhận nhiều thẻ đỏ nhất:[50]
  • Arsenal (5 chiếc thẻ đỏ)
  • Cầu thủ nhận nhiều thẻ đỏ nhất:[51]
Mỗi cầu thủ đều phải nhận 2 chiếc thẻ đỏ.