Bước tới nội dung

Bản Nguyên

21°15′35″B 105°18′48″Đ / 21,25972°B 105,31333°Đ / 21.25972; 105.31333
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bản Nguyên
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngĐông Bắc Bộ
TỉnhPhú Thọ
Lịch sử hình thành
Thành lập16 tháng 6 năm 2025[1]
Địa lý
Tọa độ: 21°15′35″B 105°18′48″Đ / 21,25972°B 105,31333°Đ / 21.25972; 105.31333
Bản Nguyên trên bản đồ Việt Nam
Bản Nguyên
Bản Nguyên
Vị trí xã Bản Nguyên trên bản đồ Việt Nam
Diện tích26,15 km²
Dân số (2025)
Tổng cộng38.963 người
Mật độ1.490 người/km²
Khác
Mã hành chính08527
Websitebannguyen.phutho.gov.vn

Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam/cat

Bản Nguyên là một thuộc tỉnh Phú Thọ, Việt Nam.

Địa lý

Xã Bản Nguyên nằm ở phía trung tâm tỉnh Phú Thọ, có vị trí địa lý:

Xã Bản Nguyên có diện tích 26,15 km², dân số năm 2025 là 38.963 người, mật độ dân số đạt 1.490 người/km².[2]

Hành chính

Xã Bản Nguyên được chia thành 20 thôn: Cao Lĩnh, Cao Xá 1, Cao Xá 2, Cống Á, Dục Mỹ, Đình Nụ, Hạ Trang, Phù Phong, Quỳnh Lâm 1, Quỳnh Lâm 2, Quỳnh Lâm 3, Thành Chu, Tiện Nội, Trịnh Xá, Văn Điểm, Vĩnh Lại, Vĩnh Lại 1, Vĩnh Mộ 1, Vĩnh Mộ 2, Vĩnh Tường.[3]

Lịch sử

Trước đây, địa bàn của xã Bản Nguyên là địa bàn của ba xã: Cao Xá, Vĩnh Lại và Bản Nguyên thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Thời phong kiến

Khu vực xã Cao Xá cũ

Từ giữa thời Bắc thuộc lần 2, Tổng Cao Xá đã có người sinh sống ở các làng Sơn Vi, Cẩm Đội, Thụy Vân, Mạc Cả, Phù Phong. Thời 12 sứ quân, thủ lĩnh Nguyễn Khoan từ Yên Lạc, Vĩnh Phúc đến nơi này chiếm giữ, lập thêm các làng Tề Lễ, Dục Mỹ và Vĩnh Mỗ để hình thành đất Cao Xá đến ngày nay là một phần của xã Bản Nguyên/

Thời Đinh, Tiền Lê, Tổng Cao Xá là phụ cận Thành Phong Châu. Thời Lý, Trần Tổng Cao Xá thuộc Lộ Tam Giang (Lộ: tương đương cấp tỉnh). Thời Lê - Mạc - Lê Trung Hưng, Lê - Trịnh, Tổng Cao Xá thuộc Trấn Sơn Tây. Triều Nguyễn phân chia cấp tỉnh, tổng Cao Xá thuộc huyện Sơn Vi, Phủ Lâm Thao, Tỉnh Sơn Tây. Tổng Cao Xá gồm có 8 làng: Cao Xá, Dục Mỹ, Sơn Vi, Tề Lễ, Thụy Vân, Cẩm Đội, Phù Phong, Vĩnh Mộ.

Khu vực xã Bản Nguyên cũ

Xưa, nơi đây có tên (chiềng) chạ Bãi Á(稏 地- Bãi Lúa) hay trang Bãi Á.

Thời Khúc Hạo (860-917), đổi (chiềng) chạ thành xã.

Thời Minh Mạng (1824), hướng Hán Việt, đổi thành xã Á Nguyên (稏 原- Đồng Lúa), năm 1832 đổi tiếp thành Bản Nguyên (本原- Gốc Đồng Bằng, Cánh Đồng Gốc, của đồng bằng Bắc bộ). Từ năm 1946 đến 1964, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đổi tên thành xã Hùng Tiến. Sau năm 1964, sử dụng lại tên xã Bản Nguyên.

