Đội tuyển bóng đá quốc gia Sri Lanka

  1. đổi Bản mẫu:Thông tin đội tuyển bóng đá quốc gia

Đội tuyển bóng đá quốc gia Sri Lanka (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)., Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) là đội tuyển đại diện cho Sri Lanka trong môn bóng đá và được Liên đoàn Bóng đá Sri Lanka (FSSL) quản lý, cơ quan điều hành bóng đá của quốc gia này. Họ trở thành thành viên của FIFA từ năm 1952 và là thành viên của AFC từ năm 1954. Sân nhà của đội tuyển Sri Lanka là Sân vận động SugathadasaColombo. Trước năm 1972, đội tuyển này được biết đến với tên gọi đội tuyển bóng đá quốc gia Ceylon, cho đến khi Ceylon chính thức đổi tên thành Sri Lanka.[1]

Là một thành viên của AFC, đội tuyển Sri Lanka vẫn chưa từng góp mặt tại vòng chung kết FIFA World Cup hay Asian Cup. Thành tích nổi bật nhất của họ là vô địch Nam Á vào năm 1995. Cũng giống như nhiều quốc gia khác ở tiểu lục địa, bóng đá chuyển nghiệp tại Sri Lanka phần nào bị lép vế bởi sự nổi tiếng của đội tuyển cricket quốc gia. Tuy nhiên, đội tuyển cũng từng lọt vào vòng loại thứ hai của World Cup 2006. Cũng trong năm đó, họ giành ngôi Á quân tại Giải Challenge Cup 2006. Ở vòng loại World Cup 2018, Sri Lanka để thua cả hai trận trước Bhutan và không thể vượt qua vòng loại. Tuy nhiên, đội tuyển quốc gia Sri Lanka đã lọt vào bán kết Giải vô địch SAFF 2015.

Lịch sử

Thời kì đầu (1890–2014)

 
Đội Ceylon tham dự giải Aga Khan Gold Cup năm 1970.

Bóng đá được người Anh du nhập vào Sri Lanka (khi đó là Ceylon) từ cuối thế kỷ 19. Vào những năm 1890, các binh sĩ Anh đã chơi bóng tại Galle Face – bãi cát ven biển ở Colombo – cũng như tại Echelon Barracks và sân quân đội (nay là khách sạn Taj Samudra). Các binh sĩ thuộc Không quân, Hải quân và nhiều lực lượng Hoàng gia khác đã khởi xướng bóng đá cạnh tranh tại Ceylon. Trò chơi nhanh chóng lan tỏa nhờ giới hành chính và cộng đồng trồng trọt người Anh, đến các vùng Trung, Nam và miền cao, và được giới trẻ địa phương đón nhận đầu thế kỷ 20.

Từ đó, nhiều câu lạc bộ bóng đá được thành lập, như St. Michael's SC, Havelock's FC, Java Lane SC, Wekande SC, Moors FC, CH & FC, rồi đến Harlequins FC và Saunders SC. Những giải đấu đầu tiên tranh cúp De Mel Shield và Times of Ceylon Cup. Ở miền Nam, bóng đá cũng phát triển mạnh nhờ những nhà trồng trà và binh sĩ hải quân Anh.[2] Năm 1952, Ceylon gia nhập FIFA, mở ra cơ hội thi đấu quốc tế. Trận đầu tiên diễn ra cùng năm trước Ấn Độ tại Giải Tứ giác châu Á. Một năm sau, ngày 24 tháng 10 năm 1953, Tom Ossen ghi bàn quốc tế đầu tiên cho Ceylon trong trận gặp Miến Điện, trận đấu kết thúc với thất bại 2–3.[3]

 
Sri Lanka gặp Pakistan trong trận tranh hạng ba của giải vô địch Nam Á 1997

Sự hồi sinh của bóng đá Sri Lanka (2015–2019)

