Bước tới nội dung

Nguyệt đăng tam muội kinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Samādhirāja)
Tác phẩm điêu khắc Candraprabha (Gakkō Bosatsu, Bồ tát ánh trăng), Tōdai-ji, Nara . Candraprabha là người đối thoại chính của Đức Phật trong Candrapradīpa.

Kinh Tam Muội Vương (Samādhirāja Sūtra) hay Kinh Nguyệt Đăng (Candrapradīpa Sūtra) (tiếng Phạn: Candrapradīpasamādhi sūtra, tiếng Trung: 月燈三昧經, Nguyệt đăng tam muội kinh) là một bộ kinh điển Phật giáo Đại thừa. Một số học giả xác định thời điểm biên soạn bộ kinh này là từ thế kỷ thứ 2 hoặc thứ 3 đến thế kỷ thứ 6 Tây Lịch (thời điểm của bản viết tay cổ nhất được tìm thấy), trong khi những người khác lại lập luận rằng niên đại của nó đơn giản là không thể xác định được.[1] Kinh Tam Muội Vương là một nguồn tài liệu vô cùng quan trọng đối với tông Trung Quán (Madhyamaka) và được trích dẫn bởi nhiều tác giả Ấn Độ như Nguyệt Xứng (Chandrakirti), Tịch Thiên (Shantideva) cùng các tác giả Phật giáo đời sau.[1] Theo Alex Wayman, Kinh Tam Muội Vương "có lẽ là nguồn kinh điển quan trọng nhất đối với tông Trung Quán". Bộ kinh này cũng được trích dẫn rộng rãi trong các nguồn tài liệu Phật giáo Mật tông, nơi khuyến khích việc tụng đọc kinh này cho các mục đích nghi lễ.[1] Một bản chú giải cho kinh có tên là Kīrtimala (tiếng Tây Tạng: grags pa'i phreng ba) do luận sư Ấn Độ Diệu Cát Tường Xưng (Manjushrikirti) biên soạn hiện vẫn còn được bảo tồn trong tạng ngữ Tây Tạng.[2]

Tiêu đề

Văn bản này thường được biết đến với tên gọi Kinh Tam Muội Vương (tiếng Phạn: Samādhirājasūtra, tiếng Tây Tạng: ting nge 'dzin gyi rgyal po'i mdo), và nó cũng được gọi là Kinh Nguyệt Đăng (tiếng Phạn: Candrapradīpa Sūtra, tiếng Tây Tạng: zla ba sgron me’i mdo) đặt theo tên của vị Bồ Tát chính trong kinh này.[3]

Tựa đề đầy đủ bằng tiếng Tây Tạng trong tạng Kanjur là:[1]

  • 'phags pa chos thams cad kyi rang bzhin mnyam pa nyid rnam par spros pa ting nge 'dzin gyi rgyal po zhes bya ba theg pa chen po'i mdo
  • Tiếng Phạn: Ārya-sarvadharma-svabhāvasamatā-vipañcita-samādhirāja-nāma-mahāyānasūtra
  • Trong tiếng Anh, tựa đề dài này có thể được dịch là:
    • Kinh Đại Thừa Bậc Thánh “Tam Muội Vương, Bản Tính Bình Đẳng Của Tất Cả Các Pháp Được Hiển Lộ” (bản dịch của Roberts).
    • Hoặc "Tam muội được biểu hiện như là tính đồng nhất trong tự tính cốt lõi của tất cả các pháp" (bản dịch của Luis và Gomez).
    • Hoặc "Bài giảng Đại thừa được gọi là vua của các tam muội, có được từ định lực được diễn bày như là sự đồng nhất trong cốt lõi của tất cả các hiện tượng" (bản dịch của Skilton).

Người Trung Hoa ưa chuộng tên gọi Nguyệt Đăng Tam Muội Kinh (Yueh-teng san-mei ching), tương ứng với từ Phạn ngữ *Candrapradīpa-samādhisūtra.

