Mario Yepes
|
Tập tin:Yepes at skbo.jpg Yepes năm 2019 | ||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | ||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Mario Alberto Yepes Díaz[1] | |||||||||||||
| Ngày sinh | 13 tháng 1, 1976 [1] | |||||||||||||
| Nơi sinh | Cali, Colombia | |||||||||||||
| Chiều cao | 1,86 m[1] | |||||||||||||
| Vị trí | Trung vệ | |||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | ||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||
| 1994–1997 | Cortuluá | 76 | (7) | |||||||||||
| 1997–1999 | Deportivo Cali | 93 | (11) | |||||||||||
| 1999–2002 | River Plate | 76 | (6) | |||||||||||
| 2002–2004 | Nantes | 73 | (2) | |||||||||||
| 2004–2008 | Paris Saint-Germain | 115 | (8) | |||||||||||
| 2008–2010 | Chievo | 63 | (1) | |||||||||||
| 2010–2013 | AC Milan | 38 | (1) | |||||||||||
| 2013–2014 | Atalanta | 24 | (0) | |||||||||||
| 2014–2015 | San Lorenzo | 31 | (0) | |||||||||||
| Tổng cộng | 580 | (36) | ||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | ||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||
| 1999–2014 | Colombia | 102 | (6) | |||||||||||
| Sự nghiệp huấn luyện | ||||||||||||||
| Năm | Đội | |||||||||||||
| 2016–2017 | Deportivo Cali | |||||||||||||
Thành tích huy chương
| ||||||||||||||
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia | ||||||||||||||
Mario Alberto Yepes Díaz (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [ˈmaɾjo ˈʝepes]; sinh ngày 13 tháng 1 năm 1976) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Colombia thi đấu ở vị trí trung vệ. Ông được biết đến nhiều qua thời gian khoác áo Paris Saint-Germain, nơi ông được xem là một trong những hậu vệ xuất sắc nhất thời điểm đó và được cổ động viên đặt biệt danh là "Super Mario".[2][3] Trong thời gian thi đấu tại Ý cho Chievo, ông được truyền thông biết đến là một trung vệ kèm người kiểu cũ, chắc chắn và giàu thể lực, thường được gọi là "stopper" trong thuật ngữ bóng đá Ý.[4] Ông từng là đội trưởng của đội tuyển quốc gia Colombia trong giai đoạn 2008-2014.
Bắt đầu sự nghiệp vào năm 1999 và thi đấu cho đội tuyển quốc gia Colombia trong giai đoạn đó, Yepes là một trong hai cầu thủ có thể được xem là thuộc cả thế hệ vàng cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000 của bóng đá Colombia, thế hệ từng vô địch Cúp bóng đá Nam Mỹ và kết thúc vào năm 2003, đồng thời cũng là một phần của thế hệ vàng hiện tại của Colombia, bắt đầu từ năm 2013. Faryd Mondragón là cầu thủ Colombia còn lại trong số hai người này, nhưng đã chính thức giải nghệ vào năm 2014.[2][5][6]
Yepes bắt đầu sự nghiệp huấn luyện với câu lạc bộ quê nhà Deportivo Cali, nơi ông dẫn dắt từ năm 2016 đến năm 2017.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Giai đoạn đầu sự nghiệp
Mario Yepes bắt đầu sự nghiệp thi đấu vào năm 1994 với Cortuluá, ban đầu ở vị trí tiền đạo trước khi huấn luyện viên của Cortuluá chuyển ông sang vị trí libero.
Yepes ký hợp đồng với câu lạc bộ quê nhà Deportivo Cali vào năm 1998. Ông giành chức vô địch Colombia cùng Deportivo Cali. Ông cũng là thành viên đội hình tham dự Copa Libertadores.
Năm 1999, ông gia nhập River Plate tại Argentina, nơi ông giành hai chức vô địch Argentine Primera.
