Bước tới nội dung

R-17 Elbrus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
R-17 Elbrus
Một tên lửa R-17 tại Muzeum Uzbrojenia (Bảo tàng Vũ khí), Poznań, Ba Lan (2004)
LoạiTên lửa đạn đạo tầm ngắn
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1962−nay
Sử dụng bởiXem phần vận hành
Trận
Lược sử chế tạo
Người thiết kếViktor Makeyev[1]
Năm thiết kế1958−1961[2]
Nhà sản xuấtNhà máy cơ khí Votkinsk
Giá thành1.000.000 US$ (tương đương US$2.658.694 vào năm 2026)[3]
Giai đoạn sản xuất1959[2]−1987[4]
Số lượng chế tạo7.000−10.000 (ước tính)[5][6]
Các biến thểXem phần biến thể
Thông số
Chiều dài11,2−11,4 m (37 ft)
Đường kính885 mm (34,8 in)
Kíp chiến đấu7

Tầm bắn xa nhất300 km (190 mi)
Đầu nổNổ mạnh (HE), đạn chùm, hóa học, hạt nhân

Động cơĐộng cơ nhiên liệu lỏng Isayev/KBKhM 9D21 (tên lửa)
Diesel D-12-525A (xe TEL)
Khoảng sáng gầm440 mm (17 in)
Sải cánh1.800 mm (71 in)
Chất nổ đẩy đạnTM-185 (dẫn xuất dầu hỏa) / AK-27I (27% N
2
O
4
73% HNO
3
)
Tầm hoạt động450 km (280 mi) (đầy tải)
Tốc độ45 km/h (28 mph)
Độ chính xác450–900 m (490–980 yd) CEP[5][7]
Nền phóngXe phóng tự hành (TEL) 9P117M
Tham khảo[8]

R-17 Elbrus (tiếng Nga: tiếng Nga: Р-17, 9К72 «Эльбрус», được đặt tên theo Núi Elbrus),[9] chỉ số GRAU 9K72 là một loại tên lửa đạn đạo chiến thuật, ban đầu được phát triển bởi Liên Xô. Nó cũng được biết đến rộng rãi qua tên ký hiệu của NATOSS-1C Scud-B. R-17 là một trong số vài loại tên lửa của Liên Xô mang tên ký hiệu Scud, và là phiên bản được phóng phổ biến nhất trong dòng tên lửa này, với số lượng sản xuất ước tính khoảng 7.000 quả (1960–1987). Cũng được định danh là R-300 trong những năm 1970, R-17 được phát triển từ loại R-11 Zemlya. Nó đã được vận hành bởi 32 quốc gia và được sản xuất tại bốn quốc gia ngoài Liên Xô. Hiện nay nó vẫn còn phục vụ trong biên chế quân đội của một số nước. Triều Tiên đã thực hiện sao chép ngược loại tên lửa này để tạo ra phiên bản Hwasong-5.

Lịch sử

Mô hình (mock-up) đầu tiên đã được Makeyev thiết kế và chế tạo vào năm 1958–1959, trước khi chương trình được chuyển giao cho Nhà máy cơ khí Votkinsk vào năm 1959 để sản xuất hàng loạt. Đợt phóng đầu tiên được thực hiện vào năm 1961, và nó đi vào phục vụ năm 1962, được lắp trên xe mang phóng tự hành (TEL) bánh xích 2P19.[10]

Phần đuôi của tên lửa 8K14, hiển thị các vây cố định và các cánh lái bằng than chì dùng để điều khiển quỹ đạo tên lửa.
R-17 trên rơ-moóc vận tải nạp đạn với xe kéo ZIL-131

Trong những năm 1960, Liên Xô đã xuất khẩu tên lửa R-17 và xe phóng 2P19 cho các đồng minh thuộc Khối Warszawa, mặc dù không quân đội nào trong số đó có quyền tiếp cận các đầu đạn hạt nhân, vốn được lưu trữ trên lãnh thổ của họ tại các Căn cứ Kỹ thuật Tên lửa (RTB) do Liên Xô kiểm soát. Sau khi xe phóng tự hành 9P117 được giới thiệu, các lữ đoàn R-17 của Khối Warszawa đã được trang bị lại bằng loại xe này. Khoảng 140 xe phóng tự hành đã được xuất khẩu sang Ba Lan, Đông Đức, Tiệp Khắc, Hungary, Romania và Bulgaria. Hầu hết các lữ đoàn R-17 của các nước này đã bị giải thể vào những năm 1990 khi trang thiết bị của họ bị hao mòn và không hiệu quả nếu không có đầu đạn hạt nhân.[11]