Lịch sử và Văn bản

Peter Alan Roberts viết rằng: "Không thể chắc chắn về thời điểm tác phẩm này lần đầu tiên xuất hiện dưới dạng văn bản; trên thực tế, bộ kinh này rất có thể là một sự biên tập từ các tác phẩm ngắn hơn có trước đó. Không có bản chép tay tiếng Phạn hoàn chỉnh nào hiện còn có niên đại sớm hơn thế kỷ thứ sáu."[1] Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng kinh này được trích dẫn trong bộ Tập Chư Kinh Luận (Sūtrasamuccaya, khoảng thế kỷ thứ 4 hoặc muộn hơn) và cũng có thể đã được ngài Vô Trước (Asanga, thế kỷ thứ 4) đề cập đến.[1] Gomez và Silk thì viết rằng: "Một dự đoán có cơ sở là văn bản này định hình trong khoảng từ thế kỷ thứ hai CN — thời điểm người ta tin rằng tư tưởng Trung Quán xuất hiện như một truyền thống triết học riêng biệt — và thế kỷ thứ sáu, niên đại của bản chép tay Gilgit, vốn là dị bản cổ nhất hiện còn của văn bản này. Điều này không có nghĩa là văn bản này đã không tồn tại dưới một hình thức nào đó trước thế kỷ thứ hai." Các tác giả này cũng lưu ý rằng một bản dịch chữ Hán của văn bản do ngài An Thế Cao dịch (hoạt động vào giữa thế kỷ thứ hai CN) có được ghi nhận trong các mục lục kinh điển chữ Hán.[4]

Andrew Skilton viết rằng bộ kinh lớn này có lẽ là một tác phẩm phức hợp mang "những điểm tương đồng nhất định với văn học Bát-nhã Ba-la-mật-đa và các kinh điển Đại thừa sơ kỳ khác". Ông cũng viết rằng có nhiều dị bản và phiên bản khác nhau của bộ kinh này từng được lưu hành tại Ấn Độ.[5]

Theo Roberts, "ít nhất có hai tác phẩm độc lập ngắn hơn, vốn có thể đã tồn tại từ trước, dường như đã được sát nhập vào Kinh Tam Muội Vương."[1] Đó là:

  • Kinh Đại Bát-nhã Tam Muội (Mahāprajñāsamādhisūtra), còn được gọi là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Hạnh (Mañjuśrībodhisattvacāryā). Tác phẩm này được Thích Tiên Công (Shih Sien-kung) dịch sang chữ Hán (giai đoạn 420–479). Bộ kinh tập trung vào sáu ba-la-mật này tương ứng với các chương từ 27 đến 29 trong bản Kinh Tam Muội Vương tiếng Tây Tạng, với khác biệt duy nhất là ngài Văn Thù Sư Lợi đã được thay thế bằng Nguyệt Quang Bồ Tát.[1]
  • Chương 36 của bản dịch tiếng Tây Tạng dường như cũng được lưu hành như một kinh điển độc lập.[1]

Kinh Tam Muội Vương được dịch sang chữ Hán bởi ngài Na-liên-đề-da-xá (Narendrayaśas, 517–589), một tăng sĩ Ấn Độ đến từ vùng Orissa, người đã đặt tựa đề cho kinh là Nguyệt Đăng Tam Muội Kinh (月燈三昧經, Đại Chính số 639).[1] Hai bản dịch chữ Hán khác bao gồm: một phiên bản khác tương đương với quyển thứ sáu do Tiên Công dịch với tên gọi Đãi Tuệ Tam Muội Kinh (逮慧三昧經) và một bản dịch khác tương đương với quyển thứ bảy cũng do Tiên Công dịch mang tên Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Thập Sự Hạnh Kinh (文殊師利菩薩十事行經).[6]

Các mảnh vỡ từ ba bản chép tay tiếng Phạn của bộ kinh ở vùng Trung Á đã được tìm thấy. Chúng có niên đại vào thế kỷ thứ năm hoặc thứ sáu.[1] Một bản dịch tiếng Tây Tạng đã được thực hiện vào thế kỷ thứ chín bởi ngài Śīlendrabodhi và Chönyi Tsultrim (Dharmatāśīla). Phiên bản tiếng Tây Tạng này dài hơn bản dịch chữ Hán có trước đó và được chia thành bốn mươi chương. Trong khi đó, bản dịch chữ Hán gồm có mười quyển (juan 卷).[1]

Một bản chép tay tiếng Phạn Ấn Độ hoàn chỉnh đã được phát hiện gần vùng Gilgit vào năm 1938, được xác định niên đại vào thế kỷ thứ sáu. Theo Roberts, văn bản này "ngắn hơn đáng kể so với bản dịch tiếng Tây Tạng, với ít kệ ngôn và đoạn văn xuôi hơn."[1] Các bản chép tay tiếng Phạn khác được tìm thấy ở Nepal thì dài hơn và gần gũi hơn với bản dịch tiếng Tây Tạng, một số phiên bản Nepal thậm chí còn chứa đựng những tài liệu không có trong bản Tây Tạng. Các phiên bản tiếng Phạn của bộ kinh hầu hết được viết bằng tiếng Phạn lai Phật giáo (BHS) hoặc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi loại ngôn ngữ này.[1]

