Bước tới nội dung

R-33

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
R-33
Tập tin:AA-9-Amos.png
Sơ đồ tên lửa R-33
LoạiTên lửa không đối không tầm xa
Nơi chế tạoLiên Xô
Thông số
Khối lượng490 kg (1.080 lb)
Chiều dài4,14 m (13 ft 7 in)
Đường kính380 mm (15 in)
Đầu nổ47,5 kg (105 lb)

Động cơĐộng cơ tên lửa nhiên liệu rắn
Sải cánh1,12 m (3 ft 8 in)
Tầm hoạt động120 km (75 mi) - 1981[1]
160 km (99 mi) - 1999[2]
304 km (189 mi) - 2012[3]
Tốc độMach 4,5 (R-37)[4]
Hệ thống chỉ đạoQuán tínhtự dẫn radar bán chủ động.

R-33 (tiếng Nga: Вымпел Р-33, tên định danh NATO: AA-9 Amos) là một loại tên lửa không đối không tầm xa được phát triển bởi Vympel NPO. Đây là vũ khí trang bị chính của máy bay tiêm kích đánh chặn MiG-31, được thiết kế để tấn công các mục tiêu lớn có tốc độ cao như SR-71 Blackbird, máy bay ném bom B-1 LancerB-52 Stratofortress.

Tên lửa sử dụng sự kết hợp giữa dẫn đường quán tính cho giai đoạn đầu (giữa hành trình), sau đó là tự dẫn radar bán chủ động khi mục tiêu nằm trong tầm quét của đầu dò radar.[5] Hệ thống radar mảng pha Zaslon của MiG-31 cho phép điều khiển đồng thời sáu tên lửa tấn công các mục tiêu riêng biệt.

Tên lửa không đối không R-33 hiện vẫn đang phục vụ trong lực lượng quân đội của SNG và Nga.

Phát triển

Lịch sử của tên lửa R-33 gắn liền chặt chẽ với câu chuyện về "nền tảng" phóng nó: MiG-31. Việc phát triển phiên bản hiện đại hóa của MiG-25, mang mã hiệu E-155MP, đã được phê duyệt theo quyết định của chính phủ vào ngày 24 tháng 5 năm 1968. Một cuộc thi thiết kế tên lửa tương lai cho E-155MP đã được tổ chức. Dự án Izdeliye 410 của đơn vị "Vympel" (đứng đầu là A.L. Lyapin) đã giành chiến thắng, trong khi dự án K-50 của PKPK (đứng đầu là M.R. Bisnovat) thất bại. Tên lửa được đặt tên phát triển là K-33, tiếp nối các dòng tên lửa K-13 và K-23. Quá trình phát triển do Phó thiết kế trưởng V.V. Zhuravlev và thiết kế trưởng dẫn dắt Y.K. Zakharov điều hành.

Sự kết hợp giữa tên lửa R-33 và máy bay đánh chặn MiG-31 có nhiều điểm tương đồng với sự kết hợp Bisnovat R-40/MiG-25 trước đó, mặc dù hệ thống mới linh hoạt và hiện đại hơn nhiều. MiG-25 vốn được chuyên biệt hóa cao độ cho việc đánh chặn các mục tiêu siêu thanh cỡ lớn như máy bay ném bom North American XB-70 Valkyrie (dự án sau đó đã bị hủy bỏ), do đó nó thiếu khả năng cơ động và không phù hợp cho các cuộc không chiến quần vòng. Ngược lại, MiG-31 là một máy bay linh hoạt, đa năng hơn và vẫn có khả năng sử dụng các dòng tên lửa R-40 cũ.

Hai nguyên mẫu đầu tiên được chế tạo vào năm 1968, sở hữu các cánh cơ động gắn ở mũi và được dự định lắp trên các giá treo dưới cánh, tương tự như cách bố trí Bisnovat R-40 trên MiG-25.

Dự án sơ thảo hoàn thành vào năm 1970 và chuyển sang giai đoạn thử nghiệm trên các máy bay thử nghiệm. Một trong số đó là chiếc MiG-25 phiên bản đầu được hoán cải (máy bay P-10), dùng để thử nghiệm các lần phóng tự hành từ giá treo APU-40 nâng cấp vào năm 1972. Một chiếc MiG-21 (số hiệu 76211524) đã được chuyển đổi thành máy bay thử nghiệm LL-21 để kiểm tra đầu dò tên lửa, trong khi một chiếc máy bay phản lực dân dụng Tupolev Tu-104 (số hiệu 42324) được NTK "Vzlet" hoán cải thành LL-104-518 (còn gọi là LL-2) để thử nghiệm radar MFBU-410/"Zaslon" cùng với các đầu dò tên lửa được gắn trên các mô hình GVM-410. Không gian rộng rãi trên máy bay dân dụng cho phép mang theo lượng lớn thiết bị chẩn đoán và hỗ trợ.

K-33 đã được đánh giá với cả đầu dò radar bán chủ động (SARH) RGS-33 và đầu dò hồng ngoại (IR) TGS-33. Các ứng viên khác bao gồm đầu dò radar chủ động và đầu dò hỗn hợp hồng ngoại/radar. Quyết định cuối cùng được đưa ra là chọn phương án tự dẫn radar bán chủ động kết hợp với giai đoạn đầu dẫn đường bằng quán tính. Thiết bị tự dẫn, mang định danh MFBU-410, được phát triển bởi B.I. Ermakov dưới sự giám sát của Akopyan.

