Dedryck Boyata
|
Tập tin:Bel-Tun (23) 2 (cropped).jpg Boyata thi đấu cho Bỉ tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 | |||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Dedryck Anga Boyata[1] | ||||||||||||||||
| Ngày sinh | 28 tháng 11, 1990 [2] | ||||||||||||||||
| Nơi sinh | Uccle, Bỉ | ||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,88 m[3] | ||||||||||||||||
| Vị trí | Hậu vệ | ||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||
| 2003–2006 | RWDM Brussels | ||||||||||||||||
| 2006–2009 | Manchester City | ||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2009–2015 | Manchester City | 13 | (0) | ||||||||||||||
| 2011–2012 | → Bolton Wanderers (mượn) | 14 | (1) | ||||||||||||||
| 2012–2013 | → Twente (mượn) | 5 | (0) | ||||||||||||||
| 2015–2019 | Celtic | 90 | (12) | ||||||||||||||
| 2019–2022 | Hertha BSC | 70 | (5) | ||||||||||||||
| 2022–2024 | Club Brugge | 16 | (0) | ||||||||||||||
| Tổng cộng | 208 | (18) | |||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||
| 2008–2009 | U-19 Bỉ | 12 | (2) | ||||||||||||||
| 2010–2012 | U-21Bỉ | 11 | (0) | ||||||||||||||
| 2010–2022 | Bỉ | 31 | (0) | ||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia | |||||||||||||||||
Dedryck Anga Boyata (sinh ngày 28 tháng 11 năm 1990) là một cựu cầu thủ bóng đá người Bỉ từng thi đấu ở vị trí trung vệ hoặc hậu vệ phải.
Ông ra mắt đội một Manchester City vào năm 2010 và được bầu là Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của đội trong mùa giải 2009–10. Trong mùa giải 2011–12, ông được cho Bolton Wanderers mượn, và trong nửa đầu mùa giải 2012–13, ông thi đấu tại FC Twente. Năm 2015, ông chuyển đến Celtic với mức phí khoảng 1,5 triệu bảng. Mùa hè năm 2019, Boyata gia nhập Hertha BSC.
Boyata từng khoác áo Bỉ ở cấp độ trẻ và đội tuyển quốc gia, ra mắt đội tuyển quốc gia vào năm 2010. Ông là thành viên đội hình Bỉ giành hạng ba tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Sự nghiệp ban đầu
Sinh tại Uccle, Bỉ, Boyata bắt đầu sự nghiệp trong đội trẻ của Brussels trước khi gia nhập Manchester City vào năm 2006. Ông là thành viên đội trẻ City vô địch FA Youth Cup năm 2008, đá chính trong cả hai lượt trận chung kết trước Chelsea.[4][5] Ông giành giải Cầu thủ xuất sắc nhất tháng của học viện City vào tháng 4 năm 2009.[6] Ông là một trong bảy cầu thủ học viện cùng lứa được đôn lên tập luyện với các cầu thủ đội một từ đầu mùa giải 2009–10.[7]
Manchester City
Boyata ra mắt đội một trong trận gặp Middlesbrough ở vòng Ba Cúp FA vào ngày 2 tháng 1 năm 2010, thi đấu ở vị trí trung vệ và giúp đội giành chiến thắng 1–0 tại Riverside.[8] Trận ra mắt giải vô địch của ông là khi vào sân thay người trước Blackburn Rovers chín ngày sau đó, thay Martin Petrov ở phút 86 trong chiến thắng 4–1 trên sân nhà.[9] Lần đầu đá chính của ông tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh diễn ra trên sân khách trước Hull City vào ngày 6 tháng 2. Ông được vinh danh là cầu thủ trẻ xuất sắc nhất mùa giải 2009–10 nhờ nỗ lực trong cả hai lượt trận bán kết Cúp Liên đoàn trước đối thủ cùng thành phố Manchester United.