Một phiên bản tiếng Phạn của bộ kinh đã được xuất bản bằng chữ Devanagari cùng với bản tóm tắt các chương bằng tiếng Anh vào năm 1941 bởi Nalinaksha Dutt. Theo Gomez và Silk, "ấn bản của Dutt còn thiếu sót ở nhiều phương diện. Đáng tiếc thay, ở điểm tốt nhất của nó thì đây là một sự kết hợp khiên cưỡng giữa các bản chép tay, còn ở điểm tệ nhất thì đó là một sự phục dựng lại từ bản tiếng Tây Tạng." Các tác giả này cũng lưu ý rằng một ấn bản gần đây hơn của P. L. Vaidya (1961) "cũng có vấn đề tương tự" vì nó "về cơ bản là một bản sao từ ấn bản của Dutt" với một vài chỉnh sửa của tác giả. Cuối cùng, họ nói thêm rằng "một công trình nghiêm túc và chặt chẽ hơn đã được hoàn thành bởi Seiren Matsunami."[7]

Nội dung và chủ đề

Một bức tranh Nhật Bản thế kỷ 12 mô tả bồ tát Candraprabha.

Kinh Tam Muội Vương được viết bằng thể loại kết hợp giữa văn xuôi và văn vần. Hai học giả Gomez và Silk đã khái quát hình thức phong cách chính trong các chương của bộ kinh (bản phân tích này dựa trên phiên bản dài được tìm thấy trong bản dịch tiếng Tây Tạng và một số bản chép tay tiếng Phạn) như sau:

  • Năm chương — gồm các chương I, X, XIV, XV và XL tạo thành "phần tự sự chính hay khung xương của văn bản, nghĩa là các sự kiện xoay quanh cuộc gặp gỡ giữa Đức Phật và Nguyệt Quang Bồ Tát".
  • Nhiều chương khác nhau chứa các câu chuyện Thí dụ (avadanas) hoặc bổn duyên (purvayogas — chủ yếu là những câu chuyện về tiền thân của Đức Phật) được lồng ghép xuyên suốt bộ kinh, đó là các chương II, V, VIII, XVI, XX, XXI, XXIX, XXXIII, XXXIV, XXXV và XXXVII.
  • Phần lớn văn bản (gồm 24 chương) chứa các đoạn văn xuôi và văn vần mang tính chất giải thích, diễn dịch.

Vua của các Samādhi (tam muội)

Kinh Tam Muội Vương khẳng định chủ đề cốt lõi của mình là một trạng thái định lực (được mệnh danh là "Vua của các tam muội"), vốn là chìa khóa mở ra mọi công đức của chư Phật và Bồ Tát, và do đó là "pháp duy nhất [ekadharmena] thâu tóm tất cả các giáo lý và xu hướng thực hành". Tam muội này được gọi là "tam muội được biểu hiện như là tính đồng nhất trong tự tính cốt lõi của tất cả các pháp" (sarva-dharma-svabhavā-samatā-vipañcita-samādhi). Học giả Skilton lưu ý rằng định lực này là đối tượng chính của bộ kinh. Trong khi Gomez và Silk hiểu từ vipañcita mang nghĩa là "biểu hiện", thì Skilton lại diễn dịch thuật ngữ này là "được diễn bày chi tiết", và nhìn nhận tam muội này (ít nhất là một phần) như một dạng chủ đề văn học được giải thích và diễn bày xuyên suốt bộ kinh.

Kinh văn mở đầu tại đỉnh núi Linh Thứu, nơi vị Bồ Tát chính của kinh là Nguyệt Quang hỏi Đức Phật làm thế nào để chứng đắc được những công hạnh đặc biệt quan trọng của chư Phật. Đức Phật đáp rằng có "một pháp duy nhất" dẫn đến các công đức này. Trước hết, Đức Phật mô tả định lực mang tên "sự diễn bày tính đồng nhất trong cốt lõi của tất cả các hiện tượng" qua lời tuyên thuyết ngắn gọn sau: "tâm ngài bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, tâm ngài mang lại lợi ích, tâm ngài đầy lòng trắc ẩn, tâm ngài không có xu hướng trả đũa, tâm ngài không có sự phiền não."

Silk và Gomez viết rằng Kinh Tam Muội Vương sử dụng thuật ngữ "tam muội" (samādhi) theo một nghĩa rất rộng. Định lực tối thượng này "đồng thời vừa là trải nghiệm nhận thức về tính không, vừa là sự thành tựu các thuộc tính của Phật quả, và cũng là việc thực hành đa dạng các hạnh nguyện hay hoạt động hằng ngày của một vị Bồ Tát — bao gồm cả việc phụng sự và kính ngưỡng dưới chân tất cả chư Phật." Kinh Tam Muội Vương cũng dùng thuật ngữ này để tự chỉ chính mình, đồng nhất bộ kinh với tam muội và tính không.

