FC Urartu
| Tập tin:FC Banants Logo.png | |||
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Urartu | ||
|---|---|---|---|
| Biệt danh | Հպարտ Առյուծներ Hpart Aryutsner (Những chú sư tử kiêu hãnh) | ||
| Thành lập | 20 tháng 1 năm 1992[1] | ||
| Sân | Sân vận động Urartu | ||
| Sức chứa | 4,860[2] | ||
| Chủ sở hữu | Dzhevan Cheloyants | ||
| Tổng giám đốc | David Shakhbagyan | ||
| Huấn luyện viên trưởng | Robert Arzumanyan | ||
| Giải đấu | Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia | ||
| 2025–26 | Thứ 5 trên 10 | ||
| Website | fcurartu | ||
|
| |||
Câu lạc bộ bóng đá Urartu (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., chuyển tự Futbolayin Akumb Urartu), thường được gọi là Urartu, là một đội bóng đá chuyên nghiệp Armenia có trụ sở tại thủ đô Yerevan, hiện thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia. Câu lạc bộ đã bốn lần vô địch Cúp bóng đá Armenia, vào các năm 1992, 2007, 2016 và 2023. Mùa giải 2013–2014, họ lần đầu tiên trong lịch sử vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia.
Đầu năm 2016, doanh nhân Armenia có trụ sở tại Nga Dzhevan Cheloyants trở thành đồng sở hữu của câu lạc bộ sau khi mua phần lớn cổ phần của câu lạc bộ. Câu lạc bộ được biết đến với tên gọi FC Banants cho đến ngày 1 tháng 8 năm 2019, khi chính thức đổi tên thành FC Urartu.
Lịch sử
Kotayk
FC Urartu được Sarkis Israelyan thành lập với tên gọi FC Banants vào ngày 21 tháng 1 năm 1992 tại làng Kotayk, đại diện cho tỉnh Kotayk.[1] Ông đặt tên câu lạc bộ theo quê hương của mình là Banants (hiện nay được biết đến là Bayan). Từ năm 1992 đến năm 1995, câu lạc bộ thường được gọi là Banants Kotayk.[3] Trong mùa giải 1992, câu lạc bộ vô địch Cúp bóng đá Armenia đầu tiên. Cuối mùa giải chuyển tiếp 1995, Banants gặp khủng hoảng tài chính. Các chủ sở hữu câu lạc bộ quyết định rằng việc sáp nhập câu lạc bộ với FC Kotayk của Abovyan sẽ tốt hơn là giải thể. Năm 2001, Banants tách khỏi FC Kotayk và chuyển từ Abovyan đến thủ đô Yerevan.
Yerevan
Năm 2001, FC Banants được chuyển đến Yerevan.[4] Đầu năm 2003, Banants sáp nhập với FC Spartak Yerevan, nhưng vẫn giữ được tên gọi của thực thể mới là FC Banants. Spartak trở thành học viện trẻ của Banants và sau đó đổi tên thành Banants-2. Nhờ cuộc sáp nhập, Banants có được nhiều cầu thủ từ Spartak Yerevan, bao gồm Samvel Melkonyan. Sau khi sáp nhập, Banants có cách tiếp cận nghiêm túc hơn và kể từ đó luôn đạt thứ hạng cao trên bảng xếp hạng giải đấu. Câu lạc bộ giành Cúp bóng đá Armenia vào năm 2007. Kinh nghiệm nhường chỗ cho sức trẻ trong các mùa giải 2008 và 2009. Việc phần lớn các cầu thủ giàu kinh nghiệm ra đi đã khiến tương lai của câu lạc bộ đặt vào lớp cầu thủ trẻ. Cùng với hai cầu thủ Ukraina, tuyển thủ Uganda Noah Kasule đã được ký hợp đồng.