Thần tích trang Bãi Á[4] (ứng với phần đất Bản nguyên cổ) viết, "Tương truyền, (sau khi đánh đuổi quân Thục Phán), …, Hùng Duệ vương sắc phong Ba vị Phúc thần (Tam vị Đại vương, cùng hợp sức với Tản Viên Sơn Thánh) là: Tá Lang linh ứng Đại vương,[5] Đương Cương hiển ứng Đại vương[6] và Hương Thụy hiển ứng Đại vương[7] Đặc biệt Quốc Tổ ban tặng 15 chữ vàng quý hiếm: 三 位 濟 世 護 國 保 境 顯 佑大王上 等 神, (Tam vị tế thế hộ quốc bảo cảnh hiển hựu Đại vương thượng đẳng thần). Từ đó, làng có mỹ tục kiêng 6 âm húy thánh:[8] tá, lang, đương, cương, hương, thụy[9].

Nối tục các thời Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê Thái tổ sắc phong…". Trong dân cư, củ khoai lang phải gọi là củ muống, đương chức nói là đang chức, thắp hương nói là thắp nhang...; Con dân không lấy tên trùng với 6 âm húy.[10]

Thời kỳ thuộc Pháp

Năm 1903, thực dân Pháp thành lập tỉnh Phú Thọ. tổng Cao Xá trực thuộc huyện Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ. Năm 1927, tổng Cao Xá giảm bớt một làng Sơn Vi, trả về Lâm Thao. Năm 1929, tổng Cao Xá chuyển làng Cẩm Đội và làng Thụy Vân sang tổng Minh Nông (thuộc huyện Phù Ninh, phủ Vĩnh Tường).

Thời kỳ Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xóa bỏ cấp tổng, mở rộng phạm vi cấp xã, xã mới Hùng Thao được thành lập trên cơ sở tổng Cao Xá với 5 thôn làng cũ là Dục Mỹ, Cao Xá, Phù Phong, Tề Lễ, Vĩnh Mộ.

Năm 1948, Pháp về phá hoại các thôn làng của xã Hùng Thao, nhân dân Hùng Thao đã lập Làng Cao Xá trở thành Làng Kháng chiến, Ngai thần của các đình của các xóm được đem lên làng Cao Xá để chạy giặc. Đình chùa và nhà dân ở các thôn làng ngoại trừ làng kháng chiến của xã Hùng Thao đều bị đốt phá. Riêng thôn Tề Lễ vì có nhà thờ Kitô nên đốt tới nhà thờ thì giặc pháp thôi không đốt nữa. Ba gia đình góc sau nhà thờ không bị đốt là nhà ông Tô Tiến Phương, nhà ông Tô Tiến Bích và nhà ông Chu Văn Thành.

Năm 1962, huyện Hạc Trì giải thể, đến tháng 6 năm 1962 thành lập thành phố Việt Trì, xã Hùng Thao trở về thuộc huyện Lâm Thao.

Cuối năm 1964, thi hành Quyết định số 292-NV của Bộ Nội vụ về việc đổi tên một số xã thuộc tỉnh Phú Thọ, xã Hùng Thao được đổi tên thành xã Cao Xá.

Năm 1991, các Ngai thần của các đình chuyển về từ đình Cao Xá. Một số đình chùa bị thực dân Pháp đốt sau không khôi phục lại nữa bao gồm đình Dương Khê, Đình Nam Nhạc, Đình Tề Lễ.[11]

Thời hiện đại

Ngày 16 tháng 6 năm 2025:

  • Quốc hội ban hành Nghị quyết số 203/2025/QH15 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 16 tháng 6 năm 2025).[12] Theo đó, kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện trong cả nước từ ngày 1 tháng 7 năm 2025.
  • Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1676/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Phú Thọ năm 2025 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 16 tháng 6 năm 2025).[13] Theo đó, sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Cao Xá, Vĩnh Lại và Bản Nguyên thành xã mới có tên gọi là xã Bản Nguyên.

Sau khi thực hiện sắp xếp, xã Bản Nguyên được chia thành 41 khu: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 (xã Bản Nguyên cũ), 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15 (xã Cao Xá cũ), 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 (xã Vĩnh Lại cũ).[14]

Văn hóa

Xã có nghề truyền thống đan lưới, tuy nhiên gần đây không còn được phát triển. Đồng thời, xã có Đền Lời được xếp hạng di tích.