Kinh văn sau đó tiếp tục liệt kê hơn ba trăm lời mô tả về trạng thái tam muội này, chẳng hạn như: sự chế ngự của thân, khẩu và ý; "sự thanh tịnh của các hành vi"; "vượt thoát hoàn toàn các sở duyên (sự bám chấp)"; "liễu tri về các uẩn"; "tâm không lay động trước các xứ"; "thu thúc các căn"; "đoạn trừ ái dục"; "thân chứng tính vô sanh"; "lòng từ ái"; "sự dịu dàng"; đức hạnh tốt đẹp; không còn sân hận và tham ái; tuệ tri về các Chân lý (Tứ đế), giáo pháp, các trí vô ngại giải (tứ vô ngại biện), kiến thức về "sự phân chia các câu chữ và âm tiết", v.v.

Skilton lập luận rằng danh sách này được giới thiệu một cách rõ ràng chính là bản thân tam muội, trong khi các bản dịch chữ Hán lại gợi ý rằng chúng là các khía cạnh hoặc lợi ích của tam muội. Theo Skilton, bộ kinh sử dụng thuật ngữ "tam muội" ở đây để chỉ chính danh sách các thuật ngữ này, và ông lập luận rằng cách dùng này cũng được tìm thấy trong các văn bản Đại thừa khác. Ông cũng liệt kê nhiều đoạn văn khác nhau trong kinh nói về việc "nghe", "ghi nhớ", "tụng đọc" và "thọ trì trên tay" pháp tam muội được dạy trong kinh này. Skilton tranh luận rằng các đoạn văn này cho thấy thuật ngữ tam muội hẳn phải đang đề cập đến một văn bản (tức là danh sách gồm hơn 300 mục kể trên).[8]

rong khi đó, Gomez và Silk lại viết rằng danh sách này chứa đựng "những đức hạnh hoặc phẩm chất phi thường" cùng "công đức và năng lực" của tam muội, điều mà họ mô tả là một trạng thái thiền định sâu thẳm (vốn là ý nghĩa điển hình của thuật ngữ tam muội trong Phật giáo Ấn Độ). Họ cũng viết thêm rằng "không rõ các thuật ngữ hay hồng danh này được dùng làm định nghĩa, lời mô tả, hay chúng là những thuộc tính của tam muội, là nhân hay quả của nó." Mặt khác, Constantin Regamey lập luận rằng tam muội này (tức danh sách này) là "đối tượng của sự định tâm, một công thức ngôn từ để thiền quán". Ông nghĩ rằng điều này được thực hiện bằng cách lặp đi lặp lại công thức đó tương tự như một câu đà-la-ni. Ông cũng lưu ý rằng lời khuyên xuất hiện xuyên suốt bộ kinh về việc đọc, tụng và học thuộc lòng tam muội này đã cho thấy danh sách các thuật ngữ này quan trọng như thế nào đối với các tác giả của kinh.[9]

Sau khi liệt kê các phẩm chất và mô tả khác nhau về tam muội, Đức Phật khuyến tấn Nguyệt Quang Bồ Tát hãy thực hành và "gìn giữ tam muội", điều này vừa ám chỉ việc gìn giữ văn bản trong trí nhớ hoặc dưới dạng chữ viết, vừa chỉ các bài thực hành tâm linh đa dạng gắn liền với thuật ngữ samādhi của Ấn Độ. Việc thực hành "gìn giữ tam muội" này được cho là mang lại nhiều công đức, vốn được khái quát cụ thể trong kinh. Một yếu tố khác của tam muội này là một dạng chánh niệm niệm Phật (buddhānusmṛti). Đức Phật cũng giải thích cách quán sát tất cả các hiện tượng đều không có tự tính, giống như một giấc mơ hay một trò ảo thuật, và đó chính là "tự tính cốt lõi của tất cả các pháp" (sarva-dharma-svabhavā).[10]

Trong một đoạn văn ở chương 4 của bộ kinh, khi Nguyệt Quang Bồ Tát thỉnh cầu Đức Phật đưa ra một định nghĩa về "tam muội", Đức Phật đã đáp rằng:

Này thiện nam tử, thuật ngữ tam muội đang được sử dụng ở đây có nghĩa là: sự liễu tri về tâm; không phải là một trạng thái tái sinh; tuệ tri về tính vô sanh; trạng thái đã đặt gánh nặng xuống; tri kiến của các bậc Như Lai; ... sự thủ hộ các mật chú, tính không gây hại, trạng thái không áp bức những người có hành vi đức hạnh, trạng thái sở hữu lời nói vi diệu, trạng thái giải thoát hoàn toàn khỏi hệ thống ba cõi, sự tùy thuận chấp nhận tính không đối với tất cả các pháp, một trạng thái khao khát mãnh liệt hướng đến trí tuệ của bậc Biến Tri; này thiện nam tử, thuật ngữ tam muội được dùng theo nghĩa như vậy. Sự thực hành đúng đắn và không sai lệch đối với những pháp như thế này — chính là điều đó, này thiện nam tử, mà thuật ngữ tam muội được dùng để gọi tên.