Liên Xô ít nỗ lực xuất khẩu hệ thống R-17 ra ngoài Khối Warszawa vì nó phức tạp, đắt đỏ và không hiệu quả về mặt quân sự nếu thiếu đầu đạn hạt nhân, nhưng một số quốc gia Trung Đông đã bày tỏ sự quan tâm đến việc sở hữu hệ thống này, một phần vì mục đích tuyên truyền, tạo cho quân đội của họ một lớp vỏ hiện đại, và một phần vì khả năng thực hiện các đòn tấn công sâu vào bên trong lãnh thổ Israel, do không quân của họ tỏ ra không đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ tấn công mặt đất khi phải đối mặt với Không quân Israel được đào tạo tốt hơn.[12]

Số lượng hệ thống xuất khẩu chính xác vẫn chưa được biết rõ, với một tài liệu từ phía Nga cho rằng 2.300 tên lửa đã được bán cho 11 quốc gia cho đến năm 1989, trong khi Zaloga cho biết kho vũ khí của Khối Warszawa có hơn 1.000 tên lửa, và hơn 3.000 quả đã được xuất khẩu sang Trung Đông và Afghanistan trong giai đoạn 1970 - 1990.[13]

Đối mặt với việc Liên Xô từ chối cung cấp tên lửa R-17, Triều Tiên đã thiết lập một dây chuyền sản xuất không chính thức với sự hỗ trợ của Ai Cập, tự sản xuất tại nội địa với tên gọi Hwasong-5.[14]

Theo một báo cáo của CIA năm 1988, Ai Cập có khả năng đã lắp ráp các tên lửa Hwasong-5 nội địa từ các bộ linh kiện tháo rời, mặc dù không rõ liệu nỗ lực chế tạo chúng hoàn toàn nội địa có thành công hay không.[15] Iran cũng đã lắp ráp các tên lửa Hwasong-5 tại nội địa, đặt cho chúng định danh nội địa là Shahab-1.[16] Syria cũng đã tự sản xuất R-17 và R-17M với sự hỗ trợ của Triều Tiên và Iran. Trước cuộc Nội chiến Syria, ước tính Syria có khả năng chế tạo 30 tên lửa R-17 mỗi năm,[17] dưới các định danh Golan-1Golan-2.[18]

Thiết kế

R-17 sở hữu những cải tiến quan trọng so với R-11. Động cơ Isayev RD-21 sử dụng hỗn hợp chất oxy hóa axit nitric bốc khói đỏ (IRFNA) và nhiên liệu dimethylhydrazine bất đối xứng (UDMH), được đưa vào buồng đốt bằng bơm nhiên liệu để đảm bảo lực đẩy ổn định hơn. Hệ thống dẫn đường, chỉ hoạt động trong giai đoạn tăng tốc, sử dụng ba con quay hồi chuyển, mang lại cho nó sai số vòng tròn xác suất (CEP) là 450 m (490 yd)[5] (900 m (980 yd) theo các nguồn tin phương Tây[7]). Một đầu đạn hạt nhân đã được thiết kế cho R-17, với đương lượng nổ tùy chọn từ 5 đến 70 kiloton. Tuy nhiên, nó cũng có thể mang đầu đạn hóa học chứa 555 kg (1.224 lb) chất độc thần kinh VX dạng lỏng; một vũ khí thông thường với một đầu đạn nổ mạnh đơn khối; hoặc một loạt các tải trọng phân mảnh, sử dụng đạn nổ mạnh, đạn chống tăng hoặc đạn chống đường băng.[5]

Xe MAZ-543 Uragan mang theo tên lửa 9K72 Elbrus

Ban đầu, R-17 được đặt trên một xe phóng tự hành (TEL) bánh xích tương tự như R-11, định danh là 2P19, nhưng điều này không thành công lắm vì độ rung của xích có xu hướng gây nhiễu cho các thiết bị điện tử phóng. Việc sản xuất mô hình này đã bị dừng lại sau khi Khrushchev hủy bỏ việc sản xuất xe tăng hạng nặng vào năm 1962, và một xe phóng bánh lốp đã được thiết kế bởi Cục Thiết kế Trung ương Titan, bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1967.[19] Phương tiện MAZ-543 mới được chính thức định danh là 9P117 Uragan, và các kíp vận hành Nga đã đặt biệt danh cho nó là Kashalot (Cá nhà táng), vì kích thước khổng lồ của nó.[20] Xe MAZ-543 tám bánh có trọng lượng đầy tải là 37.400 kg, tốc độ đường trường 55 km/h và tầm hoạt động 650 km. Nó có thể thực hiện quy trình phóng một cách độc lập, nhưng điều này thường được chỉ đạo từ một xe chỉ huy riêng biệt. Tên lửa được dựng lên vị trí thẳng đứng bằng các cần cẩu vận hành bằng thủy lực, thường mất bốn phút, trong khi toàn bộ quy trình phóng kéo dài khoảng một giờ.[5]