Năm 2015, Sri Lanka lần đầu tiên tham dự Cúp Bangabandhu do Liên đoàn Bóng đá Bangladesh tổ chức. Giải có sự góp mặt của các đội U-23 Thái Lan, Bahrain, Malaysia, Singapore cùng tuyển quốc gia Bangladesh và Sri Lanka. Sri Lanka nằm chung bảng với Malaysia và Bangladesh. Ở trận mở màn gặp Malaysia, đội thua 0–2; sau đó tiếp tục thất bại 0–1 trước chủ nhà Bangladesh. Họ không ghi được bàn nào tại giải. Tuy nhiên, sau sáu năm thi đấu mờ nhạt, Sri Lanka đã kịp góp mặt ở vòng bán kết Giải vô địch SAFF 2015. Dù vậy, phong độ sa sút lại tiếp diễn ở Cúp bóng đá đoàn kết châu Á 2016, khi họ bất ngờ thua Mông Cổ – đội tuyển xếp hạng thấp nhất châu Á – và bị loại ngay từ vòng bảng.[4]

Tháng 7 năm 2018, Sri Lanka có trận giao hữu lịch sử khi lần đầu chạm trán một đội tuyển châu Âu – Litva. Họ cầm hòa 0–0 trong trận đầu, nhưng để thua 0–2 ở trận lượt về.[5] Tại vòng loại World Cup 2022, Sri Lanka tiếp tục gây thất vọng khi thua 0–1 trước Ma Cao tại Châu Hải. Tuy nhiên, do Ma Cao từ chối sang Sri Lanka thi đấu sau vụ đánh bom Lễ Phục Sinh 2019,[6] FIFA xử thắng 3–0 cho Sri Lanka, giúp họ lần đầu tiên giành vé vào vòng loại thứ hai kể từ 2006.[7]

Kỷ nguyên Amir Alagić (2020–2022)

vòng loại thứ hai World Cup 2022, Sri Lanka rơi vào bảng đấu rất khó với Hàn Quốc, Triều Tiên, LibanTurkmenistan – bốn đội đều dự Asian Cup 2019. Đúng như dự đoán, họ toàn thua và bị loại mà không ghi nổi bàn nào. Dù vậy, đầu năm 2020 Sri Lanka tiếp tục tham dự Cúp Bangabandhu, nhưng vẫn xếp cuối với hai thất bại và không bàn thắng. Tháng 2 năm 2020, Liên đoàn Bóng đá Sri Lanka bổ nhiệm HLV người Bosnia-Úc Amir Alagić.[8] Dưới sự dẫn dắt của ông, đội có màn trình diễn khởi sắc trước Liban, ghi được hai bàn đầu tiên trong lịch sử vòng loại World Cup, dù vẫn thua sát nút. Sau khi kết thúc chiến dịch, Alagić từ chức và được thay thế bởi HLV người Scotland Andy Morrison.

Án phát của FIFA và vòng loại World Cup 2026 (2023–2024)

Ngày 22 tháng 1 năm 2023, FIFA ra quyết định đình chỉ Liên đoàn Bóng đá Sri Lanka do chính phủ can thiệp vào hoạt động bóng đá. Trong thời gian này, các CLB và đội tuyển đều không được dự giải quốc tế.[9] Sau khi vấn đề được giải quyết, án phạt được gỡ bỏ vào ngày 29 tháng 8 năm 2023, nhưng đi kèm điều kiện FFSL phải tổ chức bầu cử mới trước trận gặp Yemen.[10] Tháng 10 năm 2023, Sri Lanka gặp Yemen ở vòng loại đầu tiên World Cup 2026 và thua chung cuộc 1–4. Đến tháng 9 năm 2024, Sri Lanka chạm trán Campuchia tại vòng play-off Asian Cup 2027. Hai lượt trận hòa 2–2, buộc phải đá luân lưu sau khi Claudio Kammerknecht ghi bàn ở phút 120+2. Cuối cùng, Sri Lanka thắng trên chấm phạt đền và giành quyền vào vòng loại thứ ba.