Các chủ đề khác

Mặc dù bộ kinh tự nhận là bàn về tam muội, nhưng nó không chỉ tập trung duy nhất vào chủ đề này hay vào việc thiền định nói chung. Thay vào đó, kinh đề cập đến rất nhiều chủ đề và chứa đựng nhiều đoạn tự sự dài thuộc thể loại Thí dụ (avadanas) liên quan đến các tiền kiếp của Đức Phật nhằm minh họa cho các giáo lý khác nhau. Đan xen với những lời tự sự này là các bài giảng bằng thơ kệ của chư Phật quá khứ, một vài bài trong số đó là những câu kệ vô cùng nổi tiếng và thường được trích dẫn về thực tính của các pháp.[1]

Kinh Tam Muội Vương chứa đựng một phạm vi giáo lý và tư tưởng rộng lớn, mang tính chọn lọc từ nhiều nguồn, do đó rất khó để xếp bộ kinh này vào một danh mục duy nhất. Theo Gomez và Silk, bộ kinh đã "dành không gian cho nhiều phương diện của tôn giáo Phật giáo: thiền định, lễ bái chư Phật, tín ngưỡng sùng bái Kinh điển, suy luận triết học, diễn kể thần thoại (theo phong cách Thí dụ), v.v." Các tác giả này cũng viết rằng phần lớn bộ kinh chứa các đoạn văn khác nhau về những chủ đề bổ trợ như "niệm Phật (buddhānusmṛti), tự tính và công đức của một vị Phật, thân của một vị Phật, tự tính trong lời nói và sự im lặng của Ngài, sự thân chứng của Ngài về tính không" cũng như sáu ba-la-mật và các giới luật. Họ cũng lưu ý thêm rằng "người ta không nên đánh giá thấp tầm quan trọng của các phần tự sự, vì chúng vừa là những ví dụ xuất sắc của văn học Phật giáo, vừa là những tuyên cáo về mặt giáo lý."

Peter Alan Roberts viết rằng bộ kinh này "chứa đựng các giáo lý về tính không, hạnh nguyện Bồ Tát và hạnh khất thực, cũng như các câu chuyện về tiền kiếp và những lời tiên tri cho tương lai."[1]

Roberts cũng viết rằng Kinh Tam Muội Vương đặc biệt nhấn mạnh đến hạnh khất thực của Phật giáo, việc sống trong rừng sâu, ít ham muốn vật chất (thiểu dục) cùng các pháp thực hành tu viện khổ hạnh khác của Phật giáo, đồng thời phê phán những tăng sĩ không tuân theo lối sống này. Bộ kinh này cũng "ví niết-bàn như một ngọn lửa bị dập tắt, chấm dứt mọi hoạt động." Kinh cũng lặp đi lặp lại việc các vị Bồ Tát phải mất rất nhiều đại kiếp mới có thể chứng đắc Phật quả.[1]

Giống như các kinh điển Bát-nhã Ba-la-mật-đa, Kinh Tam Muội Vương cũng chỉ thảo luận về hai thân của Đức Phật là Sắc thân (rupa-kaya) và Pháp thân (Dharma-kaya), chứ không đề cập đến giáo lý "Tam thân" (Trikaya) xuất hiện ở thời kỳ muộn hơn.

Ảnh hưởng

Mark Tatz gọi tư tưởng của bộ kinh này là "Trung Quán sơ kỳ" và "bắt rễ sâu xa trong văn học Bát-nhã Ba-la-mật-đa". Gomez và Silk lưu ý rằng dù Kinh Tam Muội Vương được một số học giả xem như một văn bản của tông Trung Quán, "lập trường giáo lý của bộ kinh không thể được mô tả một cách chính xác là mang tính Trung Quán rõ ràng", mà thay vào đó là tính "chọn lọc và phổ quát, đến mức việc cố gắng xếp nó vào một danh mục chung nào đó sẽ trở nên vô nghĩa." Dù trong trường hợp nào, Kinh Tam Muội Vương vẫn là một văn bản vô cùng quan trọng và có thẩm quyền đối với các học giả Trung Quán tại Ấn Độ (trong khi nó lại bị ngó lơ trong tông Duy Thức/Yogacara) và các giáo lý của nó có "một xu hướng mạnh mẽ hướng về một lập trường triết học có thể được mô tả là gần gũi với lập trường của tông Trung Quán."[11]

