P-5 Pyatyorka
| SS-N-3 Shaddock/Sepal | |
|---|---|
Một quả tên lửa P-5 đang được trưng bày tĩnh, có thể nhìn thấy rõ nắp đậy hốc hút gió màu đỏ | |
| Loại | Tên lửa hành trình[1] |
| Nơi chế tạo | Liên Xô |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1963−1991 (Liên Xô) |
| Sử dụng bởi | Xem mục Các quốc gia vận hành |
| Trận | Chiến tranh Nga-Ukraina[2] |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Cục thiết kế Chelomey |
| Các biến thể | Xem mục Các biến thể |
| Thông số | |
| Chiều cao | 10,8 m (35 ft) |
| Đường kính | 0,98 m (3 ft 3 in) |
| Đầu nổ | HE SAP hoặc hạt nhân |
| Trọng lượng đầu nổ | 650 hoặc 870 kg (1.430 hoặc 1.920 lb) |
| Sức nổ | 10 hoặc 200 kt |
| Động cơ | Turbojet với các động cơ đẩy tăng cường nhiên liệu rắn |
| Sải cánh | 2,5 m (8 ft 2 in) |
| Chất nổ đẩy đạn | Nhiên liệu lỏng[2][3] |
| Tầm hoạt động | 300 hoặc 450 km (190 hoặc 280 mi) |
| Tốc độ | 1.3 Mach |
| Hệ thống chỉ đạo | Quán tính với lệnh điều khiển và hồng ngoại hoặc ra đa chủ động |
| Nền phóng | |
| Tham khảo | [5] |
P-5 Pityorka (tiếng Nga: П-5 «Пятёрка», n.đ. 'số năm'), cũng được biết đến với tên ký hiệu NATO là SS-N-3 Shaddock cho các phiên bản phóng từ tàu ngầm và SS-N-3 Sepal cho các phiên bản phóng từ tàu mặt nước và phòng thủ bờ biển, là một loại tên lửa hành trình sử dụng động cơ tuabin phản lực thời kỳ Chiến tranh Lạnh của Liên Xô, do cục thiết kế Chelomey thiết kế. Ban đầu được thiết kế như một loại vũ khí hạt nhân chiến lược, nó bắt đầu đi vào phục vụ trong Hải quân Liên Xô từ năm 1963. Tất cả các phiên bản phóng từ tàu mặt nước và tàu ngầm vẫn duy trì hoạt động cho đến năm 1994, trong khi các trận địa phòng thủ bờ biển hiện vẫn tiếp tục phục vụ hạn chế trong biên chế Hải quân Nga.
Tổng quan
Tên lửa SS-N-3 Shaddock và Sepal có chiều dài 10,8 m (35 ft) với đường kính thân 0,98 m (3 ft 3 in). Hai cánh quét dài 2,5 m (8 ft 2 in) sẽ tự động xòe ra phía trước sau khi phóng. Một động cơ tuabin phản lực và hốc hút gió được đặt ở phía sau tên lửa, trong khi hai động cơ nhiên liệu rắn đảm nhiệm việc tăng tốc cho tên lửa trong quá trình phóng. Tên lửa có thể bay hành trình ở các độ cao 100 m (330 ft), 4.000 m (13.000 ft), hoặc 7.500 m (24.600 ft) với tốc độ tối đa 1.3 Mach. Sau khi các động cơ đẩy tăng cường được tách bỏ, động cơ tuabin phản lực sẽ cung cấp năng lượng cho tên lửa trong suốt phần còn lại của hành trình bay.[6]
Hệ thống dẫn đường được cung cấp bởi ra đa 'Scoop Pair' (dành cho tàu mặt nước) hoặc 'Front Door' (dành cho tàu ngầm) ở tầm ngắn, hoặc thông qua liên kết dữ liệu từ máy bay cánh cố định hoặc trực thăng bao gồm Tu-16 Badger, Tu-95 Bear-D, Ka-25 Hormone, và Ka-27 Helix. Trong trường hợp sau, máy bay có thể gửi hình ảnh ra đa về tàu mặt nước hoặc tàu ngầm phóng, cho phép sĩ quan điều khiển hỏa lực lập trình các tọa độ mục tiêu cho tên lửa.[1][7] Một nhược điểm của Shaddock là tàu ngầm phóng phải duy trì trạng thái nổi sau khi phóng lên tới 25 phút khi bắn vào các mục tiêu ở khoảng cách 250 hải lý (460 km; 290 mi).[1]