Danh hiệu

Á quân: 2006
Vô địch: 1995
Á quân: 1993

Thành tích quốc tế

Giải vô địch bóng đá thế giới

Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
  1930 Một phần của   Anh Quốc Một phần của   Anh Quốc
  1934
  1938
  1950 Không phải thành viên FIFA Không phải thành viên FIFA
Bản mẫu:Country data Switzerland 1954 Không tham dự Không tham dự
Bản mẫu:Country data Sweden 1958
  1962
Bản mẫu:Country data England 1966
  1970
  1974
  1978
  1982
  1986
  1990
Bản mẫu:Country data United States of America 1994 Không vượt qua vòng loại 8 0 0 8 0 26
  1998 3 1 1 1 4 4
   2002 6 1 1 4 8 20
Bản mẫu:Country data Germany 2006 8 1 3 4 7 11
Bản mẫu:Country data South Africa 2010 2 0 0 2 0 6
  2014 2 0 1 1 1 5
  2018 2 0 0 2 1 3
  2022 8 1 0 7 5 24
  Bản mẫu:Country data United States of America 2026 2 0 1 1 1 4
Maroc     2030 Chưa xác định Chưa xác định
  2034
Tổng 0/9 41 4 7 30 27 103

Cúp bóng đá châu Á

Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
  1956 đến   1968 Rút lui Rút lui
  1972 Không vượt qua vòng loại 3 0 0 3 1 10
  1976 Rút lui Rút lui
  1980 Không vượt qua vòng loại 4 1 0 3 5 12
  1984 4 1 1 2 6 11
  1988 đến   1992 Không tham dự Không tham dự
  1996 Không vượt qua vòng loại 6 2 0 4 5 25
  2000 4 0 0 4 2 18
  2004 8 2 0 6 6 26
        2007 Không tham dự Không tham dự
  2011 Không vượt qua vòng loại AFC Challenge Cup
  2015
  2019 2 0 0 2 1 3
  2023 11 1 0 10 5 30
  2027 10 3 3 4 11 15
Tổng 0/19 52 10 4 38 42 151

Cúp Challenge AFC

AFC Challenge Cup Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
  2006 Á quân 2nd 6 4 1 2 7 2 Không có vòng loại
  2008 Vòng bảng 7th 3 0 0 3 1 9 3 2 1 0 14 4
  2010 Vòng bảng 5th 3 1 0 2 4 7 3 2 1 0 9 4
  2012 Không vượt qua vòng loại 3 0 1 2 0 5
  2014 3 1 0 2 5 5
Tổng 3/5 Á quân 12 5 1 7 12 18 12 5 3 4 28 18

Cúp bóng đá Đoàn kết AFC

Năm Thành tích Thứ hạng Trận Thắng Hòa Thua Bàn thắng Bàn thua
  2016 Vòng bảng 6/7 3 0 1 2 2 5

Giải vô địch bóng đá Nam Á

Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB
  1993 Á quân 2nd 3 1 1 1 4 2
  1995 Vô địch 1st 3 2 1 0 5 3
  1997 Bán kết 4th 4 2 0 2 6 3
  1999 Vòng bảng 5th 2 0 1 1 2 3
  2003 Vòng bảng 5th 3 1 1 1 3 3
  2005 Vòng bảng 7th 3 0 0 3 1 5
    2008 Bán kết 3rd 4 2 1 1 5 3
  2009 Bán kết 4th 4 2 0 2 9 7
  2011 Vòng bảng 6th 3 1 0 2 4 6
  2013 Vòng bảng 7th 3 1 0 2 6 15
  2015 Bán kết 4th 3 1 0 2 1 7
  2018 Vòng bảng 6th 2 0 1 1 0 2
  2021 Vòng bảng 5th 4 0 1 3 2 5
Tổng 13/13 1st 41 13 7 21 48 64

Đội hình

23 cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho trận giao hữu với Lào và trận đấu vòng loại Asian Cup 2027 gặp Thái Lan lần lượt vào ngày 20 và 25 tháng 3 năm 2025.[11]

Số lần ra sân và bàn thắng được cập nhật đến ngày 20 tháng 3 năm 2025, sau trận đấu với Lào. Trang Bản mẫu:National football squad start/styles.css không có nội dung.