Tại khu vực Cao Xá cũ, trong những năm 1965 - 1975, các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật ở bốn địa điểm nhiều công cụ sản xuất bằng đá thuộc nền văn hóa Sơn Vi cách đây hơn 1 vạn năm. Nằm trong vùng đất được coi là chiếc nôi của dân tộc Việt Nam do các Vua Hùng dựng nên, nhân dân Cao Xá cùng với cộng đồng dân tộc đấu tranh anh dũng với thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, lao động cần cù, sáng tạo, xây dựng quê hương. Đề thờ Quốc Công Lân Hổ và Đình, Chùa Cao Xá là những công trình văn hóa được nhà nước Việt Nam xếp hạng di tích lịch sử do địa phương quản lý, là niềm tự hào của người dân Cao Xá (nay là Bản Nguyên).

Các thôn trong khu vực xã Cao Xá cũ đều thao đạo Phật, riêng thôn Tề Lễ và các thôn thuộc Cao Lĩnh (Đông Lĩnh, Sơn Lĩnh, Tân Lĩnh) có gần 100 hộ dân theo đạo Thiên Chúa.[15]

Công trình tôn giáo, tín ngưỡng

Công trình tín ngưỡng phong kiến

Tổng Cao xá có 5 ngôi Đình lớn và 2 ngôi Đình nhỏ được các chính thể Phong kiến Việt Nam công nhận.

Đình Sơn Vi, Đình Dục Mỹ, Đình Tề Lễ, Đình Cao Xá, Đình Cẩm đội. Đình nhỏ là đình Thụy Vân và Phù Phong.

Đình Cao Xá thờ Vọng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Quốc công Lân Hổ với hai vị công chúa thời Hùng Vương thứ 18 là Tiên Dung và Ngọc Hoa. Đình Dục Mỹ thờ Thành hoàng làng và thờ Vọng Quốc công Lân Hổ.

Năm 1927, Sơn Vi trả về Lâm Thao, Đình Sơn Vi thuộc Sơn Vi

Năm 1929, Cẩm Đội, Thụy Vân sang tổng Minh Nông, Đình Cẩm Đội không còn thuộc Tổng Cao Xá

Năm 1930, đình Tề Lễ bị phá dỡ cùng với chùa Tề để dựng nhà nhà đạo Thiên Chúa

Năm 1948, giặc Pháp đốt Đình Phù Phong, sau này không khôi phục nữa.

Trước năm 1954 còn có Đình Vĩnh Mộ và Đình Làng Giang. Thời HTX đã phá bỏ hai ngôi đình nay. Hiện nay Đình Vĩnh Mộ đã được khôi phục lại, nằm kế bên Chùa Diên Phúc.

Công trình văn hoá hiện nay

  • Đình Dục Mỹ, Chùa Vinh Quang, Lăng Lân Hổ; Đình Cao Xá, Chùa Sơn Lôi; Đình, Chùa Hạ Thôn; Nhà thờ Tề Lễ; Nhà thờ Cao Lĩnh; Đình Vĩnh Mộ, Chùa Diên Phúc; Đình Vàng, Miếu Thanh Hà, Chùa Bảo Cát, Miếu Phù Phong
  • Hạ Thôn thường gọi Cao Xá hạ thờ Hai vị công chúa con của Hùng Vương thứ 18 là Tiên Dung và Ngọc Hoa. Hai bà lúc đầu được thờ vọng ở Đình Cao Xá, sau này tách làng tách xóm nên Cao Xá Hạ xây đình mới để Phụng thờ riêng.
  • Miếu Thanh Hà: Dân gian kể lại có vị quan bị oan sai lẽ phải chết nhưng trốn thoát ra dân gian rồi trộm cắp của dân sống qua ngày. Đến xứ này bị dân đánh chết. Mãi sau này được đồng liêu triều đình minh oan tìm ra nơi táng thân. Dân xứ này từ mộ cũ dựng thành miếu thờ phụng đều đặn những mong hồn thác oan phù hộ cho dân xứ này. Dân gian Việt Nam làng nào cũng có đình làng là nơi họp làng, là công trình văn hoá đại diện cho một làng quê. Ngoài các công trình văn hóa hiện nay còn một số đình chùa khác không thuộc 5 đình lớn của 5 Làng từng tồn tại trong Lịch sử xã Cao Xá nhưng không còn tồn tại đến ngày nay như Đình Nam Nhạc, Đình Làng Giang, Đình Phù Phong,.... và đất thiêng đều đã cắt cho dân làng cất nhà để ở.