Trụ sở câu lạc bộ nằm tại số 2 phố Jivani thuộc quận Malatia-Sebastia, Yerevan.[5]
Quốc nội
| Mùa giải | Giải vô địch | Cúp quốc gia | Vua phá lưới | Huấn luyện viên | ||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng | Vị trí | Trận | Thắng | Hòa | Thua | BT | BB | HS | Điểm | Tên | Giải vô địch | |||||
| 1992 | Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia | 3 | 34 | 28 | 3 | 3 | 125 | 34 | +91 | 59 | Vô địch | 34 | Varuzhan Sukiasyan | |||
| 1993 | 3 | 28 | 23 | 2 | 3 | 111 | 21 | +90 | 48 | Bán kết | 26 | |||||
| 1994 | 5 | 28 | 17 | 1 | 10 | 95 | 56 | +39 | 35 | Bán kết | ||||||
| 1995-2000 | Không tham dự | |||||||||||||||
| 2001 | Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia | 7 | 22 | 10 | 4 | 8 | 46 | 28 | +18 | 34 | Vòng Một | 11 | ||||
| 2002 | 3 | 22 | 16 | 2 | 4 | 43 | 15 | +28 | 50 | Tứ kết | 11 | |||||
| 2003 | 2 | 28 | 21 | 3 | 4 | 89 | 15 | +74 | 66 | Chung kết | 45 | Oganes Zanazanyan | ||||
| 2004 | 3 | 28 | 12 | 7 | 9 | 40 | 39 | +1 | 43 | Chung kết | 8 | |||||
| 2005 | 3 | 26 | 15 | 6 | 5 | 49 | 31 | +18 | 51 | Bán kết | 11 | Oganes Zanazanyan Ashot Barseghyan | ||||
| 2006 | 2 | 28 | 18 | 3 | 7 | 67 | 26 | +41 | 57 | Bán kết | 25 | Ashot Barseghyan Nikolay Kiselyov | ||||
| 2007 | 2 | 28 | 16 | 4 | 8 | 56 | 26 | +30 | 52 | Vô địch | 15 | Nikolay Kiselyov Jan Poštulka Nikolay Kostov | ||||
| 2008 | 5 | 28 | 11 | 8 | 9 | 34 | 25 | +9 | 41 | Chung kết | 7 | Nikolay Kostov Nedelcho Matushev Kim Splidsboel | ||||
| 2009 | 4 | 28 | 13 | 5 | 10 | 40 | 29 | +11 | 44 | Chung kết | 12 | Armen Gyulbudaghyants | ||||
| 2010 | 2 | 28 | 20 | 4 | 4 | 58 | 24 | +34 | 64 | Chung kết | 11 | Stevica Kuzmanovski | ||||
| 2011 | 4 | 28 | 12 | 8 | 8 | 42 | 30 | +12 | 44 | Bán kết | 16 | Rafael Nazaryan | ||||
| 2011-12 | Chỉ tổ chức giải cúp | Tứ kết | ||||||||||||||
| 2012-13 | 8 | 42 | 5 | 16 | 21 | 37 | 64 | -27 | 31 | Vòng Một | 7 | Rafael Nazaryan Volodymyr Pyatenko | ||||
| 2013-14 | 1 | 28 | 14 | 8 | 6 | 38 | 23 | +15 | 50 | Bán kết | 10 | Zsolt Hornyák | ||||
| 2014-15 | 6 | 28 | 8 | 8 | 12 | 42 | 46 | -4 | 32 | Bán kết | 7 | Zsolt Hornyák | ||||
| 2015-16 | 6 | 28 | 7 | 12 | 9 | 36 | 34 | +2 | 33 | Vô địch | 10 | Aram Voskanyan Tito Ramallo | ||||
| 2016-17 | 5 | 30 | 5 | 6 | 19 | 18 | 44 | -26 | 21 | Bán kết | 3 | Tito Ramallo Artur Voskanyan | ||||
| 2017-18 | 2 | 30 | 11 | 11 | 8 | 42 | 34 | +8 | 44 | Bán kết | 8 | Artur Voskanyan | ||||
| 2018-19 | 3 | 32 | 14 | 10 | 8 | 43 | 35 | +8 | 52 | Bán kết | 5 | Artur Voskanyan Ilshat Fayzulin | ||||
| 2019–20 | 7 | 22 | 8 | 6 | 8 | 26 | 27 | -1 | 30 | Bán kết | 7 | Ilshat Fayzulin Aleksandr Grigoryan | ||||
| 2020–21 | 3 | 24 | 12 | 5 | 7 | 28 | 19 | +9 | 41 | Tứ kết | 8 | Aleksandr Grigoryan Tigran Yesayan (tạm quyền) Robert Arzumanyan | ||||
| 2021–22 | 5 | 32 | 9 | 13 | 10 | 37 | 32 | +5 | 40 | Chung kết | 10 | Arsen Petrosyan Robert Arzumanyan (tạm quyền) | ||||
| 2022–23 | 1 | 36 | 26 | 5 | 5 | 68 | 25 | +43 | 83 | Vô địch | 9 | Dmitri Gunko | ||||
| 2023–24 | 4 | 36 | 13 | 11 | 12 | 49 | 49 | 0 | 50 | Chung kết | 11 | Dmitri Gunko | ||||
| 2024–25 | 3 | 30 | 19 | 5 | 6 | 64 | 31 | +33 | 62 | Tứ kết | 13 | Dmitri Gunko | ||||