Tổ chức

Trong đầu những năm 1960, các lữ đoàn tên lửa R-17 được triển khai ở cấp phương diện quân với hai lữ đoàn có tổng cộng chín xe phóng và ở cấp tập đoàn quân với một lữ đoàn cho mỗi tập đoàn quân có sáu xe phóng mỗi lữ đoàn. Do sự phức tạp của các xe phóng đời đầu, mỗi lữ đoàn có quân số khoảng 3.500 người cùng với 700 loại xe hỗ trợ khác nhau. Một lữ đoàn R-17 bao gồm một bộ chỉ huy và tham mưu, hai tiểu đoàn phóng (với khoảng 745 người cộng với 265 xe và xe máy), một đại đội kỹ thuật, đại đội khí tượng, đại đội sửa chữa, đại đội hậu cần, đại đội xe công binh, trung đội phòng hóa và trung đội quân y.[21]

Một đại đội R-17 ban đầu bao gồm sáu xe phóng 2P19, tám rơ-moóc tên lửa 2T3, ba xe tải chứa đầu đạn hạt nhân 9F21, mười xe chỉ huy, sáu xe khảo sát UAZ-452, bốn xe cần cẩu 8T210, ba xe chở nhiên liệu 8G1 và bốn xe chở chất oxy hóa 8G17. Sau khi đưa TR-1 Temp vào phục vụ ở cấp phương diện quân, hầu hết các lữ đoàn R-17 đã được điều chuyển để hỗ trợ các tập đoàn quân hợp thành. Đến năm 1967, các lữ đoàn R-17 có khoảng 1.200 người và 12 xe phóng mỗi lữ đoàn, nhờ vào việc giới thiệu xe phóng tự hành 9P117 đơn giản hơn và thiết bị xử lý cải tiến. Vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, một số lữ đoàn R-17 đóng tại biên giới với NATO đã được bổ sung thêm một đại đội cho mỗi tiểu đoàn, nâng tổng số xe phóng lên 18. Sau khi một trong những lữ đoàn này bị giải thể vào năm 1979, các xe phóng của nó đã được điều chuyển cho hai lữ đoàn khác ở Đông Đức, tạo ra hai lữ đoàn với 27 xe phóng (bao gồm 3 tiểu đoàn với 9 xe phóng mỗi tiểu đoàn). Trước khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Quân đội Liên Xô có tổng cộng 35 lữ đoàn R-17 với khoảng 450 xe phóng.[22]

Các biến thể

Liên Xô

  • R-17 − Phiên bản gốc với tầm bắn hiệu quả 270 km (170 mi), sử dụng chất oxy hóa AK-20I và nhiên liệu TG-02 Tonka.[23]
  • R-17M − Phiên bản cải tiến, sử dụng loại nhiên liệu giàu năng lượng hơn (sự kết hợp giữa chất oxy hóa AK-27I với nhiên liệu TM-185) và các thay đổi khác giúp tăng tầm bắn tối đa lên 300 km (190 mi). Trong những năm 1970, R-17M đã được cải tiến thêm với các bình nhiên liệu được lót lớp đặc biệt, cho phép tên lửa được lưu trữ trong tình trạng nạp đầy nhiên liệu lên đến 90 ngày.[23]
  • R-17M tăng tầm − Được thử nghiệm lần đầu tại bãi thử Kapustin Yar vào năm 1965, nó có thể đạt tầm bắn 500–600 km (310–370 mi), nhưng với độ chính xác kém hơn. Ngoài ra, hiệu suất của tên lửa này tương tự như loại 9M76 Temp đã được đưa vào sử dụng, điều này dường như đã ngăn cản nó được biên chế trong Quân đội Liên Xô. Tình báo Mỹ ban đầu định danh nó là KY-3, nhưng sau đó gọi là SS-1D Scud-C.[6]
  • R-17E − Phiên bản xuất khẩu, mang đầu đạn nổ mạnh 8F44F. Khi được phóng ở tầm bắn tối đa 300 km, nó va chạm với tốc độ 1,4 km/s (0,87 mi/s), trong khi vụ nổ thường để lại một hố sâu 1,5–4 m (4 ft 11 in–13 ft 1 in) và rộng 12 m (39 ft).[24]