Di tích lịch sử

Các di tích lịch sử văn hóa và các di tích chùa còn lưu giữ được thư tịch cổ Hán Nôm:

  • Bia chùa Kim Cương: Hưng công cấu tác (bia ghi việc hưng công tu tạo) lập năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), niên hiệu của vua Lê Dụ Tông; Bia chùa Kim Cương (bia tứ diện) lập năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), niên hiệu của vua Lê Dụ Tông.
  • Bia chùa Linh quang: Trùng tu Linh quang tự bi ký (ghi việc trùng tu chùa Linh Quang) lập năm Tự Đức thứ 33 (1880), niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.
  • Bia ghi giỗ hậu chùa Linh Quang, lập năm Tự Đức thứ 33 (1880), niên hiệu của vua Nguyễn Dực Tông.
  • Chuông chùa Bồ Đề: Bồ Đề tự chung tạo năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.
  • Chuông chùa Linh Quang: Kỷ Hợi niên chế đúc năm Kỷ Hợi (?)
  • Chuông chùa Trình: Trình Xá tự chung tạo Minh Mệnh, năm 1821 (hiện đang lưu giữ tại Thư viện KHTH tỉnh)
  • Khánh chùa Kim Cương: Kim Cương tự, Khánh lục ký (khánh ghi chép công đức chùa Kim Cương) tạo năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800), niên hiệu của vua Nguyễn Quang Toản.
  • Khánh chùa Phổ Quang: Phổ Quang tự khánh tạo năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), niên hiệu của vua Nguyễn Thánh Tổ.
  • Mộc bản chùa Kim Cương lập năm Quý Mùi (1883).
  • Đền Lời: được xây dựng thời Hậu Lê cuối thế kỷ 18. Đền thờ Ngũ Đạo Tướng Quân, Tản Viên Sơn Thánh và các tướng lĩnh thời Hùng Vương đã có công giúp Vua Hùng dẹp giặc giữ yên bờ cõi, xây dựng đất nước phát triển được nhân dân tôn thờ và phong là Hộ Quốc tế Công. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Phápchống Mỹ của dân tộc, Đền Lời còn là nơi hoạt động bí mật của Đảng bộ, chính quyền địa phương. Năm 2004, Đền Lời được nhà nước xếp hạng di tích cấp Quốc gia tại Quyết định số 08/QĐ-BVHTT ngày 23 tháng 2 năm 2004. Để tỏ lòng thành kính tri ân công đức tổ tiên, vào ngày 15 tháng 2 âm lịch hàng năm, nhân dân một phần xã Bản Nguyên lại tổ chức Lễ tế chính cầu cho trời đất mưa thuận gió hòa, đồng ruộng tươi tốt, dân làng yên ấm, nhà nhà an khang thịnh vượng, đây còn là dịp để giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước cho thế hệ trẻ.

Thi ca

Ca khúc Vĩnh Lại quê tôi (Tác giả: Cù Chí Cường; Thể hiện: Thanh Quý).[16]

Danh nhân

Vũ Duệ (chữ Hán: 武睿, 1468-1522), vốn tên là Vũ Nghĩa Chi là danh thần nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam. Ông là người làng Trịnh Xá (Kẻ Chịnh), huyện Sơn Vi, trấn Sơn Tây (nay thuộc làng Trịnh Xá, xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ). Thủa nhỏ ông nổi tiếng thông minh, đối đáp lưu loát, 7 tuổi đã đọc thông, viết thạo và đã biết làm thơ, người đương thời thường gọi ông là "Thất Tuế Thần Đồng". Khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) dưới thời vua Lê Thánh Tông, ông thi đỗ Trạng nguyên lúc 22 tuổi, cùng khoa với Ngô Hoán (đỗ Bảng nhãn) và Lưu Thư Ngạn (đỗ Thám hoa).