Bộ kinh được ngài Nguyệt Xứng (Candrakīrti, thế kỷ thứ 7) trích dẫn hai mươi lần trong tác phẩm Hiển Cú Luận (Prasannapadā) của mình, và nó cũng được trích dẫn trong bộ Nhập Trung Luận (Madhyamakāvatāra) của ông. Thật vậy, Gomez và Silk viết rằng "Nguyệt Xứng trích dẫn kinh này thường xuyên trong Hiển Cú Luận đến mức người ta có thể hiểu nhiều lời bình giải của ông về các bài kệ (Trung Quán Luận Tụng) của ngài Long Thọ như là những lời bình giải về chính bộ kinh này, ít nhất là theo nghĩa chúng đặt bộ kinh vào một bối cảnh diễn dịch rộng lớn hơn." Một tác giả Trung Quán quan trọng khác là ngài Tịch Thiên (Śāntideva) đã trích dẫn bộ kinh hai mươi lần trong tác phẩm Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận (Śikṣasamuccaya) của mình.[1] Bộ kinh cũng được trích dẫn bởi ngài Tịch Hộ (Śāntarakṣita) trong Trung Quán Trang Nghiêm Luận (Madhyamakālaṃkāra), bởi ngài Liên Hoa Giới (Kamalaśīla) trong Tu Tập Thứ Đệ (Bhāvanākrama), bởi Prajñākaramati trong Nhập Bồ Tát Hạnh Tế Sơ (một bản chú giải cho tác phẩm Nhập Bồ Tát Hạnh của ngài Tịch Thiên), cũng như bởi các ngài A-đề-sa (Atiśa Dīpankara), Tỳ-mục-la-mật-đa (Vimalamitra), và Jñānaśrīmitra (hoạt động vào khoảng năm 975-1025 CN).[1]

Người ta biết đến hai bản chú giải của Ấn Độ về Kinh Tam Muội Vương, một trong số đó là tác phẩm Kīrtimala (Tràng Hoa Danh Tiếng) của ngài Diệu Cát Tường Xưng (Manjushrikirti). Ngài Nguyệt Quan (Chandragomin, khoảng thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 7 CN) cũng từng viết một bản chú giải, nhưng tác phẩm này hiện không còn nữa.

Kinh Tam Muội Vương vẫn duy trì là một nguồn tài liệu phổ biến trong Thời đại Mật tông, và nó được trích dẫn trong nhiều tác phẩm mật giáo Phật giáo, một vài trong số đó còn khuyến khích việc tụng đọc kinh này. Roberts viết rằng "Nghi quỹ Mạn-đà-la của Thắng Lạc Kim Cương (Cakrasamvara) nói rằng nên tụng bốn bộ kinh, mỗi bộ tại một trong bốn hướng chính xung quanh mạn-đà-la. Các bộ kinh đó là: Bát-nhã Ba-la-mật-đa (Kinh Bát-nhã Tám Ngàn Kệ); Nhập Pháp Giới (Gaṇḍavyūha), vốn là chương cuối của Kinh Hoa Nghiêm; Lăng-già (Laṅkāvātara); và Tam Muội Vương (Samādhirāja)." Tương tự như vậy, tác phẩm Đại Phương Quảng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi Căn Bản Nghi Quỹ Kinh (Mañjuśrīmūlakalpa) dạy việc tụng đọc Kinh Tam Muội Vương cho hai dịp nghi lễ: cho lễ trì chú khai quang một bức tranh trục cuốn (pata) và cho cửa phương Tây của một mạn-đà-la mật tông.

Bộ kinh tiếp tục giữ tầm ảnh hưởng trong nền Phật giáo Nepal, nơi đây là một trong chín văn bản Đại thừa cốt lõi (gọi là "Chín Pháp" / Cửu Pháp Bảo) của truyền thống đó, bao gồm bốn văn bản được trích dẫn ở trên cùng với các kinh: Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharmapuṇḍarīka), Phương Quảng Đại Trang Nghiêm (Lalitavistara), Như Lai Bí Mật (Tathāgataguhyaka), Kim Quang Minh (Suvarṇaprabha), và Thập Địa (Daśabhūmika).[1]

Trong nền Phật giáo Đông Á, Kinh Tam Muội Vương chưa bao giờ thực sự trở nên phổ biến và hiếm khi được trích dẫn hay được viết luận chú giải.[1]

Tại Tây Tạng

Theo Gomez và Silk, "mặc dù việc bản thân bộ kinh này được đọc tụng nhiều đến đâu tại Tây Tạng vẫn là một dấu hỏi, nhưng nó lại thường xuyên được trích dẫn trong văn học triết học Tây Tạng, mà phần lớn có lẽ là dựa trên các đoạn trích dẫn tìm thấy trong các văn bản Ấn Độ."