| 2025–26 | 5 | 27 | 14 | 7 | 6 | 43 | 26 | +17 | 49 | Á quân | 18 | Robert Arzumanyan | ||||
Châu Âu
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 17 tháng 7 năm 2025
| Giải đấu | Trận | Thắng | Hòa | Thua | BT | BB | HS |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| UEFA Champions League | 4 | 2 | 0 | 2 | 6 | 6 | 0 |
| UEFA Europa League / Cúp UEFA | 26 | 3 | 3 | 20 | 15 | 61 | –46 |
| UEFA Conference League | 10 | 2 | 0 | 8 | 10 | 2 | -12 |
| Tổng cộng | 40 | 7 | 3 | 30 | 31 | 89 | −58 |
Sân vận động
Việc xây dựng Sân vận động Urartu được khởi công vào năm 2006 tại quận Malatia-Sebastia của Yerevan, với sự hỗ trợ của chương trình FIFA Goal. Sân chính thức mở cửa vào năm 2008 với sức chứa 3.600 chỗ ngồi. Các đợt phát triển tiếp theo được thực hiện vào năm 2011, khi mặt sân thi đấu được hiện đại hóa và sức chứa của sân được tăng lên 4.860 chỗ ngồi (2.760 ở khán đài phía bắc, 1.500 ở khán đài phía nam và 600 ở khán đài phía tây).
Trung tâm đào tạo/học viện
Trung tâm đào tạo Urartu là cơ sở học viện của câu lạc bộ, tọa lạc tại quận Malatia-Sebastia của Yerevan. Ngoài sân vận động chính, trung tâm còn có 3 sân tập đủ kích thước, các sân bóng đá mini cũng như một cơ sở trong nhà. Giám đốc kỹ thuật hiện tại của học viện là cựu cầu thủ bóng đá người Nga Ilshat Faizulin.
Cổ động viên
Nhóm cổ động viên tích cực nhất là hội cổ động viên South West Ultras, chủ yếu gồm cư dân từ một số khu phố trong quận Malatia-Sebastia của Yerevan,[6] vì câu lạc bộ là đại diện trên thực tế của quận. Các thành viên hội cổ động viên được hưởng lợi từ các sự kiện do câu lạc bộ tổ chức và nhiều cơ sở của trung tâm đào tạo Banants, như sân bóng đá mini, cửa hàng câu lạc bộ và các hoạt động giải trí khác.
Danh hiệu
- Giải bóng đá Ngoại hạng Armenia
- Cúp bóng đá Armenia
- Siêu cúp bóng đá Armenia
- Vô địch (1): 2014
- Á quân (5): 2004, 2007, 2009, 2010, 2016
Đội hình hiện tại
- Tính đến 1 tháng 3 năm 2026
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Nhân sự
Ban huấn luyện
| Vị trí | Tên |
|---|---|
| Huấn luyện viên trưởng | |
| Trợ lý huấn luyện viên | |
| Trợ lý huấn luyện viên | |
| Trợ lý huấn luyện viên | |
| Huấn luyện viên thủ môn | |
| Huấn luyện viên thể lực | |
| Huấn luyện viên phân tích | |
| Bác sĩ đội | |
| Quản lý đội | |
| Huấn luyện viên trưởng Urartu-2 |
Ban lãnh đạo
| Vị trí | Tên |
|---|---|
| Chủ tịch | |
| Tổng giám đốc | |
| Giám đốc điều hành | |
| Giám đốc thể thao | |
| Phó giám đốc phụ trách phát triển câu lạc bộ | |
| Phó tổng giám đốc phụ trách hành chính và bảo trì | |
| Phó tổng giám đốc phụ trách PR, thông tin và tiếp thị | |
| Luật sư |
Urartu-2
| Tập tin:FC Banants Logo.png | |||
| Thành lập | 2003 | ||
|---|---|---|---|
| Sân | Trung tâm đào tạo Urartu, Yerevan | ||
| Sức chứa | 600 | ||
| Chủ sở hữu | Dzhevan Cheloyants & Oleg Mkrtchyan | ||
| Tổng giám đốc | Arsen Petrosyan | ||
| Người quản lý | Karen Arakelyan | ||
| Giải đấu | Armenian First League | ||
| 2021–22 | Thứ 6 | ||
| Website | https://www.fcurartu.am | ||
|
| |||
Urartu cũng có đội hai, Urartu-2, thi đấu tại Armenian First League. Họ thi đấu các trận sân nhà trên sân tập có mặt cỏ nhân tạo của Trung tâm đào tạo Urartu.
Lịch sử huấn luyện viên
Varuzhan Sukiasyan (1992–94)
Poghos Galstyan (1 tháng 7 năm 1996 – 30 tháng 6 năm 1998)
Oganes Zanazanyan (2001–05)
Ashot Barseghyan (2005–06)
Nikolay Kiselyov (2006–07)
Jan Poštulka (2007)
Nikolay Kostov (1 tháng 7 năm 2007 – 8 tháng 4 năm 2008)
Nedelcho Matushev (8 tháng 4 năm 2008 – 30 tháng 6 năm 2008)
Kim Splidsboel (2008)
Armen Gyulbudaghyants (1 tháng 1 năm 2009 – 1 tháng 12 năm 2009)
Ashot Barseghyan (tạm quyền) (2009)
Stevica Kuzmanovski (1 tháng 1 năm 2010 – 31 tháng 12 năm 2010)
Rafael Nazaryan (1 tháng 1 năm 2011 – 15 tháng 1 năm 2012)
Volodymyr Pyatenko (17 tháng 1 năm 2013 – 30 tháng 6 năm 2013)
Zsolt Hornyák (1 tháng 7 năm 2013 – 30 tháng 5 năm 2015)
Aram Voskanyan (1 tháng 7 năm 2015 – 11 tháng 10 năm 2015)
Tito Ramallo (12 tháng 10 năm 2015 – 3 tháng 10 năm 2016)Artur Voskanyan (3 tháng 10 năm 2016 – 11 tháng 8 năm 2018)
Ilshat Faizulin (12 tháng 8 năm 2018 –24 tháng 11 năm 2019)
Aleksandr Grigoryan (25 tháng 11 năm 2019 –10 tháng 3 năm 2021)
Robert Arzumanyan (10 tháng 3 năm 2021 – 24 tháng 6 năm 2022)[7]
Dmitri Gunko (27 tháng 6 năm 2022 – 18 tháng 6 năm 2025)[8][9]
Robert Arzumanyan (19 tháng 6 năm 2025–)[10]
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b "ФУТБОЛЬНОМУ КЛУБУ "УРАРТУ" 32 ГОДА!". fcurartu.am (bằng tiếng Russian). FC Urartu. ngày 20 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2024.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ^ Banants Stadium
- ^ History of Football Club Banants Lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, từ fcbanants.com, truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2009.
- ^ "History". Yerevan. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2023.
- ^ "Clubs". www.ffa.am. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
- ^ ""Banants Ultras"". www.fcbanants.am. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
- ^ "ROBERT ARZUMANYAN LEFT URARTU FC". fcurartu.am. FC Urartu. ngày 24 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2022.
- ^ "DMITRY GUNKO IS THE NEW HEAD COACH OF URARTU FC". fcurartu.am. FC Urartu. ngày 27 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2022.
- ^ "DMITRY GUNKO LEAVES URARTU FC". fcurartu.am. FC Urartu. ngày 18 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
- ^ "OFFICIAL STATEMENT- ROBERT ARZUMANYAN". fcurartu.am. FC Urartu. ngày 19 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2025.
Liên kết ngoài
- Website chính thức (bằng tiếng Anh, tiếng Armenia, và tiếng Nga)
- Banants tại Weltfussball.de. Lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine (bằng tiếng Đức).
- Trang có lỗi kịch bản
- Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Bài có mô tả ngắn
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Website chính thức không có trên Wikidata
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Anh (en)
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Armenia (hy)
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Nga (ru)
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Đức (de)
- FC Urartu
- Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1992
- Câu lạc bộ bóng đá Armenia
- Câu lạc bộ bóng đá Yerevan
- Khởi đầu năm 1992 ở Armenia