Các bản nâng cấp sau này đã sử dụng dữ liệu giám sát từ vệ tinh để cho phép sĩ quan điều khiển hỏa lực lập kế hoạch đường bay cho tên lửa. Tên lửa sử dụng hệ thống dẫn đường quán tính với các cập nhật lệnh để điều khiển tên lửa ở giữa hành trình, trong khi ở giai đoạn cuối, một máy đo độ cao bằng ra đa và hệ thống tự dẫn bằng hồng ngoại hoặc ra đa chủ động được sử dụng để dẫn tên lửa hướng tới mục tiêu.[6]
Các biến thể tên lửa P-5, P-6 và P-35 có tầm bắn tối thiểu là 25 km (16 mi) và có thể mang theo đầu đạn thuốc nổ mạnh thông thường, đạn xuyên giáp bán phần (HE SAP), đầu đạn hạt nhân 10 kiloton, hoặc một đầu đạn hạt nhân 650 kg (1.430 lb) với đương lượng nổ 200 kt.[7]
Các biến thể
Tên ký hiệu NATO cho họ tên lửa P-5 đã được gán không theo thứ tự và không phản ánh đúng quá trình phát triển của Liên Xô, do lượng thông tin tình báo hạn chế vào thời điểm đó.[2] Ngoài ra, mặc dù các phiên bản phóng từ tàu mặt nước được NATO định danh là Sepal, chúng thường được gọi chung là Shaddock.[1]
- P-5 Pityorka (Tên ký hiệu NATO: SS-N-3C Shaddock)[8] − Tên lửa tấn công chiến lược phóng từ tàu ngầm, chỉ sử dụng dẫn đường quán tính.[1] Bị rút khỏi biên chế vào năm 1965.[3]
- P-5D (Tên ký hiệu NATO: SS-N-3C Shaddock) − Phiên bản cải tiến với tầm bắn xa hơn và khả năng xuyên thủng hệ thống phòng thủ của đối phương tốt hơn để tiếp cận mục tiêu. Được chấp nhận đưa vào trang bị năm 1962 và rút khỏi biên chế năm 1965.[3]
- P-6 (Tên ký hiệu NATO: SS-N-3A Shaddock) − Biến thể tên lửa chống hạm phóng từ tàu ngầm.[9]
- P-7 − Nguyên mẫu tầm xa mở rộng dựa trên P-5 với tầm bắn 1.000 km (620 mi). Tên lửa được thử nghiệm trong giai đoạn 1962−1964, nhưng quá trình phát triển đã bị dừng lại sau khi Liên Xô quyết định tập trung vào phát triển tên lửa chống hạm lắp trên tàu ngầm.[3]
- P-10 − Nguyên mẫu do Cục thiết kế Beriev thiết kế, bốn quả tên lửa đã được phóng thử từ một tàu ngầm lớp Zulu được sửa đổi vào mùa thu năm 1957, nhưng công việc nghiên cứu xa hơn đã bị dừng lại sau các cuộc thử nghiệm thành công với tên lửa P-5.[10]
- P-20 − Nguyên mẫu tầm xa dựa trên P-5, quá trình phát triển bị dừng lại vào tháng 2 năm 1960.[3]
- P-35 Utes (Tên ký hiệu NATO: SS-N-3B Sepal) − Biến thể phóng từ tàu mặt nước,[9] nó cũng có thể được phóng từ xe bệ phóng tự hành (TEL).[2]
- P-35B Redut (Tên ký hiệu NATO: SS-N-3B Sepal)[4] − Tên lửa phòng thủ bờ biển được lắp đặt trên xe bệ phóng tự hành bánh lốp 8×8 BAZ-135.[9]
- P-35E (Tên ký hiệu NATO: SS-N-3B Sepal) − Biến thể xuất khẩu của P-35 với tầm bắn ngắn hơn và trọng lượng nhẹ hơn.[9]
- 3M44 Progress − Phiên bản nâng cấp của P-35 lắp đặt trên xe bệ phóng tự hành hoặc bệ phóng tên lửa chống hạm cố định Object 100.[2] Nó có tầm bắn được báo cáo là 460 km (286 mi) và có thể mang đầu đạn hạt nhân đương lượng nổ 350 kt.[4]
- Tên lửa mục tiêu và UAV − Nga và Syria cũng sử dụng các phiên bản chuyển đổi thành tên lửa mục tiêu và thiết bị bay không người lái (UAV) từ các tên lửa Shaddock/Sepal.[9]
Triển khai
Nền tảng hải quân
Tàu ngầm mang tên lửa điều khiển
