Darijo Srna
Darijo Srna (phát âm tiếng Croatia: [dâːrijo sř̩na];[5] sinh ngày 1 tháng 5 năm 1982) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Croatia và hiện là giám đốc bóng đá của câu lạc bộ Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina Shakhtar Donetsk.[6] Trong phần lớn sự nghiệp, ông thi đấu ở vị trí hậu vệ cánh phải.
|
Tập tin:Darijo Srna 2020.jpg Srna năm 2020 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Darijo Srna[1] | ||
| Ngày sinh | 1 tháng 5, 1982 [1] | ||
| Nơi sinh |
Metković, CHXHCN Croatia, CHLBXHCN Nam Tư | ||
| Chiều cao | 1,78 m[2][3] | ||
| Vị trí | Hậu vệ cánh phải | ||
| Thông tin đội | |||
Đội hiện nay | Shakhtar Donetsk (giám đốc bóng đá) | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| GOŠK Gabela[4] | |||
| 1997–1999 | Neretva Metković | ||
| 1999–2000 | Hajduk Split | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 1999–2003 | Hajduk Split | 64 | (4) |
| 2003–2018 | Shakhtar Donetsk | 339 | (33) |
| 2018–2019 | Cagliari | 26 | (0) |
| Tổng cộng | 429 | (37) | |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 1998 | U-15 Croatia | 1 | (0) |
| 1999–2000 | U-17 Croatia | 5 | (4) |
| 2000–2001 | U-19 Croatia | 7 | (3) |
| 2000–2001 | U-20 Croatia | 2 | (0) |
| 2001–2004 | U-21 Croatia | 10 | (4) |
| 2002–2016 | Croatia | 134 | (22) |
| Sự nghiệp huấn luyện | |||
| Năm | Đội | ||
| 2023 | Shakhtar Donetsk (tạm quyền) | ||
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia | |||
Ông bắt đầu sự nghiệp tại Hajduk Split trước khi chuyển đến Shakhtar vào năm 2003. Ông giành nhiều danh hiệu trong thời gian khoác áo Shakhtar, bao gồm chức vô địch Cúp UEFA vào năm 2009, bảy chức vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina, năm Cúp bóng đá Ukraina và năm Siêu cúp bóng đá Ukraina. Ông rời Shakhtar vào năm 2018, ký hợp đồng một năm với Cagliari rồi trở lại Shakhtar để làm trợ lý huấn luyện viên.
Srna có trận ra mắt đội tuyển Croatia vào tháng 11 năm 2002 và là cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều thứ ba trong lịch sử đội tuyển quốc gia Croatia với 134 lần ra sân, từng đại diện cho quốc gia tại các kỳ 2006 và 2014 của Giải vô địch bóng đá thế giới, cũng như tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2004, 2008, 2012 và 2016. Năm 2009, huấn luyện viên khi đó Slaven Bilić trao cho ông băng đội trưởng đội tuyển quốc gia, vị trí ông giữ cho đến khi giã từ bóng đá quốc tế vào năm 2016; băng đội trưởng sau đó được chuyển giao cho Luka Modrić.
Ông là cầu thủ ra sân nhiều nhất trong lịch sử Shakhtar, với 536 lần ra sân.[7] Ông thường được gọi là "biểu tượng của Shakhtar".[8][9] Chất lượng thi đấu ổn định và phong cách chơi bóng của Srna khiến ông được so sánh với Cafu.[10]
Sự nghiệp câu lạc bộ
Hajduk Split
Tài năng của Srna được nhiều tuyển trạch viên tại Croatia phát hiện khi ông còn trẻ. Sau đó, ông được Hajduk Split ký hợp đồng khi tài năng của ông trở nên hấp dẫn với đội bóng lớn của Croatia.[11] Tại Hajduk, ông giành Cúp bóng đá Croatia 1999–2000 và Cúp bóng đá Croatia, cũng như Prva HNL 2000–01. Câu lạc bộ thi đấu ở vòng Một Cúp UEFA 1999–2000, Cúp UEFA 2001–02, Cúp UEFA 2002–03, cũng như vòng Hai UEFA Champions League 2000–01 và vòng Ba UEFA Champions League 2001–02. Ông có 84 lần ra sân cho câu lạc bộ, bao gồm 64 trận tại giải vô địch quốc gia, và ghi 8 bàn, trong đó có 4 bàn tại giải vô địch quốc gia, trước khi chuyển đến câu lạc bộ Ukraina Shakhtar Donetsk.
Shakhtar Donetsk
Năm 2003, Srna được bán cùng thủ môn Hajduk Stipe Pletikosa sang Shakhtar Donetsk.[12] Ông là thành viên thường xuyên và là đội trưởng của câu lạc bộ, nơi ông tạo ra ảnh hưởng lớn tại giải vô địch quốc gia. Trong mùa giải đầu tiên với câu lạc bộ, ông có 29 lần ra sân, bao gồm 19 trận tại giải vô địch quốc gia, ghi ba bàn, tất cả đều ở Cúp bóng đá Ukraina. Ông giúp câu lạc bộ giành Cúp bóng đá Ukraina, danh hiệu đầu tiên của ông cùng đội, và kết thúc ở vị trí thứ hai tại Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina.[13]
Trong mùa giải thứ hai, Shakhtar giành Siêu cúp bóng đá Ukraina và Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina.[14] Ông có 42 lần ra sân cho câu lạc bộ, trong đó 22 trận tại giải vô địch quốc gia, và ghi hai bàn, một ở giải vô địch quốc gia và một ở cúp quốc gia. Srna có trận ra mắt ở vòng chính UEFA Champions League vào ngày 14 tháng 9 năm 2004 trước Milan. Mùa giải thứ ba của ông chứng kiến Shakhtar bảo vệ thành công chức vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina.[15] Ông có 21 lần ra sân ở giải vô địch quốc gia và ghi hai bàn. Sau Giải vô địch bóng đá thế giới 2006, Benfica được cho là muốn chiêu mộ cầu thủ này, nhưng thương vụ không thành hiện thực, trong điều mà nhiều người xem là một vụ chuyển nhượng thất bại hoặc bị từ chối. Từ đó, ông được liên hệ với một số câu lạc bộ khác, bao gồm Lazio, nhưng không có vụ chuyển nhượng nào xảy ra.
Mùa giải tiếp theo, Shakhtar bị Dynamo Kyiv vượt qua trong cuộc đua vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina, khi đội không giành được danh hiệu nào.[16] Darijo có 35 lần ra sân cho câu lạc bộ, 20 trận ở giải vô địch quốc gia, và ghi bốn bàn, trong đó có ba bàn tại giải vô địch quốc gia. Trong mùa giải 2007–08, Shakhtar giành chức vô địch Premier League và chiến thắng ở chung kết Cúp bóng đá Ukraina.[17] Ông có 41 lần ra sân, trong đó 28 trận ở giải vô địch quốc gia.
Mùa giải 2008–09
Mùa giải 2008–09 chứng kiến Shakhtar giành Siêu cúp và Cúp UEFA. Ngày 15 tháng 7 năm 2008, Shakhtar giành chiến thắng trước Dynamo Kyiv trong trận chung kết Siêu cúp. Sau hiệp phụ, hai đội hòa 1–1. Trong loạt sút luân lưu sau đó, Shakhtar thực hiện thành công cả năm lượt sút để thắng 5–3. Srna, người đeo băng đội trưởng, ghi một trong các quả phạt đền.[18] Ngày 3 tháng 8, ông ghi bàn đầu tiên trong chiến thắng 3–0 trước Illichivets Mariupol.[19] Ngày 13 tháng 8, ông ghi bàn đầu tiên trong chiến thắng 2–0 trước Dinamo Zagreb tại Champions League.[20] Ngày 18 tháng 10, ông ghi bàn trong chiến thắng 4–2 của Shakhtar trước Kryvbas.[21] Ngày 2 tháng 3, ông ghi bàn quyết định trong chiến thắng 2–1 của Shakhtar tại giải vô địch quốc gia trước Illichivets.[22] Ngày 22 tháng 3, ông ghi bàn duy nhất trong trận thắng Vorskla ở giải vô địch quốc gia.