Năm 2002, Yepes chuyển đến châu Âu khi ký hợp đồng với Nantes tại Ligue 1 của Pháp. Sau hai mùa rưỡi thi đấu thành công về mặt cá nhân cùng Nantes, Yepes gia nhập một đội bóng Ligue 1 khác là Paris Saint-Germain vào năm 2004. Yepes trở thành trụ cột trong đội hình PSG, giành Coupe de France vào năm 2006 và Coupe de la Ligue vào năm 2008, dù ông không ra sân trong trận chung kết thứ hai.
Năm 2008, Yepes gia nhập Chievo tại Ý. Ông ký hợp đồng dài hạn mới vào mùa hè năm 2009.[7]
AC Milan
Vào tháng 3 năm 2010, đồng đội của Yepes tại Chievo là Sergio Pellissier xác nhận rằng Yepes sẽ gia nhập AC Milan vào mùa hè, khi hợp đồng của ông hết hạn.[8]
Yepes đến Milan trong mùa giải 2010–11 nhưng nhanh chóng được sử dụng như một cầu thủ dự bị do vị trí trung vệ đá chính thuộc về Thiago Silva. Yepes chỉ thi đấu một số trận tại Serie A của Ý, nhưng có góp mặt ở UEFA Champions League. Yepes từng tiến gần đến việc ghi bàn cho Milan trong trận đấu tại UEFA Champions League gặp Tottenham Hotspur, khi ông có hai cơ hội rõ ràng bằng đánh đầu, nhưng đều bị thủ môn Heurelho Gomes của Tottenham cản phá.
Yepes ghi bàn thắng đầu tiên cho Milan vào ngày 23 tháng 10 năm 2011, khi ông hoàn tất màn lội ngược dòng trước Lecce bằng bàn thắng thứ tư, cũng là bàn quyết định, ở phút 83, giúp Rossoneri thắng 4–3 sau khi Kevin-Prince Boateng lập hat-trick để san bằng tỷ số từ thế bị dẫn 0–3.
Ngày 12 tháng 5 năm 2012, Yepes ký gia hạn hợp đồng thêm một năm với Milan, giữ ông ở lại câu lạc bộ đến mùa hè năm 2013.[9] Tuy nhiên, sau khi không thường xuyên được thi đấu trong mùa giải tiếp theo, Yepes tuyên bố rằng ông sẽ không ký hợp đồng mới với câu lạc bộ dù được trao cơ hội, cho biết ông cần thời gian thi đấu "được đảm bảo" nhiều hơn để chuẩn bị tốt hơn cho Giải vô địch bóng đá thế giới 2014. Sau đó, ông xác nhận rằng Milan không thể đáp ứng yêu cầu này và đó là lý do ông ra đi.[10][11][12]
Atalanta
Ngày 14 tháng 7 năm 2013, Yepes ký hợp đồng một năm với câu lạc bộ Serie A Atalanta.[13] Ông có 26 lần ra sân trong mùa giải 2013–14 và rời câu lạc bộ khi mùa giải kết thúc.
San Lorenzo
Ngày 13 tháng 9 năm 2014, câu lạc bộ Giải bóng đá vô địch quốc gia Argentina San Lorenzo thông báo ký hợp đồng với Yepes theo một thỏa thuận có thời hạn đến cuối năm 2015.[14] Ngày 20 tháng 1 năm 2016, ông chính thức giải nghệ, trước khi trở thành huấn luyện viên của Deportivo Cali bốn tháng sau đó.[15]
Sự nghiệp quốc tế
Yepes đã thi đấu 102 trận cho đội tuyển quốc gia Colombia kể từ khi ra mắt vào năm 1999, qua đó trở thành cầu thủ Colombia có số lần khoác áo đội tuyển nhiều thứ hai mọi thời đại, sau Carlos Valderrama.[16] Ông là thành viên của đội tuyển Colombia vô địch Cúp bóng đá Nam Mỹ vào năm 2001.[17] Ông cũng có tên trong đội hình tham dự ba kỳ giải đấu khác vào các năm 1999,[18] 2007[19] và 2011.