Từ năm 1961 đến 1964, mười ba tàu ngầm lớp Whiskey (bao gồm 1 chiếc "Single Cylinder", 5 chiếc "Twin Cylinder" và 7 chiếc "Long Bin") đã được chuyển đổi thành tàu ngầm mang tên lửa điều khiển để trang bị tên lửa SS-N-3 Shaddock. chúng duy trì hoạt động cho đến năm 1985, khi chiếc tàu ngầm mang tên lửa điều khiển lớp Whiskey cuối cùng bị loại biên.[11]

Trong khi tàu ngầm lớp Echo không có đủ không gian cho ra đa dẫn đường Shaddock, phiên bản cải tiến Echo II đã có phần thân được mở rộng, có khả năng mang theo 8 tên lửa Shaddock. Tất cả chúng đã bị loại biên vào cuối năm 1993.[12]
Các tàu ngầm lớp Juliett là phiên bản diesel-điện tương đương với lớp Echo II nhưng chỉ có một nửa khả năng mang tên lửa. Tất cả chúng đã bị loại biên vào cuối năm 1994.[12]
Tàu tuần dương tên lửa
Tàu tuần dương lớp Kynda mang theo 16 tên lửa P-35 (SS-N-3B Sepal) được lắp đặt trên hai bệ phóng bốn nòng, một ở phía trước và một ở phía sau. Tất cả chúng đã được rút khỏi biên chế vào năm 1995.[9][13]
Tàu tuần dương lớp Kresta I theo kế hoạch ban đầu sẽ mang loại tên lửa P-500 Bazalt tiên tiến hơn, nhưng do sự chậm trễ trong quá trình phát triển, nó buộc phải mang theo 4 tên lửa Sepal lắp trên hai bệ phóng đôi.[14]
Nền tảng trên đất liền
Phòng thủ bờ biển di động
Trong vai trò phòng thủ bờ biển, biến thể SS-N-3B Sepal được vận chuyển bởi một xe bệ phóng tự hành (TEL) bánh lốp 8×8 BAZ-135, mỗi xe mang một quả tên lửa. Xe TEL có chiều dài 13,5 m (44 ft), chiều rộng 2,86 m (9 ft 5 in) và trọng lượng chiến đấu là 21.000 kg (46.000 lb). Xe vận hành bởi kíp xe năm người và có tốc độ di chuyển trên đường trường là 40 km/h (25 mph).[15]
Phòng thủ bờ biển cố định
Vào năm 1954, Liên Xô đã xây dựng một tổ hợp tên lửa chống hạm ngầm dưới lòng đất được gọi là Object 100 trong các dãy núi gần Balaklava, nhằm bảo vệ Sevastopol và các hướng tiếp cận hàng hải phía nam của Liên Xô. Mặc dù ban đầu nó sử dụng tên lửa chống hạm Sopka, hệ thống này đã được hiện đại hóa để sử dụng tên lửa P-35 vào năm 1973 và tên lửa 3M44 Progress vào năm 1982.[4]
Lịch sử vận hành
Ban đầu được thiết kế để cho phép tàu ngầm thực hiện các cuộc tấn công chiến lược chống lại các mục tiêu trên mặt đất,[16] P-5 đã được rút khỏi biên chế vào năm 1965. Trong giữa những năm 1950, nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev đã yêu cầu ưu tiên phát triển các tên lửa hành trình chống hạm phóng từ tàu ngầm để đối phó với các tàu sân bay của Mỹ. Tên lửa P-6 sau đó đã được lắp đặt trên tàu ngầm, tàu mặt nước (dưới định danh P-35),[3] và các trận địa phòng thủ bờ biển.[4]
Sau khi Liên Xô tan rã, tất cả các tên lửa phóng từ tàu ngầm và tàu mặt nước đã được rút khỏi biên chế Hải quân Nga vào năm 1994, trong khi các tên lửa phòng thủ bờ biển được giữ lại để thử nghiệm và huấn luyện bắn mục tiêu.[4][5]
Hải quân Syria từng vận hành một số trận địa phòng thủ bờ biển của Liên Xô và Nga, bao gồm cả tên lửa P-35. Sau khi chính quyền Assad sụp đổ (tháng 12 năm 2024), Hải quân Israel đã phát động một cuộc tấn công nhằm vào các căn cứ hải quân của Syria để ngăn chặn các khí tài này rơi vào tay Hay'at Tahrir al-Sham và các nhóm phiến quân khác. Tính đến tháng 2 năm 2025, tình trạng của các hệ thống phòng thủ hải quân Syria vẫn chưa được xác định rõ ràng.[17][18]
Sự cố hồ Inari
Vào ngày 28 tháng 12 năm 1984, một quả tên lửa SS-N-3 được Hải quân Liên Xô sử dụng làm mục tiêu bay đã đi lạc qua biên giới Phần Lan và rơi xuống Hồ Inari.[19][20] Ra đa cảnh báo sớm của Phần Lan tại Rovaniemi và một ra đa tầm ngắn tại Kaamanen đã phát hiện ra nó, và hai chiếc tiêm kích Saab 35 Draken đã được phái đi nhưng không tìm thấy gì. Vài ngày sau, một người chăn tuần lộc đã tìm thấy một nắp nhựa của khoang điện tử, và vì không thể xác định được nó là gì nên đã mang tới một trạm Biên phòng. Các nhà phân tích quân sự Phần Lan nhận ra đó là một bộ phận của máy bay MiG. Quả tên lửa này thực chất là một phiên bản sửa đổi được trang bị thiết bị điện tử hàng không lấy từ MiG để điều khiển từ xa. Tên lửa đã lao xuyên qua lớp băng trên mặt hồ, do đó vị trí rơi rất dễ xác định, và quân đội Phần Lan sớm trục vớt quả tên lửa lên để phân tích. Nguyên nhân khả dĩ nhất là do mất liên lạc vô tuyến giữa người điều khiển và tên lửa. Mặc dù nguyên nhân vụ tai nạn khá bình thường, nhưng nó xảy ra vào một thời điểm không thuận lợi, ngay trước một hội nghị quốc tế về tên lửa hành trình, và đã có nhiều suy đoán về việc liệu đây có phải là một hành động phô trương sức mạnh của Liên Xô hay không.[21]
Chiến tranh Nga-Ukraine

Vào ngày 18 tháng 1 năm 2024, những bức ảnh cho thấy mảnh vỡ của một quả tên lửa P-35B hoặc 3M44 Progress (bị phòng không Ukraine bắn hạ hoặc rơi do trục trặc kỹ thuật) đã được lan truyền trên mạng xã hội. Do các lệnh trừng phạt kinh tế chống lại Nga và việc Hải quân Ukraine thiếu các tàu chiến lớn, phía Nga đã phóng các tên lửa chống hạm này để tấn công các mục tiêu trên mặt đất tại Ukraine.[2]
Theo tạp chí The War Zone, quả tên lửa có thể đã được phóng từ bệ phóng cố định của tổ hợp Object 100 hoặc một xe bệ phóng tự hành (TEL) đặt tại Crimea.[2]
Các quốc gia vận hành
Các quốc gia đang vận hành
Hải quân Angola − Một trận địa Sepal đặt tại Luanda[22]
Hải quân Nga − Các tên lửa phóng từ tàu ngầm và tàu mặt nước đã được rút khỏi biên chế từ năm 1994.[15] Một số trận địa phòng thủ bờ biển Sepal vẫn tiếp tục hoạt động tính đến năm 2025.[23]
Hải quân Syria − Tên lửa P-35 được sử dụng trong các trận địa phòng thủ bờ biển. Tình trạng hiện chưa rõ sau sự sụp đổ của chính quyền Assad và Chiến dịch Mũi tên Bashan của Israel.[17][18]
- Tập tin:Vietnam People's Navy flag.svg Hải quân Nhân dân Việt Nam − Được sử dụng trong các trận địa phòng thủ bờ biển.[24]
Từng vận hành
Hải quân Bulgaria − Từng được sử dụng trong các trận địa phòng thủ bờ biển.[25]
Hải quân Liên Xô − Các biến thể SS-N-3A Shaddock và SS-N-3B Sepal vẫn duy trì trong biên chế vào năm 1991,[26] sau đó được chuyển giao cho Hải quân Nga.[9]
Hải quân Ukraina − Tổ hợp Object thể 100 được chuyển giao cho Ukraine vào năm 1996, nhưng nó đã ở trạng thái không hoạt động trước khi xảy ra sự kiện Sáp nhập Crimea vào Liên bang Nga.[4]
Tham khảo
- Ghi chú
- ^ a b c d e Polmar 1986, tr. 428.
- ^ a b c d e f g Newdick, Thomas (ngày 19 tháng 1 năm 2024). "Russia Now Using Giant Soviet-Era Ground-Launched Anti-Ship Missile To Attack Ukraine". The War Zone. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- ^ a b c d e f Polmar & Moore 2004, tr. 153.
- ^ a b c d e f g Newdick, Thomas (ngày 18 tháng 10 năm 2020). "Russia Still Uses This Cold War Relic Of An Underground Anti-Ship Missile System In Crimea". The War Zone. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
- ^ a b Lennox 2003, tr. 162−163.
- ^ a b Lennox 2003, tr. 182.
- ^ a b Lennox 2003, tr. 182−183.
- ^ Polmar & Moore 2004, tr. 149.
- ^ a b c d e f g Lennox 2003, tr. 162.
- ^ Polmar & Moore 2004, tr. 150.
- ^ Polmar 1986, tr. 136.
- ^ a b Gardiner & Chumbley 1995, tr. 402.
- ^ Gardiner & Chumbley 1995, tr. 380.
- ^ Gardiner & Chumbley 1995, tr. 381.
- ^ a b Lennox 2003, tr. 163.
- ^ Polmar & Moore 2004, tr. 149−150.
- ^ a b Roblin, Sebastien (ngày 13 tháng 12 năm 2024). "Israeli Missile Boats Blew Up Syria's Navy, And It's Not the First Time". 19FortyFive. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- ^ a b IISS 2025b, tr. 370.
- ^ "Scandinavia Wayward Missile". ngày 14 tháng 1 năm 1985. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2010 – qua www.time.com.
- ^ "Finns Return Soviet Missile That Strayed in Maneuvers". The New York Times. Reuters. ngày 25 tháng 6 năm 1985.
- ^ Tiilikainen, Heikki (2003). Kylmän sodan kujanjuoksu [Running the Gauntlet of the Cold War] (bằng tiếng Phần Lan). Gummerus. ISBN 951-20-6452-9.
- ^ IISS 2025c, tr. 454.
- ^ IISS 2025, tr. 188.
- ^ IISS 2025a, tr. 310.
- ^ IISS 1991, tr. 85.
- ^ IISS 1991, tr. 38, 39, 42.
- Tài liệu
- Gardiner, Robert; Chumbley, Stephen, biên tập (1995). Conway's All the World's Fighting Ships, 1947−1995. Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 978-1-55750-132-5.
- International Institute for Strategic Studies (1991). The Military Balance 1991-1992. London: Brassey's. ISBN 978-0-08-041325-9.
- International Institute for Strategic Studies (ngày 11 tháng 2 năm 2025). "Chapter Four: Russia and Eurasia". The Military Balance. 125 (1). Taylor & Francis: 152–205. doi:10.1080/04597222.2025.2445476. ISSN 0459-7222. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- International Institute for Strategic Studies (ngày 11 tháng 2 năm 2025). "Chapter Five: Asia". The Military Balance. 125 (1). Taylor & Francis: 206–311. doi:10.1080/04597222.2025.2445477. ISSN 0459-7222. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- International Institute for Strategic Studies (ngày 11 tháng 2 năm 2025). "Chapter Six: Middle East and North Africa". The Military Balance. 125 (1). Taylor & Francis: 312–379. doi:10.1080/04597222.2025.2445478. ISSN 0459-7222. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- International Institute for Strategic Studies (ngày 11 tháng 2 năm 2025). "Chapter Eight: Sub-Saharan Africa". The Military Balance. 125 (1). Taylor & Francis: 440–509. doi:10.1080/04597222.2025.2445480. ISSN 0459-7222. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2025.
- Lennox, Duncan (2003). Jane's Strategic Weapons Systems (ấn bản thứ 38). Coulsdon, Surrey: Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-0880-2.
- Polmar, Norman (1986). Guide to the Soviet Navy. Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 978-0-87021-240-6.
- Polmar, Norman; Moore, Kenneth J. (2004). Cold War Submarines: The Design and Construction of U.S. and Soviet Submarines (bằng tiếng Anh). Potomac Books, Inc. ISBN 978-1-59797-319-9.