Đầu mùa giải 2010–11, ông ghi bàn thứ hai trong trận play-off Europa League gặp FC Timişoara vào ngày 26 tháng 8, bàn thắng đầu tiên của ông cho câu lạc bộ. Phong độ của ông tiếp tục cải thiện và ông được chọn đá chính trước Chelsea vào ngày 25 tháng 9, đội bóng khi đó chưa thua từ đầu mùa. Boyata thi đấu ở vị trí hậu vệ phải và có màn trình diễn tốt khi City giữ sạch lưới để thắng 1–0.[10] Ông bị truất quyền thi đấu chỉ sau năm phút trong thất bại 0–3 trên sân nhà trước Arsenal vào ngày 24 tháng 10, sau pha phạm lỗi với Marouane Chamakh khi là người cuối cùng trước khung thành.[11] Tổng cộng, ông có 17 lần ra sân trong mùa giải và là cầu thủ dự bị không được sử dụng khi Manchester City vô địch Cúp FA 2010–11.[12] Sau đó, Boyata dành phần lớn hai mùa giải tiếp theo thi đấu xa câu lạc bộ theo dạng cho mượn, trước hết tại đội bóng cùng thuộc Premier League Bolton Wanderers rồi sau đó tại Hà Lan với FC Twente.[13]
Các lần cho mượn
Ngày 26 tháng 8 năm 2011, Boyata gia nhập Bolton Wanderers theo hợp đồng cho mượn kéo dài một mùa giải.[14] Ông ra mắt đội hình xuất phát của Bolton Wanderers vào ngày 10 tháng 9, thi đấu trọn trận trong thất bại 0–5 trên sân nhà trước Manchester United.[15] Ngày 2 tháng 10 năm 2011, Boyata ghi bàn đầu tiên cho Bolton Wanderers trong thất bại 1–5 trên sân nhà trước Chelsea.[16] Boyata dính chấn thương mắt cá trong trận thua 0–2 trước Sunderland ngày 22 tháng 10; chấn thương này khiến ông phải nghỉ sáu tuần và theo điều khoản cho mượn, Boyata trở lại Manchester City để điều trị. Ông trở lại đội hình xuất phát của Bolton trong trận gặp Tottenham Hotspur vào ngày 3 tháng 12.
Ngày 31 tháng 8 năm 2012, Boyata rời Manchester City để gia nhập câu lạc bộ Eredivisie của Hà Lan FC Twente theo hợp đồng cho mượn ngắn hạn.[17] Ông có 8 lần ra sân cho FC Twente trước khi trở lại Manchester City vào ngày 8 tháng 1 năm 2013.[18]
Trở lại Manchester City
Boyata có lần đầu ra sân cho Manchester City sau hơn hai năm khi đá chính trong trận vòng Ba Cúp Liên đoàn gặp Wigan Athletic vào ngày 24 tháng 9 năm 2013. Ông giúp đội giữ sạch lưới trong chiến thắng 5–0, và suýt mở tỉ số trong hiệp một bằng một cú đánh đầu bị thủ môn Wigan đẩy qua xà.[19] Ngày 4 tháng 1 năm 2014, ông bị đuổi khỏi sân vì nhận hai thẻ vàng ở vòng Ba Cúp FA, trong trận hòa 1–1 trên sân Blackburn Rovers.[20] Ông không có tên trong danh sách thi đấu của City khi đội đánh bại Sunderland trong chung kết Cúp Liên đoàn.[21] Manchester City vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Anh ở mùa giải 2013–14, nhưng Boyata không đủ điều kiện nhận huy chương vì ông chỉ có một lần ra sân tại giải vô địch trong cả mùa.[22] Ngày 28 tháng 5, Boyata ký hợp đồng gia hạn với Manchester City, dự kiến giữ ông ở lại câu lạc bộ đến năm 2016.[23]
Ngày 10 tháng 8, Boyata thi đấu trọn 90 phút khi City mở màn mùa giải bằng thất bại 0–3 trước Arsenal tại Chung kết FA Community Shield.[24] Tổng cộng, ông có sáu lần ra sân trong mùa giải 2014, với một lần đá chính trong hai trận tại giải vô địch.[13]
Celtic