Trong chiến dịch vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 của đội tuyển, Yepes có 12 lần ra sân khi Colombia giành quyền tham dự giải đấu lần đầu tiên kể từ năm 1998. Ở một trận vòng loại năm 1998, Yepes ghi cả hai bàn trong chiến thắng 2–1 trước Paraguay.[16]
Do tuổi tác trong thời gian diễn ra vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014, Yepes bày tỏ niềm đam mê với đội tuyển quốc gia và mong muốn giải nghệ sau vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới hoặc trong thời gian diễn ra Giải vô địch bóng đá thế giới 2014. José Pékerman hứa sẽ đáp ứng nguyện vọng giải nghệ của ông. Ngày 17 tháng 12 năm 2013, Yepes thông báo rằng ông sẽ giải nghệ sau Giải vô địch bóng đá thế giới 2014.[20]
Ngày 14 tháng 6 năm 2014, Yepes có lần đầu tiên ra sân ở vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới khi 38 tuổi, đeo băng đội trưởng của Colombia trong chiến thắng 3–0 trước Hy Lạp tại Belo Horizonte.[21] Yepes là cầu thủ ngoài sân lớn tuổi nhất tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 và là cầu thủ lớn tuổi thứ hai tính chung, sau đồng hương Faryd Mondragón.[22]
Ngày 19 tháng 6 năm 2014, Yepes có lần khoác áo đội tuyển Colombia thứ 100 trong trận thứ hai ở vòng bảng gặp Bờ Biển Ngà, trở thành cầu thủ Colombia thứ ba đạt cột mốc này sau Valderrama và Leonel Álvarez.[23] Ông dẫn dắt Colombia đạt thành tích tốt nhất trong lịch sử đội tuyển tại Giải vô địch bóng đá thế giới khi vào đến tứ kết lần đầu tiên, nơi họ thua chủ nhà Brasil 1–2.[24]
Sự nghiệp sau khi giải nghệ cầu thủ
Cuối tháng 4 năm 2016, Mario Alberto Yepes được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của Deportivo Cali, đánh dấu trải nghiệm huấn luyện đầu tiên của ông. Yepes thay thế Fernando "Pecoso" Castro, người bị sa thải sau chuỗi kết quả kém, đặc biệt là việc bị loại sớm khỏi Copa Libertadores và chia tay giải đấu sau thất bại 2–6 trước Boca Juniors. Ban huấn luyện của Yepes có Freddy Hurtado và Julián Barragán làm trợ lý, cùng Daniel Curbelo làm huấn luyện viên thể lực. Trong thời gian ông dẫn dắt, Deportivo Cali hai lần bị loại ở tứ kết giải quốc nội, lần lượt trước Independiente Medellín ở Apertura và Atlético Bucaramanga ở Finalización 2016, đồng thời giành quyền tham dự Copa Sudamericana. Tuy nhiên, chuỗi phong độ kém ở đầu mùa giải 2017 cùng thành tích sân khách không tốt khiến ông rời câu lạc bộ vào ngày 9 tháng 3 năm 2017.[25]
Từ năm 2019 đến năm 2021, ông giữ chức Giám đốc Thể thao tại Liên đoàn bóng đá Colombia và đóng góp vào việc điều phối, quản lý các kế hoạch phát triển cho các đội tuyển quốc gia.[26]
Năm 2022, Yepes trở thành đại sứ khu vực Mỹ Latinh của Betsson, tập đoàn trò chơi lớn nhất thế giới. Betsson cho biết với tư cách là một huyền thoại của AC Milan, ông cũng sẽ giúp kết nối với các cổ động viên Milan trong khu vực.[26]
Đời tư
Yepes từng kết hôn với Carolina Villegas, người Colombia, cho đến năm 2023.[27] Hai người có ba người con: con trai Luciano Yepes sinh vào tháng 5 năm 2002, con gái Miranda Yepes sinh vào tháng 4 năm 2005[28] và con trai thứ ba Valentino Yepes sinh vào năm 2012.[28]
Sau khi tham gia phiên bản Colombia của chương trình MasterChef Celebrity, ông bắt đầu hẹn hò với nữ diễn viên Colombia Caterin Escobar.
