Bước tới nội dung

Kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Kinh Phổ Hiền)
Tập tin:Puxian Emei.jpg
Tượng Phổ Hiền Bồ Tát trên Nga Mi Sơn, cùng voi trắng sáu ngà của ngài.

Kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Pháp (Hán phồn thể: Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Hán giản thể: Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Bính âm: Guān Pǔxián Púsà Xíngfǎ Jīng; tiếng Nhật: 観普賢菩薩行法経; rōmaji Kan Fugen Bosatsu Gyōhō Kyō; tiếng Việt: Kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Pháp; tiếng Hàn: 관보현보살행법경; Gwan Bohyeon Bosal Haengbeop Gyeong), còn được gọi là Kinh Quán Bồ Tát Phổ Hiền, là một kinh điển Phật giáo Đại thừa giảng dạy về phép thiền quán và các pháp sám hối.

Bản Hán văn hiện còn của kinh này được ngài Đàm Ma Mật Đa (Dharmamitra) dịch trong khoảng từ năm 424 đến 442 CN (T09n277).[1] Kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Pháp thường được xếp vào bộ gọi là "Pháp Hoa Tam Bộ Kinh", cùng với Kinh Pháp HoaKinh Vô Lượng Nghĩa. Tuy nhiên, người ta không biết kinh này được đọc lần đầu tiên khi nào hoặc bởi ai, nhưng nó được nhiều giáo phái Đại thừa coi là phần tiếp theo (phần kết) của những lời dạy của Đức Phật được tìm thấy trong Kinh Pháp Hoa.[2] Kinh này được cho là kế thừa hai bản dịch trước đó, bao gồm một bản do Cưu Ma La Thập thực hiện nhưng nay đã thất truyền.[1]

Phổ Hiền Bồ Tát

Theo chính nội dung kinh, Phổ Hiền Bồ Tát (Samantabhadra, nghĩa là “Đức Hạnh Phổ Quát”) sinh tại cõi Tịnh Diệu ở phương Đông, và hình tướng của ngài đã được Đức Phật mô tả rõ ràng trong Kinh Hoa Nghiêm.[3] Trong Pháp Hoa Tam Bộ Kinh, chương đứng trước Kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Pháp, tức phẩm 28 của Kinh Pháp Hoa, mô tả Phổ Hiền là hình mẫu hoàn hảo của người thực hành bốn pháp sau:[4]

  • Thực hành giáo pháp của Kinh Pháp Hoa.
  • Bảo hộ Chánh pháp trước mọi hình thức bức hại.
  • Chứng kiến công đức của những người tu tập giáo pháp và quả báo của những kẻ phỉ báng Phật pháp hoặc đàn áp người tu hành.
  • Chứng minh rằng những người phạm Chánh pháp vẫn có thể được giải thoát khỏi tội lỗi nếu thành tâm sám hối.

Trong Kinh Quán, Đức Phật mô tả thân tướng của Phổ Hiền rộng lớn vô hạn; âm thanh của ngài và các hóa thân của ngài cũng vô hạn. Ngài sở hữu thần thông cho phép xuất hiện trong thế gian bất cứ khi nào mong muốn và có thể thu nhỏ thân tướng. Nhờ sức mạnh trí tuệ, ngài hiện thân cưỡi voi trắng để giáo hóa những con người trong Diêm Phù Đề đang bị ô nhiễm bởi ba chướng ngại nặng nề là kiêu mạn, ganh tị và tham dục.[5] Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng mô tả rất chi tiết hình tướng của con voi mà Phổ Hiền cưỡi.[6]

Phổ Hiền cưỡi voi trắng với mục đích duy nhất là dẫn dắt chúng sinh ở Diêm Phù Đề, tức cõi Ta-bà (sahā), thông qua những pháp tu thích hợp với hoàn cảnh của họ.[7] Hình tượng Bồ Tát cưỡi voi trắng vừa là biểu tượng của sự thực hành Phật pháp vừa là biểu tượng của sự thanh tịnh. Sự thanh tịnh của sáu căn được biểu hiện qua sáu chiếc ngà của voi trắng Phổ Hiền.[7]

Không thể phủ nhận rằng Kinh Quán là phần tiếp nối của Kinh Pháp Hoa, bởi chính kinh này đã ba lần nhắc đến "Kinh Diệu Pháp Liên Hoa".[1][8]

Ý nghĩa của sự sám hối

Theo nghĩa thông thường, từ “sám hối” chỉ việc thú nhận hoặc hối lỗi về những hành vi sai trái trong quá khứ, cả về thân lẫn tâm, hay những tội lỗi đã phạm. Khi sám hối, chúng ta thanh lọc tâm thức, giải thoát bản thân khỏi cảm giác tội lỗi và cảm nhận sự nhẹ nhõm sâu sắc.[2] Các nhà phân tâm học cũng đã vận dụng nguyên lý này để giúp đỡ nhiều người gặp các vấn đề về tâm lý.[2]

Quán chiếu Thực Tướng

Tại Nhật Bản, văn bản này còn được gọi là Kinh Sám Hối (tiếng Nhật: 懺悔經; rōmaji: Sange-kyō). Phẩm thứ hai của K[La-tinh hóa tiếng Nhật|rōinh Pháp Hoa giải thích chi tiết khái niệm [[Châay còn gọi là “Như Thị”. Kinh nhấn mạnh việc sám hối thông qua thiền quán về “thực tướng của các pháp” và các kinh điển Phương Đẳng (Vaipulya).[9]

Tinh túy của sự sám hối trong Phật giáo được tóm lược qua những câu kệ sau đây do Đức Phật thuyết giảng về sự thanh tịnh của sáu căn:[10][11]

Biển chướng ngại của mọi nghiệp
Đều sinh từ vọng tưởng của chính mình.
Nếu muốn sám hối những điều ấy,
Hãy ngồi ngay thẳng, quán thực tướng.
Mọi tội lỗi như sương và giá,
Mặt trời trí tuệ có thể tan trừ.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ a b c Reeves 2008, tr. 4
  2. ^ a b c Niwano 1976, tr. 423
  3. ^ Kato 1993, tr. 348
  4. ^ Niwano 1976, tr. 405–406
  5. ^ Kato 1993, tr. 349
  6. ^ Kato 1993, tr. 349–350
  7. ^ a b Niwano 1976, tr. 429
  8. ^ Kato 1993, tr. 354, 355 và 356
  9. ^ Niwano 1976, tr. 451–453
  10. ^ Niwano 1976, tr. 453
  11. ^ Kato 1993, tr. 365–366

Nguồn tham khảo

  • Kato, Bunno (1993). The Three[nghiệp tưởngfold Lotus Sutra (PDF). Tokyo: Kosei Publishing Company. tr. 348. ISBN 4333002087. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2013.
  • Niwano, Nikkyo (1976), Buddhism For Today: A Modern Interpretation of the Threefold Lotus Sutra (PDF), Tōkyō: Kōsei Publishing Co., ISBN 4-333-00270-2, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2013
  • Reeves, Gene (2008). The Lotus Sutra: A Contemporary Translation of a Buddhist Classic. Somerville: Wisdom Publications. ISBN 978-0861715718.

Thư mục

  • Shinjo Suguro, Nichiren Buddhist International Center, dịch (1998): Introduction to the Lotus Sutra, Fremont, Calif.: Jain Publishing Company. ISBN 0875730787; tr. 203–218