Abdullah Al-Hamdan
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Abdullah Abdulrahman Al-Hamdan | ||
| Ngày sinh | 13 tháng 9, 1999 [1] | ||
| Nơi sinh | Riyadh, Ả Rập Xê Út | ||
| Chiều cao | 1,84 m (6 ft 0 in)[chuyển đổi: số không hợp lệ][1] | ||
| Vị trí | Tiền đạo | ||
| Thông tin đội | |||
Đội hiện nay | Al-Nassr | ||
| Số áo | 9 | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| 2013–2018 | Al-Shabab | ||
| 2018 | → Sporting Gijón (mượn) | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2018–2021 | Al-Shabab | 44 | (5) |
| 2021–2026 | Al-Hilal | 90 | (7) |
| 2026– | Al-Nassr | 15 | (3) |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2017–2019 | U-20 Ả Rập Xê Út | 14 | (6) |
| 2019–2022 | U-23 Ả Rập Xê Út | 22 | (6) |
| 2019– | Ả Rập Xê Út | 50 | (12) |
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 21 May 2026 ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 08:41, 10 June 2026 (UTC) | |||
Abdullah Abdulrahman Al-Hamdan (tiếng Ả Rập: عَبْد الله عَبْد الرَّحْمٰن الْحَمْدَان; sinh ngày 13 tháng 9 năm 1999) là một cầu thủ bóng đá người Ả Rập Xê Út hiện đang thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Al-Nassr tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Ả Rập Xê Út và đội tuyển quốc gia Ả Rập Xê Út.
Anh là con trai của cựu thủ môn Al-Shabab kiêm cựu huấn luyện viên Hetten, ông Abdulrahman Al-Hamdan. Al-Hamdan từng học tại Trường học Riyadh và gia nhập học viện Al-Shabab từ khi còn nhỏ, nơi anh phát triển tài năng để trở một trong những tài năng trẻ hàng đầu của bóng đá Ả Rập Xê Út. Sau một thời gian thi đấu cho Al-Hilal, anh chính thức chuyển sang Al-Nassr vào ngày 2 tháng 2 năm 2026.[2]
Sự nghiệp câu lạc bộ
Al-Hamdan là một sản phẩm của học viện đào tạo trẻ Al-Shabab. Vào năm 2018, theo một thỏa thuận giữa Liên đoàn bóng đá Ả Rập Xê Út và La Liga, Al-Hamdan đã gia nhập đội U-19 của câu lạc bộ Tây Ban Nha Sporting Gijón theo một bản hợp đồng cho mượn có thời hạn 6 tháng.[4][5] Anh trở lại Al-Shabab sau khi mùa giải 2017–18 khép lại.
Vào ngày 2 tháng 1 năm 2019, Al-Hamdan có trận đấu ra mắt đội một trong khuôn khổ Cúp Nhà vua đối đầu với Al-Sahel, sau khi vào sân từ băng ghế dự bị ở phút thứ 61 để thay cho Khalid Kaabi.[6] Al-Hamdan có trận ra mắt giải quốc nội trong trận đấu gặp Al-Wehda vào ngày 15 tháng 2 năm 2019.[7] Anh có lần đầu tiên đá chính cho câu lạc bộ trong trận đấu cuối cùng của mùa giải 2018–19 gặp Al-Hilal.[8] Vào ngày 23 tháng 9 năm 2019, Al-Hamdan ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ tại giải Arab Club Champions Cup trước câu lạc bộ của Algérie là JS Saoura, đồng thời anh cũng kiến tạo cho Danilo Asprilla ghi bàn nâng tỷ số lên 3–1 cho Al-Shabab.[9] Bốn ngày sau, Al-Hamdan ghi bàn thắng đầu tiên tại giải vô địch quốc gia trong trận thua 1–2 trước Al-Ittihad.[10] Anh kết thúc mùa giải thứ hai tại câu lạc bộ với 5 bàn thắng sau 22 lần ra sân trên mọi đấu trường.
Vào ngày 7 tháng 1 năm 2020, Al-Hamdan vào sân từ băng ghế dự bị ở phút thứ 94 và kiến tạo cho Turki Al-Ammar ghi bàn thắng thứ ba trong chiến thắng 3–1 trên sân khách trước Al-Fateh.[11] Vào ngày 23 tháng 11 năm 2020, Al-Hamdan có lần đá chính đầu tiên trong mùa giải và kiến tạo cho Cristian Guanca ghi bàn gỡ hòa trong trận hòa 2–2 trước Al-Ahli.[12] Vào ngày 27 tháng 11 năm 2020, Al-Hamdan vào sân từ ghế dự bị và kiến tạo cho Turki Al-Ammar ghi bàn ấn định chiến thắng 2–1 trước Damac.[13] Vào ngày 2 tháng 12 năm 2020, anh kiến tạo cho Cristian Guanca gỡ hòa trong trận hòa 2–2 trước Al-Ittihad ở lượt đi bán kết Arab Club Champions Cup. Vào ngày 26 tháng 12 năm 2020, Al-Hamdan đá chính trong trận đấu tại giải quốc nội gặp Al-Batin và đóng góp hai đường kiến tạo.[14] Vào ngày 14 tháng 1 năm 2021, Al-Hamdan ghi bàn thắng đầu tiên trong mùa giải trong chiến thắng 3–0 trên sân khách trước Al-Ain, đồng thời anh cũng kiến tạo cho Cristian Guanca ghi bàn mở tỷ số.[15] Vào ngày 19 tháng 1 năm 2021, anh kiến tạo cho Fábio Martins ghi bàn gỡ hòa trong trận hòa 1–1 trước Al-Faisaly.[16] Vào ngày 25 tháng 1 năm 2021, Al-Hamdan ghi một bàn thắng và có một đường kiến tạo trong chiến thắng 4–2 trên sân khách trước Al-Wehda.[17] Vào ngày 6 tháng 2 năm 2021, Al-Hamdan có lần ra sân cuối cùng cho Al-Shabab trong chiến thắng 4–1 trên sân nhà trước Al-Raed. Anh đã rời sân trong nước mắt khi được thay ra bởi Odion Ighalo ở phút thứ 84.[18] Tổng cộng anh đã có 51 lần ra sân cho Al-Shabab trên mọi đấu trường, ghi được 7 bàn thắng và đóng góp 12 đường kiến tạo.
Vào ngày 6 tháng 2 năm 2021, Al-Hamdan gia nhập Al-Hilal với một bản hợp đồng có thời hạn 5 năm cùng mức phí chuyển nhượng được báo cáo là 3 triệu SAR.[19]
Vào ngày 3 tháng 2 năm 2026, Al-Hamdan chuyển sang đầu quân cho Al-Nassr theo dạng chuyển nhượng tự do.[20]
Sự nghiệp quốc tế
Al-Hamdan có trận đấu ra mắt đội tuyển quốc gia Ả Rập Xê Út trong trận giao hữu gặp Mali vào ngày 5 tháng 9 năm 2019.[21] Một tháng sau, vào ngày 10 tháng 10, anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên của mình trong chiến thắng 3–0 trước Singapore tại vòng loại World Cup 2022.[22]
Vào ngày 28 tháng 12 năm 2024, anh lập cú đúp đầu tiên cho đội tuyển quốc gia trong chiến thắng 3–1 trước Iraq tại Cúp bóng đá vịnh Ả Rập lần thứ 26, qua đó giúp đội nhà giành quyền vào chơi trận bán kết của giải đấu.[23]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 30 tháng 12 năm 2024[24]
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải quốc nội | Cúp Nhà vua | Châu Á | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Al-Shabab | 2018–19 | SPL | 9 | 0 | 1 | 0 | — | — | 10 | 0 | ||
| 2019–20 | 19 | 3 | 0 | 0 | — | 3[a] | 2 | 22 | 5 | |||
| 2020–21 | 16 | 2 | 1 | 0 | — | 2[a] | 0 | 19 | 2 | |||
| Tổng cộng | 44 | 5 | 2 | 0 | 0 | 0 | 5 | 2 | 51 | 7 | ||
| Al-Hilal | 2020–21 | SPL | 8 | 1 | 0 | 0 | 1[b] | 0 | — | 9 | 1 | |
| 2021–22 | 16 | 0 | 3 | 0 | 8[b] | 1 | 1[c] | 0 | 28 | 1 | ||
| 2022–23 | 18 | 1 | 2 | 0 | 4[b] | 0 | 3[d] | 0 | 27 | 1 | ||
| 2023–24 | 21 | 3 | 3 | 0 | 10[b] | 1 | 8[e] | 1 | 42 | 5 | ||
| 2024–25 | 4 | 0 | 2 | 2 | 4[b] | 0 | 1[f] | 0 | 11 | 2 | ||
| Tổng cộng | 67 | 5 | 10 | 2 | 27 | 2 | 13 | 1 | 117 | 10 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 111 | 10 | 12 | 2 | 27 | 2 | 18 | 3 | 168 | 17 | ||
- ^ a b Ra sân tại Arab Club Champions Cup
- ^ a b c d e Ra sân tại AFC Champions League
- ^ Ra sân tại Siêu cúp Ả Rập Xê Út
- ^ Một lần ra sân tại Siêu cúp Ả Rập Xê Út, và hai lần ra sân tại FIFA Club World Cup
- ^ Sáu lần ra sân và ghi một bàn tại Arab Club Champions Cup, và hai lần ra sân tại Siêu cúp Ả Rập Xê Út
- ^ Một lần ra sân tại Siêu cúp Ả Rập Xê Út
Quốc tế
- Bàn thắng và kết quả của Ả Rập Xê Út được để trước.[25]
| Bàn thắng | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1. | 10 tháng 10 năm 2019 | Sân vận động Thành phố Thể thao Vua Abdullah, Buraidah, Ả Rập Xê Út | 2–0 | 3–0 | Vòng loại FIFA World Cup 2022 | |
| 2. | 30 tháng 11 năm 2019 | Sân vận động Abdullah bin Khalifa, Doha, Qatar | 1–0 | 2–0 | Cúp bóng đá vịnh Ả Rập lần thứ 24 | |
| 3. | 5 tháng 12 năm 2019 | Sân vận động Al Janoub, Al Wakrah, Qatar | 1–0 | 1–0 | ||
| 4. | 17 tháng 11 năm 2020 | Sân vận động Hoàng tử Faisal bin Fahd, Riyadh, Ả Rập Xê Út | 1–0 | 1–2 | Giao hữu | |
| 5. | 4 tháng 12 năm 2021 | Sân vận động Education City, Al Rayyan, Qatar | 1–1 | 1–1 | Cúp bóng đá Ả Rập FIFA 2021 | |
| 17 tháng 12 năm 2024 | Sân vận động Câu lạc bộ Al-Shabab, Riyadh, Ả Rập Xê Út | 2–0 | 3–1 | Không chính thức | ||
| 6. | 25 tháng 12 năm 2024 | Sân vận động Sulaibikhat, Sulaibikhat, Kuwait | 3–2 | 3–2 | Cúp bóng đá vịnh Ả Rập lần thứ 26 | |
| 7. | 28 tháng 12 năm 2024 | Sân vận động quốc tế Jaber Al-Ahmad, Kuwait City, Kuwait | 2–1 | 3–1 | ||
| 8. | 3–1 | |||||
| 9. | 4 tháng 9 năm 2025 | Sân vận động FK Viktoria, Praha, Cộng hòa Séc | 2–1 | 2–1 | Giao hữu | |
| 10. | 8 tháng 9 năm 2025 | Malšovická aréna, Hradec Králové, Cộng hòa Séc | 1–1 | 1–1 | ||
| 11. | 31 tháng 3 năm 2026 | TSC Arena, Bačka Topola, Serbia | 1–0 | 2–1 | ||
| 12. | 5 tháng 6 năm 2026 | Sân vận động Q2, Austin, Hoa Kỳ | 2–0 | 3–0 |
Danh hiệu
Al-Hilal
- Giải bóng đá vô địch quốc gia Ả Rập Xê Út: 2020–21, 2021–22, 2023–24
- AFC Champions League: 2021
- Cúp Nhà vua: 2022–23, 2023–24
- Siêu cúp bóng đá Ả Rập Xê Út: 2021, 2023,[26] 2024[27]
Al-Nassr
U-20 Ả Rập Xê Út
Cá nhân
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất tháng Giải bóng đá vô địch quốc gia Ả Rập Xê Út: Tháng 1 năm 2021[28]
Tham khảo
- ^ a b "FIFA Arab Cup Qatar 2021: List of players: Saudi Arabia" (PDF). FIFA. ngày 4 tháng 12 năm 2021. tr. 12. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Al-Nassr signs Al-Hamdan and dispenses with Camara" (bằng tiếng Arabic). Al-Modrj. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2026.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ^ "Abdullah Al-Hamdan". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2019.
- ^ "El Sporting incorpora a la base al juvenil saudí Abdullah Al Hamdan".
- ^ "Abdullah Al Hamdan despunta como goleador en el Sporting".
- ^ "التبديل الثاني".
- ^ "سوماديكا يضم الحمدان وتمبكتي لقائمة الفريق الأول".
- ^ "AL HILAL VS. AL SHABAB 3 - 2".
- ^ "مباراة شبيبة الساورة الشباب".
- ^ "AL SHABAB VS. AL ITTIHAD 1 - 2".
- ^ "AL FATEH VS. AL SHABAB 1 - 3".
- ^ "AL AHLI VS. AL SHABAB 2 - 2".
- ^ "AL SHABAB VS. DAMAK 2 - 1".
- ^ "AL SHABAB VS. AL BATIN 3 - 1".
- ^ "AL-AIN VS. AL SHABAB 0 - 3".
- ^ "AL SHABAB VS. AL FAISALY 1 - 1".
- ^ "AL WAHDA VS. AL SHABAB 2 - 4".
- ^ "بالدموع.. عبدالله الحمدان يودع زملاءه في الشباب".
- ^ "الهلال يعلن شراء المدة المتبقية من عقد الحمدان".
- ^ "رسمياً.. النصر يضم عبدالله الحمدان".
- ^ "ودية مالي تقود الحمدان لهجوم الأخضر".
- ^ "Saudi Arabia 3–0 Singapore". AFC. ngày 10 tháng 10 năm 2024.
- ^ "Arabian Gulf Cup 2024: Renard's Saudi Arabia knocks out defending champion Iraq, wins semifinal 3-1". Sportstar. ngày 28 tháng 12 năm 2024.
- ^ "ABDULLAH ALHAMDDAN".
- ^ "Al-Hamdan, Abdullah". National Football Teams. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2019.
- ^ "Al Hilal thrash Al Ittihad to win Saudi Super Cup". ESPN. ngày 11 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2024.
- ^ "Cristiano Ronaldo, Al Nassr routed by Al Hilal in Saudi Super Cup final". ESPN. ngày 17 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2024.
- ^ "هورفارت أفضل مدرب في يناير .. والحمدان وكاسيو وتاوامبا ينتزعون النجومية". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2021.
Liên kết ngoài
- Abdullah Al-Hamdan tại Soccerway
- Abdullah Al-Hamdan tại National-Football-Teams.com
- Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ
- Bài có mô tả ngắn
- Bài có giá trị chuyển đổi không chính xác
- Trang sử dụng infobox3cols có các tham số không có tài liệu
- Không có hình ảnh địa phương nhưng hình ảnh về Wikidata
- Bài viết có văn bản tiếng Ả Rập
- Nhân vật còn sống
- Cầu thủ bóng đá nam Ả Rập Xê Út
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Ả Rập Xê Út
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá trẻ quốc gia Ả Rập Xê Út
- Tiền đạo bóng đá nam
- Cầu thủ bóng đá Al Hilal SFC
- Cầu thủ bóng đá Al Nassr FC
- Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Tây Ban Nha
- Cầu thủ bóng đá Thế vận hội Mùa hè 2020
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2026