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp quốc gia | Cúp Liên đoàn | Châu lục | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Cortuluá | 1994 | Categoría Primera A | 4 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 4 | 0 |
| 1995 | Categoría Primera A | 15 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 15 | 0 | |
| 1995–96 | Categoría Primera A | 40 | 4 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 40 | 4 | |
| 1996–97 | Categoría Primera A | 17 | 3 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 17 | 3 | |
| Tổng cộng | 76 | 7 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 76 | 6 | ||
| Deportivo Cali | 1997–98 | Categoría Primera A | 32 | 4 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 32 | 4 |
| 1998–99 | Categoría Primera A | 48 | 6 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 48 | 6 | |
| 1999–00 | Categoría Primera A | 13 | 1 | 12 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 25 | 1 | |
| Tổng cộng | 93 | 11 | 12 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 105 | 11 | ||
| River Plate | 1999–00 | Giải bóng đá vô địch quốc gia Argentina | 29 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 29 | 2 |
| 2000–01 | Giải bóng đá vô địch quốc gia Argentina | 33 | 2 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 33 | 3 | |
| 2001–02 | Giải bóng đá vô địch quốc gia Argentina | 14 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 14 | 2 | |
| Tổng cộng | 76 | 6 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 77 | 7 | ||
| Nantes | 2001–02 | French Division 1 | 11 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 14 | 0 |
| 2002–03 | Ligue 1 | 33 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 33 | 2 | |
| 2003–04 | Ligue 1 | 29 | 0 | 4 | 2 | 0 | 0 | 2 | 1 | 35 | 3 | |
| Tổng cộng | 73 | 2 | 5 | 2 | 0 | 0 | 4 | 1 | 82 | 5 | ||
| Paris Saint-Germain | 2004–05 | Ligue 1 | 32 | 3 | 3 | 1 | 0 | 0 | 4 | 0 | 39 | 4 |
| 2005–06 | Ligue 1 | 32 | 4 | 4 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 36 | 4 | |
| 2006–07 | Ligue 1 | 24 | 1 | 4 | 0 | 0 | 0 | 3 | 0 | 31 | 1 | |
| 2007–08 | Ligue 1 | 27 | 0 | 4 | 0 | 0 | 0 | 3 | 0 | 31 | 0 | |
| Tổng cộng | 115 | 8 | 15 | 1 | 0 | 0 | 10 | 0 | 140 | 9 | ||
| Chievo | 2008–09 | Serie A | 32 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 32 | 0 |
| 2009–10 | Serie A | 31 | 1 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 32 | 1 | |
| Tổng cộng | 63 | 1 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 64 | 1 | ||
| AC Milan | 2010–11 | Serie A | 13 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 17 | 0 |
| 2011–12 | Serie A | 11 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 11 | 1 | |
| 2012–13 | Serie A | 14 | 0 | 1 | 1 | 0 | 0 | 3 | 0 | 18 | 1 | |
| Tổng cộng | 38 | 1 | 3 | 1 | 0 | 0 | 5 | 0 | 46 | 2 | ||
| Atalanta | 2013–14 | Serie A | 24 | 0 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 26 | 0 |
| San Lorenzo | 2014–15 | Giải bóng đá vô địch quốc gia Argentina | 31 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 7 | 0 | 39 | 0 |
| Tổng cộng sự nghiệp | 580 | 36 | 39 | 5 | 0 | 0 | 21 | 1 | 640 | 42 | ||
Quốc tế
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Colombia | 1999 | 3 | 0 |
| 2000 | 9 | 0 | |
| 2001 | 13 | 0 | |
| 2003 | 12 | 1 | |
| 2004 | 7 | 1 | |
| 2005 | 7 | 1 | |
| 2007 | 5 | 1 | |
| 2008 | 3 | 0 | |
| 2009 | 9 | 0 | |
| 2010 | 6 | 0 | |
| 2011 | 9 | 0 | |
| 2012 | 5 | 0 | |
| 2013 | 7 | 2 | |
| 2014 | 7 | 0 | |
| Tổng cộng | 102 | 6 | |
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Colombia trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Yepes.