Đền thờ Trạng nguyên Vũ Duệ đầu tiên làm ngay trên mộ của ông phía ngoài đê bên dòng sông Hồng nằm ở đầu làng Trình Xá. Ở cổng đền có ghi 3 chữ "Tiết nghĩa từ", và ở hậu cung có bức hoành phí đề 4 chữ "Vương thất huân lao", đều do vua Lê Huyền Tông ban. Đồng thời, ông cũng được sắc phong là "Thượng đẳng phúc thần". Được dân làng Trình Xá tôn làm thành hoàng làng. Lễ tế chính được tổ chức vào ngày 16 tháng 8 (âm lịch) hàng năm, ngày mất của ông.

Hiện nay có một con phố nằm ở phường Nông Trang, tỉnh Phú Thọ được đặt theo tên của ông. Con phố này kéo dài từ đường Nguyễn Du đến đường Tản Viên. Bên cạnh đo thị trấn Lâm Thao cũng có một con phố mang tên Vũ Duệ.

Chú thích

  1. ^ Nghị quyết số 1676/NQ-UBTVQH15
  2. ^ "Xã Bản Nguyên, Tỉnh Phú Thọ mới sáp nhập 2026". Tỉnh Thành Việt Nam. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2026.
  3. ^ Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công. "Thông báo tên gọi 20 thôn sau sáp nhập trên địa bàn xã Bản Nguyên". bannguyen.phutho.gov.vn. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
  4. ^ Thần tích: Thư viện Viện Hán Nôm, tài lwiệu số 5856/818. Ký hiệu AE.A9/30. Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính; Ngày tốt tháng 1 năm Hồng Phúc nguyên niên (1572).
  5. ^ Am thần.
  6. ^ Võ Nhân thần.
  7. ^ Văn Nhân thần.
  8. ^ Tên thần.
  9. ^ Bản dịch Thần phả trang Bãi Á của Viện nghiên cứu Hán Nôm lưu tại đình làng Bãi Á.
  10. ^ Lịch sử Đảng bộ xã Bản Nguyên 1944-2010, Xuất bản năm 2011.
  11. ^ Sau sự kiện Đình Tề Lễ được phá dỡ để xây nhà thờ, nhân dân Tề Lễ cũng xây một ngôi đình khác nhỏ hơn nhiều so với đình cũ và nhờ ông trưởng họ Chu là ông Chu Văn Vượng làm ông Từ. Đình Tề Lễ mới nằm ở gần Trụ sở HTX Cao Xá ngày nay. Là đất thổ cư cụ Sức.
  12. ^ xaydungchinhsach.chinhphu.vn (ngày 28 tháng 6 năm 2025). "NGHỊ QUYẾT 203/2025/QH15 SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM". Báo Điện tử Chính phủ. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  13. ^ xaydungchinhsach.chinhphu.vn (ngày 20 tháng 6 năm 2025). "Nghị quyết số 1676/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của tỉnh Phú Thọ năm 2025". Báo Điện tử Chính phủ. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2025.
  14. ^ Ủy ban bầu cử (ngày 24 tháng 2 năm 2026). "Nghị quyết số 1/NQ-UBBC về việc công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã Bản Nguyên, nhiệm kỳ 2026 - 2031 theo từng đơn vị bầu cử". Trang Thông tin điện tử xã Bản Nguyên - tỉnh Phú Thọ. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2026.
  15. ^ Vì tranh giành Ngòi Tùng thuộc sở hữu của làng Tề Lễ, Người Làng Tề Lễ đã dựa vào sự trợ giúp của Giáo dân Thiên Chúa giáo để giữ lại mảnh địa giới cuối cùng tránh khỏi sự xâm canh, xâm cư của các làng khác. 90% dân số làng Tề Lễ theo đạo Thiên Chúa, chỉ để lại ba gia đình trưởng họ của ba họ trong làng là họ Lê, họ Chu, họ Tô không theo thiên Chúa giáo để thờ phật và thờ Thành Hoàng. Sau khi theo đạo Thiên Chúa, Đình Tề Lễ và chùa Tề được phá dỡ để lấy đất đai và vật liệu xây cất nhà thờ đạo Kitô.Sau khi Đình Tề Lễ được chuyển ra phụng thờ ở Đình Vĩnh Mộ thì thành hoàng vốn được thờ trong đình Vĩnh Mộ được chuyển ra một ngôi đình mới nhỏ hơn xây cất năm 1933 gọi là đình Vàng ngày nay ở xóm Nguyễn Xá.
  16. ^ Vĩnh Lại quê tôi

Liên kết ngoài

Tham khảo