Tại Tây Tạng, Kinh Tam Muội Vương đã được nghiên cứu bởi tông Kadampa (Cựu Ca-đương phái) của ngài A-đề-sa (980–1054), và đối với họ, đây là một nguồn tài liệu quan trọng. Một trong những học trò của Ngài là Nagtsho Lotsawa đã dịch bản chú giải của bộ kinh này mang tên Kīrtimālā (Tràng Hoa Danh Tiếng) do luận sư Ấn Độ Diệu Cát Tường Xưng biên soạn.

Kinh Tam Muội Vương thường được trích dẫn như một nguồn tài liệu quan trọng cho các hướng dẫn về tu tập thiền Chỉ (śamatha) bởi truyền thống Kagyu (Cát-cửu phái), đặc biệt là thông qua bản bình giải của ngài Gampopa (Cương-ba-ba), mặc dù Andrew Skilton lưu ý rằng bản thân bộ kinh không chứa đựng nhiều hướng dẫn thực hành thiền định. Truyền thống Kagyu khẳng định rằng Kinh Tam Muội Vương đã tiên tri về các hoạt động hoằng pháp của ngài Gampopa và các vị Đức Nhiếp Chính Vương Karmapa.[12] Một vị lạt-ma Kagyu hiện đại là Thrangu Rinpoche đã xuất bản một bản chú giải chuyên sâu và rộng lớn về bộ kinh này.

Kinh Tam Muội Vương cũng được trích dẫn rộng rãi bởi các tác giả thuộc tông Gelug (Cách-lỗ phái). Ngài Tông-khách-ba (Tsongkhapa) đã trích dẫn bộ kinh mười ba lần trong tác phẩm Lamrim Chenmo (Đại Luận Về Bồ Đề Đạo Thứ Đệ) của mình. Học trò của Ngài là Khedrup Jé cũng trích dẫn kinh này một cách rộng rãi trong các tác phẩm của ông. Khedrup Jé nhìn nhận bộ kinh này là tác phẩm quan trọng nhất trong số các kinh điển Trung Quán, chỉ đứng sau các kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa.

Roberts cũng viết thêm rằng "bộ kinh này cũng được trích dẫn rất nhiều trong các tác phẩm chú giải nổi tiếng nhất của các đại học giả thuộc tất cả các truyền thống, bao gồm một vài bậc thầy Sakya (Tát-ca phái) thời kỳ đầu, ngài Longchenpa (Long Thần Ba), Minling Terchen, và Drikung Chökyi Trakpa, cũng như tác phẩm của các tác giả thời kỳ sau như Jamgön Kongtrul, Mipham, Jamyang Khyentse Wangpo, và Jigme Tenpai Nyima." Ngài Buton (Bố Đốn) cũng trích dẫn kinh này vô số lần trong tác phẩm Lịch sử Phật giáo (chos 'byung) của mình.

Bản dịch tiếng Anh

Bản dịch đầy đủ:

  • Roberts, Peter Alan (2022). The King of Samādhis Sūtra. 84000 Translating The Words of The Buddha. Translated from the Tibetan.[1]
  • O'Neill, Alexander James (2026). The Candrapradīpa Samādhi Sūtra: A Translation of the Candrapradīpa Samādhi Sūtra and its Variants from Chinese. Dharmakāya Books.[13] This also includes a translation of three other related texts from the Chinese canon.

Bản dịch một phần:

  • Bốn chương đầu tiên đã được dịch bởi Luis O. Gomez và Jonathan A. Silk.
  • Chương thứ tư, thứ sáu, thứ bảy và thứ chín được John Rockwell dịch trong luận án thạc sĩ tại Viện Naropa.
  • Chương thứ mười một được Mark Tatz dịch trong luận văn thạc sĩ của ông tại Đại học Washington (1972).
  • Chương thứ tám, chương thứ mười chín và chương thứ hai mươi hai được dịch bởi Konstanty Regamey.

Trích dẫn

Dudjom Rinpoche (1904–1987), một vị lama Nyingma nổi tiếng, trích dẫn đoạn văn sau từ kinh Samādhirāja Sūtra :

Trong hàng ngàn hệ thống thế giới Những bộ kinh mà Ta đã giảng giải Dẫu khác biệt về câu chữ âm tiết nhưng đều đồng một nghĩa như nhau. Thật chẳng thể nào diễn bày ra cho xiết thảy, Nhưng nếu ai đó thiền quán sâu sắc về một lời duy nhất, Người ấy sẽ đi đến chỗ thiền quán được về tất cả các kinh. Chư Phật, có bao nhiêu vị đi chăng nữa, Đều đã giảng giải một cách phong phú về các pháp. Nhưng nếu những bậc thấu suốt nghĩa lý ấy Chỉ cần nghiên cứu duy nhất một câu rằng: "Hết thảy vạn pháp đều là tính không" Thì giáo pháp của Đức Phật sẽ chẳng bao giờ trở nên khan hiếm.