Boyata ký hợp đồng bốn năm với nhà vô địch Scottish Premiership Celtic vào ngày 2 tháng 6 năm 2015, với mức phí khoảng 1,5 triệu bảng.[25]
Ông ra mắt chính thức vào ngày 15 tháng 7 trong một trận vòng loại Champions League tại Celtic Park gặp Stjarnan, ghi bàn mở tỉ số trong chiến thắng 2–0,[26] và đánh đầu từ quả tạt của Kris Commons để ghi bàn duy nhất ở cuối trận gặp Qarabağ FK hai tuần sau đó tại vòng loại thứ ba.[27] Tuy nhiên, hàng phòng ngự của Celtic nhìn chung chơi kém trong nửa đầu mùa giải, giai đoạn câu lạc bộ không thể giành quyền vào Champions League.[28] Boyata bị chỉ trích riêng vì các màn trình diễn của mình, đáng chú ý là tình huống ông để đối phương hưởng phạt đền sau một pha phạm lỗi "vụng về" trong thất bại 1–2 trên sân Aberdeen,[29] cũng như một số bàn thua trong hành trình của Celtic tại UEFA Europa League.[30]
Boyata không có chỗ trong đội hình ở đầu mùa giải 2016–17, nhưng nỗ lực tập luyện trong phòng gym để cải thiện thể lực.[31] Lần đầu ông đá chính và cũng là lần đầu ra sân trong mùa giải diễn ra ở chiến thắng 1–0 tại Scottish Premiership trên sân Kilmarnock vào ngày 18 tháng 11 năm 2016.[32] Boyata không có lần ra sân thứ hai trong mùa giải cho đến chiến thắng 3–0 tại Cúp bóng đá Scotland trước Albion Rovers vào ngày 22 tháng 1 năm 2017.[33] Ông ghi hai bàn trong ba lần ra sân tiếp theo tại giải vô địch ở Celtic Park,[34] đều là các pha đánh đầu từ tình huống cố định, trong những chiến thắng 1–0 trước St Johnstone và Aberdeen.[35][36] Boyata tái khẳng định vị trí trong đội hình sau khi làm theo lời khuyên của huấn luyện viên Brendan Rodgers: "Ông ấy [Rodgers] chỉ muốn tôi chơi đơn giản và chơi như khi tập luyện, và ông ấy nói rằng mọi thứ sẽ ổn nếu tôi làm theo những gì ông ấy bảo."[37]
Hertha BSC
Tháng 5 năm 2019, Boyata gia nhập Hertha BSC theo dạng chuyển nhượng tự do.[38][39] Ông ra mắt chính thức vào ngày 14 tháng 9, ở vòng đấu thứ tư của giải vô địch quốc nội, trong thất bại 1–2 trước Mainz 05, khi vào sân thay Javairô Dilrosun ở cuối trận.[40] Boyata ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ mới vào ngày 29 tháng 9, ấn định tỉ số trong chiến thắng 4–0 trước 1. FC Köln.[41]
Trước mùa giải 2020–21, Boyata thay Vedad Ibišević làm đội trưởng Hertha.[42]
Club Brugge và giải nghệ
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, Boyata ký hợp đồng ba năm với đội bóng Belgian First Division A Club Brugge.[43]
Boyata không được đăng ký trong đội hình Champions League 2024–25 của Brugge, khiến ông bỏ lỡ cơ hội đối đầu đội bóng cũ Celtic ở giai đoạn giải đấu.[44]
Ngày 3 tháng 1 năm 2025, ông rời câu lạc bộ theo thỏa thuận chung.[45]
Boyata tuyên bố giải nghệ bóng đá vào ngày 12 tháng 8 năm 2025.[46]
Sự nghiệp quốc tế
Các đội trẻ
Boyata thi đấu 12 trận cho đội U-19 Bỉ, ghi hai bàn. Boyata ra mắt đội U-21 Bỉ trong chiến thắng 1–0 trước Malta vào ngày 3 tháng 3 năm 2010.[47] Năm tháng sau, ông lần đầu được triệu tập lên đội tuyển quốc gia khi có tên trong đội hình dự trận giao hữu gặp Phần Lan.[48] Ông tiếp tục thể hiện một số màn trình diễn ấn tượng khi được đôn lên thành cầu thủ đội một chính thức của Manchester City.
Đội tuyển quốc gia
Huấn luyện viên đội tuyển Bỉ Georges Leekens chọn Boyata cho hai trận vòng loại Euro 2012 gặp Kazakhstan và Áo vào cuối năm 2010.[49] Ông không thi đấu trước Kazakhstan, nhưng ra mắt trước Áo vào ngày 10 tháng 10 năm 2010, khi vào sân thay Toby Alderweireld sau giờ nghỉ trong trận hòa 4–4.[13] Ông được triệu tập cho trận giao hữu gặp Slovenia vào tháng 8 năm 2011, nhưng không thi đấu.[50]
Ông được gọi trở lại đội tuyển Bỉ vào tháng 10 năm 2015 cho các trận vòng loại Euro 2016 gặp Andorra và Israel.[51] Ông không thi đấu trong cả hai trận này, nhưng lại được triệu tập cho trận giao hữu gặp Bồ Đào Nha vào ngày 29 tháng 3 năm 2016.[50] Ông có lần khoác áo thứ hai trong trận đấu đó khi vào sân thay Jason Denayer ở phút 86.[50][52]
Tháng 5 năm 2018, ông có tên trong đội hình sơ bộ của Bỉ tham dự vòng chung kết World Cup tại Nga.[53] Ngày 4 tháng 6 năm 2018, Boyata có tên trong đội hình 23 cầu thủ của Bỉ tại World Cup 2018.[54] Ông thi đấu trọn vẹn các trận vòng bảng của Bỉ tại World Cup 2018, nhưng không được sử dụng ở vòng đấu loại trực tiếp khi Bỉ kết thúc giải ở vị trí thứ ba.[55][56]
Tháng 6 năm 2021, Boyata được triệu tập vào đội hình 23 cầu thủ cuối cùng của Bỉ tham dự Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020. Ông thi đấu 2 trận tại giải.[57]
Đời tư
Boyata đến từ Uccle, một vùng ngoại ô của Bruxelles,[58] và được biết là có mối quan hệ tốt với cựu đồng đội tại Manchester City và đội tuyển Bỉ Vincent Kompany.[59] Cha ông, Bienvenu Mandungu Boyata, là một cựu cầu thủ bóng đá người Congo, từng thi đấu tại Bỉ trong thập niên 1990 cho Union Saint-Gilloise và Stade Leuven.[60]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 4 tháng 2 năm 2024[13]
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp quốc gia | Cúp Liên đoàn | Châu Âu | Khác | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Manchester City | 2009–10[61] | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 3 | 0 | 2 | 0 | 2 | 0 | — | — | 7 | 0 | ||
| 2010–11[62] | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 7 | 0 | 2 | 0 | 1 | 0 | 6[a] | 1 | — | 16 | 1 | ||
| 2013–14[63] | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 1 | 0 | 1 | 0 | 4 | 0 | 0 | 0 | — | 6 | 0 | ||
| 2014–15[64] | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 2 | 0 | 2 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 1[b] | 0 | 6 | 0 | |
| Tổng cộng | 13 | 0 | 7 | 0 | 8 | 0 | 6 | 1 | 1 | 0 | 35 | 1 | ||
| Bolton Wanderers (mượn) | 2011–12[65] | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 14 | 1 | 3 | 0 | 0 | 0 | — | — | 17 | 1 | ||