| Thứ tự | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 20 tháng 6 năm 2003 | Sân vận động de Gerland, Lyon, Pháp | 2–1 | 3–1 | Cúp Liên đoàn các châu lục 2003 | |
| 2 | 17 tháng 11 năm 2004 | Sân vận động đô thị Roberto Meléndez, Barranquilla, Colombia | 1–0 | 1–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 | |
| 3 | 30 tháng 5 năm 2005 | Sân vận động Giants, East Rutherford, Hoa Kỳ | 1–2 | 2–3 | Giao hữu | |
| 4 | 23 tháng 6 năm 2007 | Sân vận động đô thị Roberto Meléndez, Barranquilla, Colombia | 2–1 | 3–1 | Giao hữu | |
| 5 | 15 tháng 10 năm 2013 | Sân vận động Defensores del Chaco, Asunción, Paraguay | 1–1 | 2–1 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 | |
| 6 | 2–1 |
Danh hiệu
- Tính đến 27 tháng 8 năm 2014[32]
Deportivo Cali
- Categoría Primera A: 1998
- Á quân Copa Libertadores: 1999
River Plate
Paris Saint-Germain
A.C. Milan
San Lorenzo
- Á quân Recopa Sudamericana: 2015
- Á quân Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ: 2014
Colombia
Cá nhân
Xem thêm
Ghi chú và tham khảo
- ^ a b c "FIFA Club World Cup Morocco 2014: List of Players" (PDF). FIFA. ngày 15 tháng 12 năm 2014. tr. 6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2015.
- ^ a b "Mario Yepes offered – Chronicle". newcastle-online.org. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2014. Truy cập 10 tháng 9.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=(trợ giúp) - ^ "Passato glorioso di Super Mario Yepes". Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2012.Bản mẫu:Dead YouTube link
- ^ Sebastiano Vernazza (ngày 15 tháng 4 năm 2019). "Chievo, ciao Serie A. La nostra Top Undici gialloblù" (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2019.
- ^ Bản mẫu:Chú thích báo 2001
- ^ "Mario Yepes será el capitán de Colombia". terra.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). Terra Networks, S.A. ngày 8 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2010.
- ^ "MARIO YEPES ANCORA IN GIALLOBLU'" (bằng tiếng Ý). chievoverona.it. ngày 15 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. [liên kết hỏng]
- ^ Vince Masiello (ngày 30 tháng 3 năm 2010). "Chievo Captain Sergio Pellissier Confirms That Mario Yepes Will Join Milan'". goal.com. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2010.
- ^ "Yepes signs one-year extension with A.C. Milan". Goal.com. ngày 12 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012.
- ^ "Mario Yepes announces AC Milan split - Tribal Football".
- ^ "Yepes confirms Milan exit - Football Italia". 29 tháng 6.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp) - ^ "Mario Alberto Yepes dejará al Milán". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2013.
- ^ Yepes to join Atalanta
- ^ Redacción Deportiva (ngày 12 tháng 9 năm 2014). "Mario Alberto Yepes será nuevo jugador de San Lorenzo" (bằng tiếng Tây Ban Nha). El Espectador. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2022.
- ^ "Ex-Colombia captain Mario Yepes retires from football". ESPN FC. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2016.
- ^ a b "Mario YEPES". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2014.
- ^ rsssf: Copa América 2001 Bản mẫu:Đội hình webarchive
- ^ rsssf: Copa América 1999 Lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2015 tại Wayback Machine
- ^ rsssf: Copa América 2007 Lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2015 tại Wayback Machine
- ^ "Mario Yepes se retiraría después del Mundial".
- ^ "Colombia 3-0 Greece". BBC. ngày 14 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2014.
- ^ "World Cup stats: The tallest, youngest and most prolific players in Brazil". 360°. ngày 12 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2014.
- ^ "World Cup: Colombia beat Ivory Coast 2-1 in Brasília to close on last 16". FIFA. ngày 19 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2014.
- ^ "Colombia Taps World Cup Fever to Urge Guerrilla Defections". Bloomberg. 5 tháng 7. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2014.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp) - ^ Bản mẫu:Chú thích web 2017
- ^ a b "Mario Alberto Yepes becomes new Betsson Regional Ambassador for LatAm". Betsson Group (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Mario Yepes "La muralla"". latinoaldia.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 10 tháng 3 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013., "Querido, te sigo donde vayas". Olé (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 10 tháng 7 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013.
- ^ a b "[Milan] Noticias". taringa.net (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 4 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013.
- ^ "Colombia – M. Yepes". soccerway.com. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015.
- ^ "Yepes, Mario". National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2012.
- ^ "Mario Yepes International Statistics"., Int.soccerway.com Retrieved on 16 tháng 7 năm 2014
- ^ "Mario Yepes Trophies". Int.soccerway.com. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2014.
Liên kết ngoài
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Trang có lỗi kịch bản
- Lỗi CS1: ngày tháng
- Nguồn CS1 tiếng Ý (it)
- Nguồn CS1 tiếng Tây Ban Nha (es)
- Bài có liên kết hỏng
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Bài có mô tả ngắn
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Các bài viết sử dụng bản mẫu:Huy chương với vô địch
- Hộp thông tin bản mẫu huy chương cần sửa chữa
- Trang sử dụng infobox3cols có các tham số không có tài liệu
- Trang có IPA tiếng Tây Ban Nha
- Sinh năm 1976
- Nhân vật còn sống
- Cầu thủ bóng đá Cali
- Cầu thủ bóng đá nam Colombia
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Colombia
- Cầu thủ bóng đá nam Colombia ở nước ngoài
- Hậu vệ bóng đá nam
- FIFA Men's Century Club
- Cầu thủ bóng đá Categoría Primera A
- Cầu thủ bóng đá Giải bóng đá vô địch quốc gia Argentina
- Cầu thủ bóng đá Ligue 1
- Cầu thủ bóng đá Serie A
- Cầu thủ bóng đá Cortuluá
- Cầu thủ bóng đá Deportivo Cali
- Huấn luyện viên bóng đá Deportivo Cali
- Cầu thủ bóng đá Club Atlético River Plate
- Người Colombian gốc Pháp
- Cầu thủ bóng đá FC Nantes
- Cầu thủ bóng đá Paris Saint-Germain FC
- Cầu thủ bóng đá AC ChievoVerona
- Cầu thủ bóng đá AC Milan
- Cầu thủ bóng đá Atalanta BC
- Cầu thủ bóng đá San Lorenzo de Almagro
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Argentina
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Pháp
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Ý
- Cầu thủ Cúp bóng đá Nam Mỹ 1999
- Cầu thủ Cúp bóng đá Nam Mỹ 2001
- Cầu thủ bóng đá Cúp Liên đoàn các châu lục 2003
- Cầu thủ Cúp bóng đá Nam Mỹ 2007
- Cầu thủ Cúp bóng đá Nam Mỹ 2011
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2014
- Cầu thủ vô địch Cúp bóng đá Nam Mỹ
- Huấn luyện viên bóng đá Colombia
- Huấn luyện viên bóng đá Categoría Primera A
- Nam vận động viên Colombia thế kỷ 21