Constantin Regamey dịch một đoạn từ Kinh Samadhiraja thảo luận về Pháp thân :

...Sắc thân của bậc Như Lai [tức Đức Phật] nên được định nghĩa là... có tự tính đồng nhất với Hư Không, vô hình, vượt ngoài tầm nhìn — Thân Tuyệt Đối (Pháp thân) cần phải được nhận thức như thế. Không thể nghĩ bàn, vượt ngoài phạm vi của tư duy, không dao động giữa an lạc và khổ đau, vượt trên sự phân biệt ảo tưởng, không có trú xứ, vượt ngoài tiếng nói của những bậc đang hướng đến Trí Tuệ Phật, mang tính cốt tủy, vượt trên các cấu nhiễm tham ái, bất khả phân chia, vượt trên sân hận, kiên định, vượt trên si mê, được hiển thị qua những dấu hiệu của tính không, vô sanh, vượt ngoài sự sinh thành, là hằng cửu dưới góc nhìn của kinh nghiệm thông thường, không có sự biệt dị trong khía cạnh của Niết-bàn, được mô tả bằng ngôn từ là bất khả thuyết, tịch tĩnh trong tiếng nói, là nhất thể đối với Tục đế (Sự thật quy ước), là quy ước đối với Chân đế (Sự thật tuyệt đối) — và là Tuyệt Đối theo đúng như giáo pháp chân thật.

Ghi chú

  1. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v Roberts, Peter Alan (2022). "The King of Samādhis Sūtra (Introduction)". 84000 Translating The Words of The Buddha (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2022. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên ":1" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên :0
  3. ^ Pearcey, Adam (2005). A Mini Modern Mahāvyutpatti: A Glossary of Tibetan-Sanskrit Terms for Translators. Third Edition. Lotsawa School Source: [liên kết hỏng] (accessed: Wednesday April 29, 2009), p.17
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên :10
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên :6
  6. ^ Regamey, Konstanty (1990). Philosophy in the Samādhirājasūtra. Delhi: Motilal Banarsidas. tr. 7–26.
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên :13
  8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên :5
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên :14
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên :11
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên :3
  12. ^ Khenchen Thrangu Rinpoche. King of Samadhi Sutra: Oral commentaries given in Rinpoche's monastery in Boudhanath, Nepal, January 1993 Lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007 tại Wayback Machine
  13. ^ "Dharmakāya Books - Publications". www.dharmakayabooks.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2026.

Đọc thêm

  • Bennett, A.A.G. (1968). "Excerpts from the Samadhiraja-Sutra", The Maha Bodhi 77, Calcutta 1958, 295–298.
  • Cüppers, Christopher (1990). The IXth Chapter of the Samadhirajasutra. Stuttgart.
  • Gomez, L.O. and J.A. Silk, eds (1989). "The Sutra of the King of Samādhis, Chapters I-IV." Studies in the Literature of the Great Vehicle, University of Michigan.
  • Hartmann, Jens-Uwe (1996). "A note on a newly-identified palm-leaf manuscript of the Samadhirajasutra", Indo-Iranian Journal 39, 105–109.
  • Rinpoche, Phakchok (2020). In the Footsteps of Bodhisattvas: Buddhist Teachings on the Essence of Meditation. Shambhala Publications. ISBN 978-1611808377ISBN 978-1611808377.
  • Rockwell Jr., John (1980). Samadhi and Patient Acceptance: Four Chapters of the Samadhiraja-sutra. translated from the Sanskrit and Tibetan. M.A.Thesis, The Naropa Institute, Boulder, Colorado.
  • Skilton, Andrew T. (1999). "Dating the Samadhiraja Sutra." Journal of Indian Philosophy 27, 635–652.
  • Skilton, Andrew T. (2000). "The Gilgit Manuscript of the Samadhiraja Sutra." Central Asiatic Journal 44, 67–86.
  • Skilton, Andrew T. (1999). '"Four Recensions of the Samadhiraja Sutra." Indo-Iranian Journal 42, 335–336.
  • Skilton, Andrew T. (?). "Samadhirajasutra", MonSC 2, 97–178.
  • Skilton, Andrew T. (2002). "State or statement? Samadhi in some early Mahayana Sutras", The Eastern Buddhist 34.2, 51–93.
  • Tatz, Mark (1972). Revelation in Madhyamika Buddhism. M.A.Thesis, University of Washington.
  • Thrangu Rinpoche (2004). King of Samadhi: Commentaries on the Samadhi Raja Sutra and the Song of Lodrö Thaye. North Atlantic Books: ISBN 962-7341-19-3.

Nguồn bên ngoài

Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán