Bước tới nội dung

Tathāgataguhya Sūtra

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tượng Vajrapani, Kashmir, thế kỷ thứ 8

Kinh Như Lai Bí Mật (Tathāgataguhya Sūtra) hay Phật Thuyết Như Lai Bất Tư Nghị Bí Mật Đại Thừa Kinh (佛說如來不思議祕密大乘經; Tathāgatācintyaguhyanirdeśasūtra) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng, đồng thời là một phần của bộ Đại Bảo Tích.[1]

Péter-Dániel Szántó đã liệt kê một số tên gọi thay thế của bộ kinh này: Āryatathāgataguhyasūtra, Guhyakādhipatinirdeśa, *Vajrapāṇiparivarta, *Tathāgataguhyanirdeśaparivarta, *Acintyabuddhadharmanirdeśa,*Apramāṇapuṇyodaya . [2]

Không nên nhầm lẫn kinh Đại thừa này với Guhyasamāja-tantra (密集金刚; Mật Tập Kim Cương), cũng có tên là Tathāgataguhyaka. [3]

Tổng quan

Tranh Tây Tạng vẽ Kim Cương Thủ, thế kỷ 19.

Nội dung

Bộ kinh xoay quanh cuộc đối thoại giữa Đức Phật và Bồ Tát Kim Cương Thủ (Vajrapāṇi). Kinh luận bàn về tam mật (ba bí mật) về thân, khẩu, ý của một vị Phật, quan điểm Đại thừa về tính bất nhị, bản tính của tâm thức và mối liên hệ giữa tâm với Đức Phật.[1]

Theo nghiên cứu của Tetsutaka Hamano, kinh này có thể được chia thành ba phần: [4]

  1. Chương 1 đến chương 10 tập trung vào "tam mật của các vị Bồ Tát và tam mật của Như Lai."
  2. Chương 11 đến chương 14 tập trung vào "cuộc đời của Đức Phật dưới góc nhìn của Kim Cương Thủ."
  3. Chương 15 đến chương 25 nói về "hạnh nguyện Bồ Tát và những việc làm của Kim Cương Thủ."

Bản chất của Phật quả

Giáo lý cốt lõi của Kinh Như Lai Bí Mật là các vị Phật và Bồ Tát ứng hiện theo vô số cách khác nhau (thông qua thần biến của thân, khẩu, ý). Biểu hiện Phật sự này hoàn toàn tự động, vô công dụng hạnh (không có dụng ý) và ly phân biệt (không mang tính khái niệm). Những hóa hiện này cũng phát sinh do nghiệp và khuynh hướng tâm thức của chúng sinh, đồng thời tương ứng với nhu cầu của chúng chúng.[5]

Theo nhà dịch thuật kinh điển Shaku Shingan, Kinh Như Lai Bí Mật xem bản tính của Đức Phật như hư không (tiếng Phạn: ākāsa), do đó nó biến mãn và bao trùm khắp pháp giới.[6] Vì vậy, Đức Phật được xem là hiện hữu bên trong mọi chúng sinh. Điều này có nghĩa là bất kỳ nhận thức nào về Đức Phật cũng chỉ là sự phản chiếu từ tâm thức của chính chúng ta, và bất kỳ hiểu biết nào về Giáo pháp mà một người có thể đạt được đều chỉ nhờ vào Phật trí vốn ẩn tàng trong thân của tất cả chúng sinh.[7] Kinh điển nói rằng:

trí tuệ siêu việt của tất cả Như Lai đều ngụ trong thân của tất cả chúng sinh... Nếu không, chúng sinh ở bất kỳ nơi đâu cũng không thể tương hợp với những bí mật mà Như Lai thuyết giảng, nếu họ không hàm chứa năng lực gia trì của Như Lai và không tương hợp với Pháp tính của Như Lai. Hơn nữa, nếu một người được nghe, được nói và có sự hiểu biết về Giáo pháp thâm sâu của những bí mật do Như Lai tuyên thuyết, thì tất cả đều là nhờ vào năng lực gia trì của Như Lai.[8]

Do đó, theo bộ kinh này, chúng sinh có được hiểu biết về Giáo pháp không phải nhờ vào nỗ lực của chính họ, mà là thông qua thần lực của Đức Phật.[5] Vì vậy, con đường Bồ Tát được tu tập bằng cách phát bồ đề tâm và bằng cách thấu hiểu bản tính chân thật của Pháp thân Phật (vốn là tính Không, biến mãn và vô biên). Điều này kích hoạt toàn bộ sự thanh tịnh trong thân, khẩu, ý của Đức Phật vốn đã có sẵn trong tất cả chúng sinh, từ đó làm hiển lộ Đức Phật.[9] Cho nên, quả vị (Phật quả) không phải đạt được bằng cách tạo ra nó từ các nguyên nhân, mà quả vị chỉ đơn thuần là được hiển lộ vì nó đã hiện hữu sẵn trong người tu hành. Điều này có nghĩa là vị Bồ Tát đã phát bồ đề tâm sẽ thực hành con đường Ba-la-mật dưới sự gia trì của thần lực Đức Phật.[9]

Kinh Như Lai Bí Mật cũng đồng nhất thân của Đức Phật — vốn được cho là bao trùm cả ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) — với chân như. Sự hiện thị sắc thân của Đức Phật trước chúng sinh (dưới hình tướng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni) chỉ là một hóa hiện của pháp thân (Dharmakāya) hay vũ trụ thân này vì lợi ích của chúng sinh. Thân ấy luôn hiện thị tương hợp với nhu cầu và căn tính của họ.[10] Bộ kinh so sánh hoạt động tự động này của Phật với một tấm gương, phản chiếu bất cứ thứ gì ở trước nó một cách tự nhiên và không hề có dụng ý.[11]

Về khẩu mật của Đức Phật, bộ kinh chép rằng Đức Phật chưa từng thực sự nói một lời nào:

từ ngày và đêm Ngài chứng đắc quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho đến ngày và đêm Ngài nhập Ma-ha-bát-niết-bàn, trong suốt khoảng thời gian đó, Như Lai chưa từng một lần thốt ra một lời nào, Ngài không biểu đạt bất kỳ ý nghĩa nào. Vì sao? Vì Đức Như Lai permanently abides in samāhita [tức là luôn an trú trong thiền định].[12]

Dù Đức Phật được cho là không thực sự nói bất cứ điều gì, nhưng thông qua năng lực khẩu mật của Ngài, chúng sinh vẫn nghe được các giáo lý khác nhau bằng những ngôn từ phù hợp với nhu cầu ngôn ngữ và vùng miền của họ. Điều này được ví như một nhạc cụ thần kỳ tự phát ra nhạc điệu mà không cần người chơi.[13]

Ý mật của Đức Phật chính là việc tâm Ngài luôn ở trong trạng thái định (samādhi) siêu việt, không suy nghĩ, không khởi ý niệm hay dao động. Tuy nhiên, tâm ấy vẫn có thể biểu hiện theo vô số cách để cứu độ chúng sinh tùy theo nhu cầu của họ.[14]

Những lời dạy khác

Các phiên bản muộn hơn của bộ kinh này cũng chứa nhiều vidyā khác nhau, mà trong trường hợp này đề cập đến các câu thần chú.[15] Kinh cũng dạy một pháp môn đà-la-ni gọi là "Đà-la-ni môn Nhập chư pháp tướng", vốn chỉ là chữ Phạn A.[13] Chữ cái này đứng trước tất cả các chữ cái trong hệ thống tự mẫu tiếng Phạn và cũng là một tiền tố phủ định, do đó nó biểu thị cho tính bất nhị, tính bất khả thuyết và tính Không. Chữ cái này có tầm quan trọng trong các văn bản Đại thừa khác, là giáo lý cốt lõi của Nhất Tự Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (Ekākṣarī-prajñāpāramitā).[13]

Ảnh hưởng

Kinh Như Lai Bí Mật được trích dẫn rộng rãi bởi các tác giả Phật giáo Ấn Độ, đặc biệt là các luận sư thuộc tông Trung Quán như Tịch Thiên (Śāntideva), Nguyệt Xứng (Candrakīrti) và Liên Hoa Giới (Kamalaśīla). [16] Theo Etienne Lamotte, Tathāgataguhya cũng được trích dẫn hai lần trong Kinh Vimalakirti. Kinh Tathāgataguhyaka cũng được đề cập trong Laṅkāvatārasūtra.[17] Kinh này cũng được trích dẫn ba lần trong Dà zhìdù lùn do Kumārajīva dịch (thế kỷ thứ 4). [18] Theo Tetsutaka Hamano, bộ kinh này cũng là một nguồn tài liệu quan trọng cho các tư tưởng về Đức Phật được tìm thấy trong Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận của Thừa Biến (Sthiramati).[19]

Hamano cũng xem Kinh Như Lai Bí Mật có mối liên hệ hoặc tương đồng với các kinh điển Như Lai Tạng, vì giáo lý của kinh về sự biến mãn của Đức Phật và sự hiện hữu của Phật trí bên trong chúng sinh dường như đã định hình trước cho các tư tưởng về Phật tính được tìm thấy trong các văn bản Như Lai Tạng (vốn không được đề cập trong Kinh Như Lai Bí Mật), bao gồm cả Luận Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tính (Ratnagotravibhāga).[20]

Kinh Như Lai Bí Mật cũng có ảnh hưởng đến Phật giáo Newar ở Nepal, nơi ban đầu kinh là một phần của bộ Cửu Pháp (Navagrantha hay Navasūtra), một tập hợp cốt lõi gồm chín bộ kinh Đại thừa trong truyền thống này.[21]

Các bản dịch

Mặc dù văn bản tiếng Phạn của Kinh Như Lai Bí Mật hiện chỉ còn tồn tại dưới dạng các mảnh vỡ, nhưng có một bản dịch tiếng Tây Tạng đầy đủ (do Jinamitra, Dānaśila, Munivarman và Yeshe de dịch) và hai bản dịch chữ Hán: một bản (Đại Tạng Kinh Taisho 310, Đại Bảo Tích Kinh, 大寶積經) của DharmarakṣaDunhuang (230–316 CN) và một bản (Taisho 312, 如來不思議秘密大乘經; Như Lai Bất Tư Nghị Bí Mật Đại Thừa Kinh) của một vị Dharmarakṣa khác hoạt động vào cuối triều đại nhà Tống và mất năm 1058.[22] [23] Theo Shaku Shingan, bản dịch chữ Hán thời kỳ đầu chứa nhiều thuật ngữ chịu ảnh hưởng bởi thuật ngữ Đạo giáo.[24]

Theo học giả Nhật Bản Hiromitsu Ikuma, bản thảo tiếng Phạn còn sót lại có nhiều vấn đề và là một phiên bản muộn hơn của văn bản, tương tự như phiên bản thời nhà Tống (và bản tiếng Tây Tạng).[20]

Bộ kinh này ít được nghiên cứu bởi các học giả phương Tây, và hầu hết các công trình nghiên cứu hiện đại về kinh đều bằng tiếng Nhật.[7] Bản dịch tiếng Anh từ tiếng Trung ( Taisho số 312) đã được Shaku Shingan xuất bản. [25]

Tài liệu tham khảo

  1. ^ a b "The Teaching on the Unfathomable Secrets of the Tathāgatas | 84000 Reading Room". 84000 Translating The Words of The Buddha (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2022.
  2. ^ Péter-Dániel Szántó. *Tathāgatācintyaguhyanirdeśasūtra (The Sūtra on the Unfathomable Mysteries of the Tathāgata), A formatted diplomatic transcript of the Sanskrit ms. Lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2022 tại Wayback Machine (The Asiatic Society, Kolkata, G10765).
  3. ^ Stede, W. (tháng 4 năm 1934). "Guhyasamāja Tantra, or Tathāgataguhyaka. Edited with introduction and index by Benoytosh Bhattacharyya. Gaekwad's Oriental Series, No. LIII. 9¼ × 6, pp. xl + 212. Baroda: Oriental Institute, 1931. Rs. 4.4.0". Journal of the Royal Asiatic Society (bằng tiếng Anh). 66 (2): 402–403. doi:10.1017/S0035869X00080199. ISSN 2051-2066. S2CID 163276534. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2022.
  4. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, pp. 15-16. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  5. ^ a b Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, p. 34. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  6. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, pp. 15, 21. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  7. ^ a b Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, p. 15. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  8. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, p. 31. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  9. ^ a b Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, pp. 35-36, 39. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  10. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, pp. 21, 25. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  11. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, p. 36.Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  12. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, p. 38. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  13. ^ a b c Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, pp. 32, 37. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  14. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, p. 39.
  15. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, p. 23. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  16. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, pp. 12-13. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  17. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, p. 11. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  18. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, p. 12. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  19. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, p. 16. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  20. ^ a b Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, pp. 16, 21. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  21. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, p. 14. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  22. ^ O’Neill, Alexander James (2020). Later Mahāyāna References to Book Worship, Lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2022 tại Wayback Machine 大正大学綜合佛教研究所年報 (Annual of the Institute for Comprehensive Studies of Buddhism, Taishō University).
  23. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, pp. 9-10. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  24. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, p. 19. Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).
  25. ^ Shingan, Shaku (2021). The Secrets of the Tathāgata A Mahāyāna Sūtra Lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, Kamakura. ISBN 978-1-716-23850-5 (Lulu).