Triều Tiên

  • Hwasong-5 − Phiên bản sao chép ngược được phát triển với sự hỗ trợ của Ai Cập.[14][15] Được sản xuất nội địa bởi Iran và Syria.[16][18]
  • Hwasong-6 − Phiên bản cải tiến của Hwasong-5 với tầm bắn được kéo dài từ 330 km (210 mi) lên 500 km (310 mi)[14]

Iraq

  • Al-Husayn − Được đặt theo tên của Husayn ibn Ali, đây là phiên bản sửa đổi từ R-17E với đầu đạn nhỏ hơn và bình nhiên liệu được mở rộng, giúp tăng tầm bắn tối đa lên 650 km (400 mi).[25]
  • Al-Abbas − Biến thể tăng tầm với tầm bắn tối đa 860 km (530 mi).[26]
  • Al-Hijarah − Biến thể với đầu đạn bê tông nhằm xuyên thủng các mục tiêu kiên cố của Iran hoặc Israel.[26]

Lịch sử tham chiến

Afghanistan

Việc sử dụng R-17 rộng rãi nhất đã diễn ra trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Liên Xô-Afghanistan. Khi Quân đội Liên Xô rút khỏi Afghanistan vào tháng 5 năm 1988, Quân đội Afghanistan đã nhận được các tên lửa R-17E như một phương án thay thế cho sức mạnh không quân của Liên Xô. Mặc dù các tên lửa R-17 của Afghanistan về mặt danh nghĩa được biên chế cho Lữ đoàn Tên lửa 99 tại Afshur, nhưng thực tế chúng chủ yếu được vận hành bởi nhân sự Liên Xô và người Afghanistan dần được tích hợp vào đơn vị. Chúng được sử dụng để tấn công các kho đạn của Mujahideen Afghanistan gần biên giới Pakistan và trong cuộc phòng thủ Jalalabad thành công, nơi tổng cộng 438 tên lửa R-17 đã được phóng.[3]

Tính đến tháng 10 năm 1989, thêm 995 tên lửa R-17 nữa đã được phóng chống lại quân Mujahideen. Khi Liên Xô hoàn tất việc rút quân và đất nước rơi vào cuộc nội chiến kéo dài, số lượng các đợt phóng R-17 đã giảm dần. Đến tháng 5 năm 1991, Lữ đoàn Tên lửa 99 đã bắn 1.554 quả trong tổng số khoảng 1.700 tên lửa R-17 nhận được. Vào ngày 24 tháng 4 năm 1992, lực lượng mujahideen của Ahmad Shah Massoud đã chiếm được căn cứ quân sự Afshur cùng với hầu hết các tên lửa R-17 còn lại (khoảng 50 quả) và các bệ phóng. Các phe phái mujahideen khác cũng chiếm được một vài tên lửa và TEL, nhưng họ không thể phóng chúng nếu không có sự giúp đỡ của các cựu nhân viên Lữ đoàn Tên lửa 99. Trong cuộc Nội chiến Afghanistan (1992–1996), khoảng 44 tên lửa đã được các phe phái khác nhau bắn trong nhiều trận chiến từ tháng 4 năm 1991 đến mùa xuân năm 1996. Taliban đã chiếm được một phần kho dự trữ còn sót lại trong cuộc giao tranh vào cuối những năm 1990, nhưng do tình trạng thiết bị kém và thiếu nhân sự được đào tạo, chỉ có năm quả tên lửa được bắn sau mùa hè năm 1996. Sau cuộc Hoa Kỳ tấn công Afghanistan vào năm 2001, bốn bệ phóng còn hoạt động cuối cùng đã bị tháo dỡ tại Thung lũng Panjshir vào tháng 1 năm 2005.[27]

Armenia

Trong Xung đột Nagorno-Karabakh 2020, người Armenia được báo cáo là đã bắn tên lửa R-17 và Tochka vào thành phố Ganja, Azerbaijan. Các nhà phân tích của Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế lưu ý rằng Armenia có khả năng đã sử dụng các tên lửa R-17 và Tochka từ thời Soviet để bảo tồn kho dự trữ tên lửa Iskander hiện đại hơn và nhằm tránh làm leo thang xung đột ra ngoài khu vực Nagorno-Karabakh. Họ cũng lưu ý rằng cả Armenia và Azerbaijan đều có thể bắn trúng hầu hết các mục tiêu trong khu vực bằng pháo phản lực tầm xa, điều này làm hạn chế giá trị chiến thuật của việc sử dụng các tên lửa đạn đạo đắt tiền.[28]

Ai Cập

Ai Cập đã nhận được chín xe TEL và khoảng 18 tên lửa R-17E vào năm 1973, ngay trước khi bắt đầu Chiến tranh Yom Kippur. Chúng được biên chế cho Lữ đoàn Pháo binh 65, trực thuộc Quân đoàn 3 vào thời điểm đó. Anwar Sadat đã đe dọa bắn tên lửa R-17 vào các thành phố của Israel, nhưng khi Israel đặt các tên lửa hạt nhân Jericho của mình ở vị trí mà các vệ tinh trinh sát Liên Xô có thể nhìn rõ, Liên Xô đã buộc Sadat phải cân nhắc lại. Lữ đoàn Pháo binh 65 sau đó đã bắn ba quả tên lửa này (với sự giúp đỡ của các cố vấn Liên Xô) chống lại Israel, khiến 7 binh sĩ Israel thiệt mạng và gây ra thiệt hại đáng kể. Do lo sợ những cuộc tấn công như thế này, Israel đã tránh tấn công các mục tiêu chiến lược sâu bên trong Ai Cập trong suốt toàn bộ cuộc chiến. Mối lo ngại này đã được giám đốc tình báo quân sự Eli Zeira nêu ra tại một buổi đánh giá tình hình với Tham mưu trưởng ngay từ ngày 9 tháng 10. Sau chiến tranh, Liên Xô đã hoàn tất việc trang bị cho Lữ đoàn Pháo binh 65, nhưng sự hỗ trợ đã chấm dứt vào cuối những năm 1970 do quan hệ giữa Ai Cập và Liên Xô xấu đi. Sau khi Hosni Mubarak lên nắm quyền tại Ai Cập, quan hệ với Liên Xô đã được cải thiện, nhưng Ai Cập quyết định tân trang và cải thiện kho tên lửa R-17 của mình với sự hỗ trợ của Triều Tiên trong những năm 1990.[29]

Iran

Do thiếu khả năng tấn công các mục tiêu cách biên giới hơn 150 km (93 mi) trong giai đoạn đầu của Chiến tranh Iran–Iraq, người Iran đã tiến hành đàm phán với người Libya, bên đồng ý gửi hai xe TEL và khoảng 20 tên lửa R-17E cho Iran, cùng với các hướng dẫn viên để đào tạo nhân sự Iran.[30] Vào ngày 12 tháng 3 năm 1985, Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran đã phóng một quả R-17 vào Kirkuk, khiến Iraq trả đũa bằng các vụ phóng tên lửa vào DezfulBakhtaran.[31]

Baghdad đã bị tấn công bởi 13 tên lửa trong khi Kirkuk bị tấn công bởi một tên lửa khác trước khi một thỏa thuận ngừng bắn tên lửa đạn đạo được đạt được vào tháng 6 năm 1984. Sau thành công trong việc tấn công thủ đô của Iraq, Iran đã cử các phái đoàn ngoại giao mới để mua thêm tên lửa R-17. Phía Libya, dưới áp lực từ Moscow, đã từ chối gửi thêm bất kỳ tên lửa nào. Syria được cho là đã cung cấp cho Iran khoảng một chục tên lửa (bất chấp sự phản đối của Liên Xô), cho phép họ phóng thêm tám tên lửa nữa vào Baghdad và các thành phố khác của Iraq trong nửa cuối năm 1986.[30] Người Iran cũng tìm đến Triều Tiên để có thêm tên lửa.[32] Ước tính Triều Tiên đã cung cấp cho Iran từ 6–12 bệ TEL và tới 200 tên lửa Hwasong-5 từ năm 1987 đến 1992, mặc dù một số báo cáo khẳng định có tới 300 tên lửa đã được bàn giao.[33]

Iraq

Iraq đã sở hữu một lữ đoàn R-17 với 11 bệ TEL và 819 tên lửa vào năm 1974, ngay sau Ai Cập.[34] Khi chiến tranh nổ ra với Iran vào năm 1980, Iraqi Lữ đoàn 224 đã phóng một số tên lửa, nhưng hầu hết các cuộc tấn công vào mục tiêu Iran đều do Không quân Iraq thực hiện. Sau một chiến dịch không kích thất bại, Lữ đoàn 224 đã được triển khai để tấn công các thành phố Iran dọc biên giới.[31]