| Twente (mượn) | 2012–13[66] | Eredivisie | 5 | 0 | 0 | 0 | — | 3[a] | 0 | — | 8 | 0 | ||
| Celtic | 2015–16[67] | Scottish Premiership | 26 | 4 | 2 | 0 | 2 | 0 | 12[c] | 2 | — | 42 | 6 | |
| 2016–17[67] | Scottish Premiership | 17 | 5 | 5 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | — | 22 | 5 | ||
| 2017–18[67] | Scottish Premiership | 28 | 2 | 3 | 1 | 3 | 0 | 5[d] | 0 | — | 39 | 3 | ||
| 2018–19[67] | Scottish Premiership | 19 | 1 | 3 | 0 | 2 | 0 | 8[a] | 0 | — | 32 | 1 | ||
| Tổng cộng | 90 | 12 | 13 | 1 | 7 | 0 | 25 | 2 | — | 135 | 15 | |||
| Hertha BSC | 2019–20[68] | Bundesliga | 28 | 4 | 1 | 0 | — | — | — | 29 | 4 | |||
| 2020–21[69] | Bundesliga | 19 | 1 | 0 | 0 | — | — | — | 19 | 1 | ||||
| 2021–22[70] | Bundesliga | 23 | 0 | 2 | 0 | — | — | 2[e] | 1 | 27 | 1 | |||
| 2022–23[71] | Bundesliga | 0 | 0 | 1 | 0 | — | — | — | 1 | 0 | ||||
| Tổng cộng | 70 | 5 | 4 | 0 | — | — | 2 | 1 | 76 | 6 | ||||
| Club Brugge | 2022–23 | Belgian Pro League | 11 | 0 | 0 | 0 | — | 3[d] | 0 | — | 14 | 0 | ||
| 2023–24 | Belgian Pro League | 5 | 0 | 3 | 0 | — | 4[f] | 1 | — | 12 | 1 | |||
| Tổng cộng | 16 | 0 | 3 | 0 | — | 7 | 1 | — | 26 | 1 | ||||
| Tổng cộng sự nghiệp | 208 | 18 | 30 | 1 | 15 | 0 | 41 | 4 | 3 | 1 | 297 | 24 | ||
- ^ a b c Lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ Lần ra sân ở FA Community Shield
- ^ Sáu lần ra sân và hai bàn thắng ở UEFA Champions League, sáu lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ a b Lần ra sân ở UEFA Champions League
- ^ Lần ra sân ở Bundesliga relegation
- ^ Lần ra sân ở UEFA Europa Conference League
Quốc tế
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 11 tháng 6 năm 2022[72]
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Bỉ | 2010 | 1 | 0 |
| 2016 | 1 | 0 | |
| 2017 | 2 | 0 | |
| 2018 | 11 | 0 | |
| 2019 | 2 | 0 | |
| 2020 | 4 | 0 | |
| 2021 | 7 | 0 | |
| 2022 | 3 | 0 | |
| Tổng cộng | 31 | 0 | |
Danh hiệu
U-18 Manchester City
Manchester City
Celtic
- Scottish Premiership: 2015–16, 2016–17, 2017–18, 2018–19
- Cúp bóng đá Scotland: 2016–17, 2017–18
- Cúp Liên đoàn bóng đá Scotland: 2017–18,[74] 2018–19
Club Brugge
Bỉ
- Hạng ba Giải vô địch bóng đá thế giới: 2018
Cá nhân
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của Manchester City: 2010[75]
- Đội hình tiêu biểu của PFA Scotland: Scottish Premiership 2018–19[76]
Tham khảo
- ^ "FIFA World Cup Russia 2018: List of Players: Belgium" (PDF). FIFA. ngày 15 tháng 7 năm 2018. tr. 3. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2019.
- ^ "Dedryck Boyata: Overview". ESPN. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Dedryck Boyata: Overview". Premier League. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2021.
- ^ Pickup, Oliver (ngày 4 tháng 4 năm 2008). "FA Youth Cup Final: Man City have the edge". The Telegraph. London. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010.
- ^ Ogden, Mark (ngày 17 tháng 4 năm 2008). "FA Youth Cup: Manchester City beat Chelsea good and proper!!". The Telegraph. London. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010.
- ^ "Brazil ace collects April Thomas Cook acolade [sic]". Official website. Manchester City FC. ngày 18 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010.
- ^ "City's Likely Lads". Manchester Evening News. ngày 17 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2014.
- ^ "Jonge Belg Dedryck Boyata voor het eerst in basis Manchester City". Gazet Van Antwerpen (bằng tiếng Hà Lan). Concentra Media. ngày 2 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2010.
- ^ "Man City 4-1 Blackburn". ngày 11 tháng 1 năm 2010 – qua news.bbc.co.uk.
- ^ "City 1–0 Chelsea". mcfc.co.uk. Manchester City FC. ngày 25 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010.
- ^ "Man City 0–3 Arsenal". BBC News. ngày 24 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b McNulty, Phil (ngày 14 tháng 5 năm 2011). "Man City 1 – 0 Stoke". BBC Sport. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2015.
- ^ a b c d e "D. Boyata". Soccerway. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018.
- ^ "Boyata (mượn)ed to Bolton for rest of the season". Official website. Manchester City FC. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2011.
- ^ "Premier League (Sky Sports)". SkySports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2018.
- ^ "Bolton 1-5 Chelsea" (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2018.
- ^ "Boyata completes FC Twente (mượn) switch". Official website. Manchester City FC. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2014.
- ^ "Manchester City recall Dedryck Boyata from (mượn) spell at FC Twente". The Guardian. ngày 8 tháng 1 năm 2013.
- ^ "Man City 5 – 0 Wigan". BBC Sport. ngày 24 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015.
- ^ Bevan, Chris (ngày 4 tháng 1 năm 2014). "Blackburn Rovers 1 – 1 Man City". BBC Sport. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015.
- ^ McNulty, Phil (ngày 2 tháng 3 năm 2014). "Man City 3 – 1 Sunderland". BBC Sport. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015.
- ^ "Trận thi đấu của Dedryck Boyata trong 2013/2014". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2014.
- ^ "Boyata signs new deal". Official website. Manchester City FC. ngày 28 tháng 5 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2014.
- ^ Sanghera, Mandeep (ngày 10 tháng 8 năm 2014). "Arsenal 3–0 Man City". BBC Sport. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2014.
- ^ "Dedryck Boyata: Celtic sign Manchester City defender". BBC Sport. ngày 2 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2015.
- ^ "Celtic 2 – 0 Stjarnan". BBC Sport. ngày 15 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Celtic 1–0 FK Qarabag". BBC Sport. ngày 29 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2015.
- ^ Murray, Ewan (ngày 1 tháng 10 năm 2015). "Celtic pay price for defensive lapses to let Fenerbahce claim a draw". The Guardian. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2020.
- ^ Moffat, Colin (ngày 12 tháng 9 năm 2015). "Aberdeen 2-1 Celtic". BBC Sport. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2020.
- ^ Halliday, Stephen (ngày 5 tháng 11 năm 2015). "Celtic: Ambrose and Boyata in line to face Molde". The Scotsman. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2015.
- ^ Cameron, Neil (ngày 18 tháng 2 năm 2017). "The life story of Celtic defender Dedryck Boyata makes your root for a man who came from nothing". Herald Scotland. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2019.
- ^ "Kilmarnock 0-1 Celtic". BBC Sport. ngày 17 tháng 11 năm 2016.
- ^ "Albion Rovers 0-3 Celtic: It's three and easy for Celtic". Scotsman. ngày 22 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2017.
- ^ "Trận thi đấu của Dedryck Boyata trong 2016/2017". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
- ^ "Celtic 1:0 St Johnstone". BBC. ngày 25 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2017.
- ^ "Celtic 1:0 Aberdeen". BBC. ngày 1 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017.
- ^ "Brendan Rodgers told me to keep it simple, says Celtic defender Dedryck Boyata". The Sunday Post. ngày 24 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2019.
- ^ "Dedryck Boyata: Celtic defender signs for Hertha Berlin". BBC News. ngày 19 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2019.
- ^ "Hertha BSC verpflichtet Boyata" (bằng tiếng Đức). Hertha BSC. ngày 20 tháng 5 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2019.
- ^ "Mainz vs. Hertha Berlin – 14 tháng 9 năm 2019". Soccerway. Perform Group. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2022.
- ^ "Hertha routs 10-man Cologne 4-0, Freiburg moves 3rd". Fox Sports. ngày 29 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2020.
- ^ "Ibisevic-Nachfolger gefunden: Boyata neuer Hertha-Kapitän". kicker (bằng tiếng Đức). ngày 22 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2022.
- ^ "Red Devil Dedryck Boyata signs deal với Club" (bằng tiếng Anh). Club Brugge KV. ngày 22 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2022.
- ^ McDermott, Scott (ngày 24 tháng 11 năm 2024). "Celtic Invincible's pain at missing Parkhead return in Champions League". Daily Record.
- ^ Former Celtic treble winner left without a club as contract terminated
- ^ https://onefootball.com/en/news/former-hertha-berlin-celtic-and-manchester-city-defender-dedryck-boyata-retires-from-football-at-the-age-of-34-41503025.
{{Chú thích web}}:|title=trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ|U-21 title=(trợ giúp) - ^ "EK-kwalificatiewedstrijd: België – Malta 1–0". footbel.be. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2010.
- ^ "First senior call-up for Boyata". Official website. Manchester City FC. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Belgian FA – Boyata caps". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b c "Dedryck Boyata". Royal Belgian Football Association. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015.
- ^ "Belgium make sweeping changes for Euro 2016 double-header". Sky Sports. ngày 2 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2015.
- ^ "Portugal 2 - 1 Belgique". Royal Belgian Football Association. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2016.
- ^ "World Cup 2018: Belgium announce initial 28-man tại for Russia". The Independent. ngày 21 tháng 5 năm 2018.
- ^ "Kompany included but Benteke misses out". BBC Sport. ngày 4 tháng 6 năm 2018.
- ^ Online, Record Sport (ngày 2 tháng 7 năm 2018). "Dedryck Boyata dropped from Belgium side for World Cup last 16 clash với Japan". dailyrecord. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2018.
- ^ "Belgium defeats England 2-0 in third place match at FIFA World Cup". Business Insider (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2018.
- ^ UEFA.com. "Dedryck Boyata - Belgium - UEFA EURO 2020". UEFA (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2021.[liên kết hỏng]
- ^ "Dedryk Boyata, la surprise belge de Roberto Mancini à Manchester City" (bằng tiếng Pháp). actu24. ngày 2 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2010.
- ^ "Boyata : " Kompany m'aide beaucoup "". Footgoal.net. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010.
- ^ "Dedryck Boyata, l'option back droit de Georges Leekens?". Sport Foot Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010.
- ^ "Trận thi đấu của Dedryck Boyata trong 2009/2010". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Trận thi đấu của Dedryck Boyata trong 2010/2011". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Trận thi đấu của Dedryck Boyata trong 2013/2014". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Trận thi đấu của Dedryck Boyata trong 2014/2015". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Trận thi đấu của Dedryck Boyata trong 2011/2012". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Trận thi đấu của Dedryck Boyata trong 2012/2013". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2015.
- ^ a b c d "Dedryck Boyata | Football Stats | Celtic | Age 24 | Soccer Base". www.soccerbase.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2015.
- ^ "Trận thi đấu của Dedryck Boyata trong 2019/2020". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
- ^ "Trận thi đấu của Dedryck Boyata trong 2020/2021". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2020.
- ^ 53095&season_id=154 "Trận thi đấu của Dedryck Boyata trong 2021/2022". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2021.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị|url=(trợ giúp) - ^ "Trận thi đấu của Dedryck Boyata trong 2022/2023". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Dedryck Boyata". EU-Football.info. ngày 30 tháng 10 năm 2018.
- ^ "CITY WIN FA YOUTH CUP". mancity.com. Manchester City. ngày 16 tháng 4 năm 2008.
- ^ "Motherwell 0 - 2 Celtic". BBC Sport. BBC. ngày 26 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2017.
- ^ "Boyata's Young Player of the Year Award" (bằng tiếng Anh). ManCity. ngày 21 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2021.
- ^ "James Forrest, Steve Clarke & Ryan Kent win PFA Scotland annual awards". BBC Sport. ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2019.
Liên kết ngoài
- Hồ sơ tại trang web Club Brugge KV
- Dedryck Boyata tại Hiệp hội bóng đá Hoàng gia BỉLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Dedryck Boyata – Thành tích thi đấu tại UEFALỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Dedryck Boyata – Thành tích thi đấu FIFALỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
Bản mẫu:Đội hình tiêu biểu Scottish Premiership 2018–19 của PFA Scotland
- Trang có lỗi kịch bản
- Nguồn CS1 tiếng Hà Lan (nl)
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Nguồn CS1 tiếng Đức (de)
- Lỗi CS1: tham số không rõ
- Lỗi CS1: thiếu tiêu đề
- Lỗi CS1: URL trần
- Bài có liên kết hỏng
- Nguồn CS1 tiếng Pháp (fr)
- Lỗi CS1: URL
- Bài có mô tả ngắn
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Hộp thông tin bản mẫu huy chương cần sửa chữa
- Trang sử dụng infobox3cols có các tham số không có tài liệu
- Sinh năm 1990
- Nhân vật còn sống
- Cầu thủ bóng đá Brussels
- Cầu thủ bóng đá nam Bỉ
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá trẻ nam quốc gia Bỉ
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá U-21 nam quốc gia Bỉ
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ
- Hậu vệ bóng đá nam
- Cầu thủ bóng đá R.W.D.M. Brussels F.C.
- Cầu thủ bóng đá Manchester City F.C.
- Cầu thủ bóng đá Bolton Wanderers F.C.
- Cầu thủ bóng đá FC Twente
- Cầu thủ bóng đá Celtic F.C.
- Cầu thủ bóng đá Hertha BSC
- Cầu thủ bóng đá Club Brugge KV
- Cầu thủ bóng đá Premier League
- Cầu thủ bóng đá Eredivisie
- Cầu thủ bóng đá Scottish Professional Football League
- Cầu thủ bóng đá Bundesliga
- Cầu thủ bóng đá Belgian Pro League
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020
- Cầu thủ bóng đá nam Bỉ ở nước ngoài
- Nhân vật thể thao Bỉ ở nước ngoài tại Anh
- Nhân vật thể thao Bỉ ở nước ngoài tại Hà Lan
- Nhân vật thể thao Bỉ ở nước ngoài tại Scotland
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Anh
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Hà Lan
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Scotland
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Đức
- Người Bỉ gốc Cộng hòa Dân chủ Congo
- Nhân vật thể thao gốc Cộng hòa Dân chủ Congo
- Nam vận động viên Bỉ thế kỷ 21
- Nhân vật thể thao Bỉ ở nước ngoài tại Đức