Thiết kế của tên lửa đã thay đổi đáng kể vào cuối năm 1972. Đầu dò và đầu đạn được mở rộng, sải cánh điều khiển giảm từ 1100 mm xuống 900 mm. Hơn nữa, hệ thống lắp đặt được sửa đổi để sử dụng các giá treo áp bụng (slipper pylon) mới, tương tự như cách lắp tên lửa Phoenix trên chiếc F-14 của Mỹ. Tên lửa được tái định hướng để các cánh lắp theo hình chữ thập thay vì hình chữ X; các cánh ở phía sát thân máy bay được thiết kế để có thể gập lại, nằm áp sát vào bụng máy bay phóng. Do đó, phương pháp phóng tên lửa cũng cần thay đổi: thay vì phóng trực tiếp từ giá treo, thiết kế mới sử dụng phương pháp "phóng rơi" – tên lửa được tách khỏi giá treo trước, sau đó động cơ tên lửa mới khai hỏa sau một khoảng thời gian trễ.

Một đợt sản xuất nhỏ bao gồm 1 tên lửa mô hình (thử nghiệm hệ thống phóng), 5 tên lửa "lập trình" (chỉ có hệ thống dẫn đường và động cơ, không có đầu đạn) và 8 tên lửa thử nghiệm đầy đủ chức năng đã được chế tạo theo thiết kế mới trước cuối năm 1972. Trong số đó, 3 quả đã được phóng từ máy bay thử nghiệm MiG-25P-10 vào năm 1973. Các loại đầu đạn khác nhau (đạn nổ mảnh và đầu đạn thanh văng liên tục) đã được đánh giá, đồng thời các thử nghiệm hệ thống radar và đầu dò được tiến hành trên máy bay LL-2. Năm 1974 ghi nhận thêm 11 lần phóng thử từ MiG-25P-10 và sản xuất thêm 40 tên lửa thử nghiệm. Các bộ phóng AKU-33 và đầu đạn B-410 đầu tiên đã được chế tạo. Các thử nghiệm hệ thống "Zaslon" tiếp tục tại Akhtubinsk bằng máy bay LL-2.

Chuyến bay đầu tiên của chiếc MiG-31 tương lai (máy bay số 831) diễn ra vào ngày 16 tháng 9 năm 1975, với thêm 12 chuyến bay nữa vào cuối năm đó. Máy bay thử nghiệm MiG-25P-10 đã phóng thêm 20 tên lửa thử nghiệm trước khi được gửi đi nâng cấp bộ phóng, và các lần phóng tên lửa đo lường từ xa đầu tiên từ LL-2 cũng được thực hiện trong năm đó.

Quá trình phát triển tiếp tục vào năm 1976, bao gồm các lần phóng tại mục tiêu dù PRM-2 vào tháng 4. Các thử nghiệm tại nhà máy hoàn thành vào năm 1977 với 32 lần phóng từ nguyên mẫu MiG-31 (lần phóng đầu tiên nhắm vào bia bay không người lái MiG-17 vào ngày 26 tháng 3 năm 1977). Hệ thống dẫn đường được cải thiện trong năm 1978, và tổ hợp radar/tên lửa đã thực hiện thành công lần phóng đồng thời vào 4 mục tiêu vào tháng 8.

Các cuộc thử nghiệm cấp nhà nước bắt đầu vào tháng 3 năm 1979 sử dụng máy bay MiG-31 số hiệu 83210 và hoàn thành xuất sắc vào năm 1980. Quyết định của chính phủ vào ngày 6 tháng 5 năm 1981 đã chính thức khuyến nghị đưa R-33 vào biên chế.

Các biến thể

Tập tin:Р-33Э - МАКС-2009 01.jpg
Tên lửa R-33E tại triển lãm hàng không MAKS

[6]

Thông số R-33 R-33S R-33E
Tầm phóng tối đa (km) 120 160 160
Vận tốc bay tối đa (Số Mach) 4,5 4,5
Chiều dài (mm) 4250 4150
Đường kính thân lớn nhất (mm) 380 380
Sải cánh (mm) 900 900
Sải cánh lái (mm) 1180 1180
Trọng lượng khi phóng (kg) 491 490
Trọng lượng đầu đạn (kg) 55 47
Khả năng chịu quá tải của mục tiêu 8g
Vận tốc tối đa của mục tiêu (km/h) 3700
R-33
Biến thể tiêu chuẩn.
R-33S
Phiên bản cải tiến (trang bị đầu đạn hạt nhân).
R-33E
Phiên bản xuất khẩu.
R-37
Phiên bản phát triển tiếp theo của dòng R-33.

Tham khảo

  1. ^ "AA-9 AMOS". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015.
  2. ^ "УР Р-33". Bản gốc lưu trữ 27 tháng 10 2014.
  3. ^ "МиГ-31БМ получат новую ракету". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2015.
  4. ^ "Управляемая ракета большой дальности Р-33 (К-33) | Ракетная техника". rbase.new-factoria.ru. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2016.
  5. ^ Gordon 2004, tr. 64: "Tầm bắn xa đạt được nhờ hệ thống dẫn đường hai giai đoạn, với dẫn đường quán tính và hiệu chỉnh giữa hành trình ở giai đoạn đầu, tiếp theo là tự dẫn radar bán chủ động..."
  6. ^ "Управляемая ракета большой дальности Р-33 (К-33) | Ракетная техника". rbase.new-factoria.ru. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2016.

Nguồn

  • Gordon, Yefim (2004). Soviet/Russian Aircraft Weapons Since World War Two. Hinckley, England: Midland Publishing. ISBN 1-85780-188-1.

Liên kết ngoài