Số VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bàn Câu lạc bộ
1 1TM Sujan Perera (captain) 18 tháng 7, 1992 (34 tuổi) 56 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Fortis FC
20 1TM Mohamed Mursith 4 tháng 1, 2001 (25 tuổi) 0 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Blue Star
22 1TM Kaveesh Lakpriya Fernando 10 tháng 1, 1995 (31 tuổi) 1 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Blue Star
  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break
2 2HV Anujan Rajendram 11 tháng 5, 2000 (26 tuổi) 8 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Strindheim IL
3 2HV Harsha Fernando 21 tháng 11, 1992 (33 tuổi) 36 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Up Country Lions
4 2HV Chalana Chameera 1 tháng 10, 1993 (32 tuổi) 34 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Blue Star
15 2HV Claudio Kammerknecht 26 tháng 7, 1999 (27 tuổi) 6 1 Bản mẫu:Fbaicon/core Dynamo Dresden
45 2HV Zahi Addis 11 tháng 9, 2003 (22 tuổi) 0 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Gold Coast United
36 2HV Steven Sacayaradjy 22 tháng 1, 1997 (29 tuổi) 6 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Sud FC
18 2HV Barath Suresh 11 tháng 6, 2003 (23 tuổi) 13 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Langwarrin
19 2HV Jack Hingert 26 tháng 9, 1990 (35 tuổi) 8 1 Bản mẫu:Fbaicon/core Brisbane Roar
23 2HV Jason Thayaparan 1 tháng 10, 1995 (30 tuổi) 7 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Eintracht Trier
20 2HV William Thomason 28 tháng 6, 2002 (24 tuổi) 1 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Altona Magic
  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break
8 3TV Aman Faizer 12 tháng 3, 1999 (27 tuổi) 19 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Club Lagoons
18 3TV Dillon De Silva 18 tháng 4, 2002 (24 tuổi) 17 2 Bản mẫu:Fbaicon/core Sutton United
10 3TV Sam Durrant 16 tháng 2, 2002 (24 tuổi) 8 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Connah's Quay Nomads
12 3TV Leon Perera 1 tháng 1, 1997 (29 tuổi) 12 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Lüneburger SK Hansa
21 3TV Adhavan Rajamohan 21 tháng 2, 1993 (33 tuổi) 13 1 Bản mẫu:Fbaicon/core IFK Haninge
41 3TV Remiyan Muthuccumaru 9 tháng 4, 2007 (19 tuổi) 0 0 Bản mẫu:Fbaicon/core FC Emmen
24 3TV Mohamed Hasmeer 7 tháng 1, 1998 (28 tuổi) 5 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Navy Sea Hawks
3TV Garrett Kelly 14 tháng 4, 1996 (30 tuổi) 2 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Welling United
  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break
9 4 Oliver Kelaart 16 tháng 4, 1998 (28 tuổi) 12 2 Bản mẫu:Fbaicon/core Hume City
11 4 Rifkhan Mohamed 25 tháng 10, 1999 (26 tuổi) 12 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Defenders
13 4 Mohammed Thilham 18 tháng 11, 2005 (20 tuổi) 2 0 Bản mẫu:Fbaicon/core New Star SC
4 Ahmed Waseem Razeek 13 tháng 9, 1994 (31 tuổi) 22 9 Bản mẫu:Fbaicon/core Eastern District
4 Wade Dekker 21 tháng 4, 1994 (32 tuổi) 8 1 Bản mẫu:Fbaicon/core Dandenong Thunder
4 Rahul Suresh 4 tháng 6, 2004 (22 tuổi) 6 0 Bản mẫu:Fbaicon/core Dandenong Thunder

Từng được triệu tập

Bản mẫu:Nat fs r start Bản mẫu:Nat fs r player

  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break

Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player

  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break

Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player

  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break

Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player

  1. đổi Bản mẫu:Nat fs g break

INJ Rút lui vì chấn thương
PRE Đội hình sơ bộ
RET Đã chia tay đội tuyển quốc gia
SUS Vắng mặt ở trận tiếp theo
WD Rút lui vì lý do cá nhận
COVRút lui vì dương tính với COVID-19. |}

Thành tích đối đầu

Tính đến 5 tháng 6 năm 2025.[12]