Sau các cuộc tấn công R-17 của Iran vào Baghdad, Saddam Hussein đã cố gắng mua các tên lửa tầm xa để tấn công Tehran, nhưng đối mặt với sự từ chối của Moscow, Iraq bắt đầu sửa đổi kho tên lửa R-17 hiện có để kéo dài tầm bắn. Loại tên lửa kết quả, Al-Husayn, đã được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn cuối của Cuộc chiến các thành phố bắt đầu từ ngày 29 tháng 2 năm 1988, gây ra hiệu ứng làm mất tinh thần sâu sắc đối với dân thường và buộc khoảng một phần tư trong số 10 triệu dân phải sơ tán khỏi thành phố vào đầu mùa xuân. Cả hai bên đã đồng ý ngừng các cuộc tấn công tên lửa vào ngày 20 tháng 4 năm 1988, nhưng Iraq đã thành công trong việc đưa Iran vào bàn đàm phán sau chiến dịch tên lửa này.[35]

Iraq tiếp tục phát triển các tên lửa R-17 tăng tầm sau khi chiến tranh kết thúc, bao gồm Al-Abbas với tầm bắn 860 km (530 mi), và Al Hijarah với đầu đạn bê tông để xuyên thủng các mục tiêu kiên cố như các cơ sở hạt nhân của Iran hoặc Israel. Họ kém thành công hơn trong việc sản xuất các bản sao R-17, do khó khăn trong việc chế tạo một số bộ phận phức tạp như bơm tăng áp động cơ và con quay hồi chuyển dẫn đường. Các kỹ sư Iraq cũng nghiên cứu việc tự chế tạo các bệ TEL (dựa trên xe tải thương mại) và một số bệ phóng tĩnh (để sử dụng chống lại Israel).[36]

Trong Chiến tranh Vùng Vịnh, Lữ đoàn 224 đã thực hiện các cuộc tấn công tên lửa vào Israel và Saudi Arabia, với ít nhất 42 quả vào Israel và 46 quả vào Saudi Arabia. Lực lượng Liên minh đã sử dụng tên lửa MIM-104 Patriot để đánh chặn các tên lửa Al Husayn của Iraq. Một vấn đề mà Patriot phải đối mặt là thiết kế kém của Al Husayn: do phần thân bị kéo dài, tên lửa trở nên mất ổn định khi hạ độ cao, bị vỡ ra khi tái nhập khí quyển, buộc các Patriot phải lựa chọn vệt mảnh vỡ nào để đánh chặn. Các nhà phê bình chỉ ra rằng 1,8 tấn mảnh vỡ tên lửa rơi xuống đất ở tốc độ cao vẫn có thể gây ra thiệt hại đáng kể bất kể đầu đạn R-17 có phát nổ hay không. Bất chấp tranh luận, Zaloga lập luận rằng việc sử dụng Patriot đã phục vụ mục đích chính trị là kiềm chế phản ứng của Israel đối với các cuộc tấn công tên lửa từ Iraq, điều vốn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự gắn kết của Liên minh.[37]

Hầu hết các bệ phóng tĩnh R-17 của Iraq đã bị phá hủy bởi các cuộc không kích của liên quân, trong khi các nỗ lực phá hủy các bệ TEL 9P117 của Iraq đều thất bại, với 1.500 lượt xuất kích được thực hiện nhưng không có mục tiêu nào bị bắn trúng. Sau chiến tranh, liên quân đã buộc Iraq phải tiêu hủy kho tên lửa R-17 còn lại, mặc dù những nghi ngờ rằng Iraq đã không thực hiện đúng cam kết vẫn tồn tại trong thập kỷ tiếp theo.[38]

Libya

Năm 1974, Libya đã nhận được ít nhất sáu tiểu đoàn tên lửa R-17, với 72 bệ TEL và khoảng 200−300 tên lửa.[12] Một số tên lửa này đã được gửi đến Iran trong Cuộc chiến các thành phố.[30][39] Năm 1986, Muammar Gaddafi đã ra lệnh tấn công tên lửa R-17 vào một cơ sở của Hoa Kỳ trên đảo Lampedusa của Ý để trả đũa Hoa Kỳ ném bom Libya vào năm 1986. Hai tên lửa đã được bắn đi, nhưng chúng không tới đích, không gây ra thiệt hại nào.[39][40]

Đã có tin đồn rằng R-17 được lực lượng trung thành bắn vào quân nổi dậy trong cuộc nội chiến Libya 2011 ở giai đoạn đầu của cuộc chiến.[41] Vào ngày 14 tháng 8 năm 2011, một vụ phóng R-17 đã được xác nhận bởi một tàu khu trục trang bị hệ thống Aegis của Hoa Kỳ, với quả tên lửa được bắn từ Sirte hướng về phía vị trí quân nổi dậy ở Ajdabiya. Quả tên lửa rơi chệch mục tiêu 80 km giữa sa mạc, không gây thiệt hại.[42] Tám ngày sau, vào ngày 22 tháng 8, thêm ba vụ phóng R-17 nữa đã được NATO phát hiện.[43]

Syria

Chính quyền Assad đã sử dụng rộng rãi tên lửa R-17 chống lại lực lượng đối lập và các khu vực dân sự trong cuộc Nội chiến Syria với đợt triển khai đầu tiên được báo cáo vào cuối năm 2012. Các nguồn tin Israel khẳng định rằng 90% kho tên lửa đạn đạo của Syria đã bị tiêu thụ trong cuộc chiến chống lại quân nổi dậy. Mặc dù đã phát triển các đầu đạn hóa học cho kho tên lửa của mình, lực lượng thân Assad thay vào đó đã sử dụng bom không quân và pháo phản lực để thực hiện các cuộc tấn công bằng chất độc thần kinh.[18]

Sau sự sụp đổ của chính quyền Assad vào tháng 12 năm 2024, Israel đã phát động các cuộc không kích vào cơ sở sản xuất tên lửa đạn đạo và các căn cứ tên lửa cũ của Quân đội Syria, nhưng bằng chứng video sau đó chỉ ra rằng ít nhất một số năng lực sản xuất tên lửa có thể đã tồn tại sót lại.[18]

Yemen

Vào cuối những năm 1970, Yemen đã sở hữu một lữ đoàn R-17. Trong nội chiến vào tháng 5–6 năm 1994, quân nổi dậy Nam Yemen đã bắn tên lửa R-17 vào thủ đô Sanaa, khiến lực lượng miền Bắc trả đũa bằng tên lửa Tochka. Khoảng 30 quả R-17 và 35 quả Tochka đã được bắn cho đến khi kết thúc xung đột.[44]

Sau Houthi chiếm quyền năm 2015, lực lượng Houthi đã chiếm được kho dự trữ R-17 và Hwasong-6 trước chiến tranh của đất nước. Chúng được sử dụng chống lại lực lượng chính phủ được quốc tế công nhận trong mùa hè năm 2015.[45] Theo trang web OSINT Oryx, hầu hết R-17 (và Hwasong) đã được chuyển đổi thành tên lửa Burkan cho đến khi kho dự trữ cạn kiệt.[46] Kể từ năm 2016, Houthi đã sử dụng các tên lửa được sản xuất nội địa với sự hỗ trợ của Iran để thay thế.[45]

Thông số kỹ thuật

  • Tầm bắn – 300 km,[47]
  • CEP – 500–900 m[4]
  • Loại nhiên liệu – lỏng
  • Thời gian chuẩn bị – 1 giờ
  • Thời hạn bảo quản – 19 năm (trong kho), 6 tháng (ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu)
  • Thời gian bay – 15 phút

Các quốc gia vận hành

Hiện nay

Trước đây

Chỉ dùng cho mục đích đánh giá

  •  Hoa Kỳ − 30 tên lửa và 4 xe phóng TEL được mua vào năm 1995, các tên lửa này đã được Lockheed Martin chuyển đổi thành các mục tiêu bay thử nghiệm[5]

Tham khảo

  1. ^ Zaloga 2013, tr. 13.
  2. ^ a b Zaloga 2013, tr. 29.
  3. ^ a b Zaloga 2013, tr. 92.
  4. ^ a b "Баллистические ракеты России" [Russian Ballistic Missiles]. InBSite.com. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2015.
  5. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s "SS-1 'Scud' (R-11/8K11, R-11FM (SS-N-1B) and R-17/8K14)". Jane's Information Group. ngày 26 tháng 4 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2008.
  6. ^ a b Zaloga 2013, tr. 39.
  7. ^ a b "R-11/SS-1B SCUD-A R-300 9K72 Elbrus/SS-1C SCUD-B". Federation of American Scientists. ngày 9 tháng 9 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2008.
  8. ^ Zaloga 2013, tr. 71−72.
  9. ^ "Soviet/Russian Missile Designations". Johnston's Archive. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2008.
  10. ^ Zaloga 2013, tr. 29−31.
  11. ^ Zaloga 2013, tr. 61−62.
  12. ^ a b c d Zaloga 2013, tr. 76.
  13. ^ Zaloga 2013, tr. 76−77.
  14. ^ a b c Zaloga 2013, tr. 96.
  15. ^ a b c Hinz, Fabian (ngày 16 tháng 6 năm 2023). Cậps-scuds-soldier-on/ "After half a century Ai Cập's Scuds soldier on". Military Balance Blog (bằng tiếng Anh). International Institute for Strategic Studies (IISS). Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2024. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  16. ^ a b c Samore 2013, tr. 95−96.
  17. ^ "Syria Missile Overview". The Nuclear Threat Initiative (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2024.
  18. ^ a b c d e Hinz, Fabian (ngày 6 tháng 5 năm 2025). "Ballistics after Bashar". Missile Dialogue Initiative (bằng tiếng Anh). International Institute for Strategic Studies. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2025.
  19. ^ Zaloga 2013, tr. 31−32, 35.
  20. ^ Zaloga 2013, tr. 35.
  21. ^ Zaloga 2013, tr. 48.
  22. ^ Zaloga 2013, tr. 48−49.
  23. ^ a b Zaloga 2013, tr. 38.
  24. ^ Zaloga 2013, tr. 42−43.
  25. ^ Zaloga 2013, tr. 81.
  26. ^ a b Zaloga 2013, tr. 83.
  27. ^ Zaloga 2013, tr. 92−93.
  28. ^ Shaikh, Shaan; Rumbaugh, Wes (ngày 8 tháng 12 năm 2020). "The Air and Missile War in Nagorno-Karabakh: Lessons for the Future of Strike and Defense". Center for Strategic and International Studies (CSIS) (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2024.
  29. ^ Zaloga 2013, tr. 78.
  30. ^ a b c Samore 2013, tr. 95.
  31. ^ a b c Zaloga 2013, tr. 80.
  32. ^ Zaloga 2013, tr. 81,96.
  33. ^ Samore 2013, tr. 96.
  34. ^ Zaloga 2013, tr. 76,80.
  35. ^ Zaloga 2013, tr. 81−82.
  36. ^ Zaloga 2013, tr. 82−84.
  37. ^ Zaloga 2013, tr. 85−87.
  38. ^ Zaloga 2013, tr. 88.
  39. ^ a b Zaloga 2013, tr. 90.
  40. ^ House Committee on National Security Subcommittee on Military Procurement, Hoa Kỳ Congress (1996). Hearings on National Defense Authorization Act for Fiscal Year 1996--S. 1124 (H.R. 1530) and Oversight of Previously Authorized Programs Before the Committee on National Security, House of Representatives, One Hundred Fourth Congress, First Session: Military Procurement Subcommittee Hearings on Title I--Procurement : Hearings Held March 7, 9, 15, 16, 29, 30, April 6, 1995 (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). U.S. Government Printing Office. tr. 485. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2024.
  41. ^ Gilligan, Andrew (ngày 8 tháng 5 năm 2011). "The forgotten frontline in Libya's civil war". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019.
  42. ^ McElroy, Damien (ngày 16 tháng 8 năm 2011). "Gaddafi fires Scud missile at rebel forces". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2011.
  43. ^ "NATO says Gaddafi forces fire three Scud-type rockets". Reuters. ngày 22 tháng 8 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019.
  44. ^ Zaloga 2013, tr. 90−91.
  45. ^ a b Samaan 2023, tr. 162.
  46. ^ a b Mitzer, Stijn; Oliemans, Joost (ngày 4 tháng 9 năm 2022). "Houthi Drone And Missile Handbook". Oryx. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2024.
  47. ^ Krebs, Gunter Dirk. "Soviet Ballistic Missiles". Gunter's Space Page. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014.
  48. ^ IISS 2024, tr. 179.
  49. ^ IISS 2024b, tr. 348.
  50. ^ IISS 2024a, tr. 282.
  51. ^ IISS 2024b, tr. 386.
  52. ^ IISS 2024, tr. 209.
  53. ^ Zaloga 2013, tr. 93.
  54. ^ a b Zaloga 2013, tr. 62.
  55. ^ Zaloga 2013, tr. 81−83.

Tài liệu

Liên kết ngoài