Đội tuyển ST T H B BT BB HS % thắng
  Afghanistan 8 1 1 6 6 17 −11 25.00
  Bahrain 2 0 0 2 0 4 −4 00.00
  Bangladesh 20 5 2 13 15 30 −15 25.00
  Bhutan 8 6 0 2 20 5 +15 75.00
  Brunei 5 3 0 2 7 3 +4 60.00
  Campuchia 5 2 1 2 4 12 −8 40.00
  Trung Quốc 2 0 0 2 2 4 −2 00.00
  Đông Đức 1 0 0 1 1 12 −11 00.00
  Guam 1 1 0 0 5 1 +4 100.00
  Hồng Kông 1 0 0 1 0 5 −5 00.00
  Ấn Độ 19 2 5 12 13 32 −19 11.11
  Indonesia 6 0 1 5 6 29 −23 33.33
  Iran 2 0 0 2 0 11 −11 00.00
  Nhật Bản 3 0 0 3 0 16 −16 00.00
  Jordan 1 0 0 1 1 2 −1 00.00
  Kyrgyzstan 1 0 0 1 1 4 −3 00.00
  Lào 8 3 2 3 13 11 +2 62.50
  Liban 5 1 0 4 6 18 −12 25.00
  Litva 2 0 1 1 0 2 −2 00.00
  Ma Cao 3 1 1 1 4 2 +2 66.66
  Malaysia 10 1 0 9 7 36 −29 10.00
  Maldives 20 2 9 9 16 38 −22 10.00
  Mông Cổ 2 1 0 1 3 2 +1 50.00
  Myanmar 9 2 1 6 10 20 −10 22.22
  CHDCND Triều Tiên 3 0 0 3 0 8 −8 00.00
  Nepal 17 6 7 4 25 19 +6 37.50
  Oman 3 0 1 2 1 14 −13 00.00
  Pakistan 19 8 4 7 31 25 +6 75.00
  Palestine 1 0 0 1 0 2 −2 00.00
  Philippines 4 1 1 2 5 9 −4 50.00
  Qatar 3 0 0 3 0 9 −9 00.00
  Ả Rập Xê Út 3 0 0 3 0 9 −9 00.00
  Singapore 5 1 0 4 6 15 −9 20.00
  Hàn Quốc 3 0 0 3 0 19 −19 00.00
  Seychelles 4 1 1 2 5 8 −3 25.00
  Sudan 1 0 0 1 0 1 −1 00.00
  Syria 3 0 0 3 0 17 −17 00.00
  Tajikistan 4 0 1 3 3 11 −8 00.00
  Thái Lan 8 0 0 8 2 23 −21 00.00
  Đông Timor 1 1 0 0 3 2 +1 100.00
  Turkmenistan 6 0 1 5 2 12 −10 00.00
  UAE 8 0 0 8 3 35 −32 00.00
  Uzbekistan 2 0 0 2 0 9 −9 00.00
  Việt Nam 4 0 3 1 6 7 −1 30.00
  Yemen 4 1 1 2 2 6 −4 40.00

Tham khảo

  1. ^ "Sri Lanka's first international win at football". sundaytimes.lk. The Sundaytimes Sri Lanka. ngày 23 tháng 6 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
  2. ^ "Sri Lanka Sports News – Online edition of Daily News – Lakehouse Newspapers". dailynews.lk. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
  3. ^ Morrison, Neil (1999). "Asian Quadrangular Tournament (Colombo Cup) 1952–1955: 1953 (Rangoon, Burma)". RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2022.
  4. ^ AFC (ngày 6 tháng 11 năm 2016). "Mongolian penalties down Sri Lanka". thepapare.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
  5. ^ "Brave Sri Lanka B fall to Lithuania". ngày 11 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019.
  6. ^ "World Cup qualifier in Sri Lanka canceled after Macau refuse to travel | SaltWire". Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019.
  7. ^ "Sri Lanka welcomes FIFA ruling Macau out of WCup qualifying". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019.
  8. ^ "Сборная Шри-Ланки по футболу назначила нового главного тренера". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2020.
  9. ^ "Suspension of the Football Federation of Sri Lanka" (PDF). International Association Football Federation. ngày 22 tháng 1 năm 2023..
  10. ^ "Sri Lanka Football ban : New update from FIFA". ngày 26 tháng 7 năm 2023.
  11. ^ "The Football Federation of Sri Lanka (FFSL) has officially announced the squad for the upcoming international friendlies against Laos and Thailand in March". Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2025 – qua Instagram.
  12. ^ "Sri Lanka matches, ratings and points exchanged". eloratings.net. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.

Liên kết ngoài