[23] Ở bán kết Cúp UEFA, Shakhtar gặp Dynamo Kyiv trong cặp đấu toàn Ukraina. Sau trận hòa 1–1 trên sân khách ở lượt đi,[24] Shakhtar thắng 2–1 tại Donbas Arena để thắng chung cuộc 3–2 và tiến vào chung kết.[25] Darijo thi đấu đủ 90 phút ở cả hai lượt trận. Ngày 20 tháng 5 năm 2009, ông đeo băng đội trưởng Shakhtar trong chiến thắng 2–1 trước Werder Bremen ở chung kết Cúp UEFA.[26] Srna kiến tạo cho Jádson ghi bàn thắng quyết định ở phút thứ bảy của hiệp phụ. Ông cũng nhận một thẻ vàng. Đây là mùa giải cuối cùng của Cúp UEFA trước khi giải được đổi tên thành UEFA Europa League. Shakhtar kết thúc mùa giải Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina ở vị trí thứ hai, kém nhà vô địch Dynamo Kyiv 15 điểm.[27] Darijo có 46 lần ra sân và ghi năm bàn, với 25 lần ra sân và 4 bàn tại giải vô địch quốc gia.
Mùa giải 2009–10
Trong mùa giải 2009–10, Shakhtar giành lại chức vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina.[28] Ngày 28 tháng 8, ông thi đấu trong thất bại 0–1 sau hiệp phụ của Shakhtar trước Barcelona tại Siêu cúp bóng đá châu Âu, nhận một thẻ vàng ở phút 65.[29] Ông ghi bàn thứ ba trong chiến thắng 4–1 trên sân khách trước Club Brugge tại Europa League.[30] Ông ghi một bàn và nhận thẻ vàng trong chiến thắng 2–0 trước Dynamo Kyiv tại Cúp bóng đá Ukraina vào ngày 28 tháng 10.[31] Ông ghi bàn đầu tiên tại giải vô địch quốc gia trong mùa giải bằng chiến thắng 2–1 trước Zorya Luhansk vào ngày 20 tháng 3.[32] Ngày 3 tháng 4, ông ghi bàn duy nhất trong chiến thắng ở giải vô địch quốc gia trước Obolon.[33] Srna thi đấu 39 trận, 26 trận ở giải vô địch quốc gia, và ghi bốn bàn, trong đó có hai bàn tại giải vô địch quốc gia.
Mùa giải 2010–11
Mùa giải 2010–11 cực kỳ thành công đối với Shakhtar khi đội giành cú ăn ba (Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina, Cúp bóng đá Ukraina và Siêu cúp).[34] Ông thi đấu trong chiến thắng 7–1 của Shakhtar trước Tavriya Simferopol tại Siêu cúp vào ngày 4 tháng 7.[35] Ngày 15 tháng 9, ông ghi bàn duy nhất và nhận một thẻ vàng trong chiến thắng 1–0 trước Partizan tại Champions League.[36] Trong trận tiếp theo, gặp Tavriya, sau khi bị dẫn 0–1, Srna ghi bàn gỡ hòa trong chiến thắng 4–1.[37] Ngày 30 tháng 10, ông bị truất quyền thi đấu trong thời gian bù giờ trước Dnipro Dnipropetrovsk khi Shakhtar thắng 1–0.[38] Ngày 1 tháng 4, ông ghi bàn đầu tiên trong chiến thắng 3–1 trước Illichivets Mariupol.[39] Ngày 7 tháng 5, trước Metalurh Donetsk, ông ghi bàn thứ hai trong chiến thắng 2–0.[40] Ngày 25 tháng 5, ông thi đấu trong chiến thắng 2–0 trước Dynamo Kyiv ở chung kết Cúp bóng đá Ukraina, nhận một thẻ vàng.[41] Srna được chọn vào Đội hình tiêu biểu năm của UEFA Champions League theo hệ thống chấm điểm cầu thủ dựa trên thống kê trong mùa giải 2010–11, mùa mà Shakhtar thua Barcelona ở tứ kết. Srna tạo ra năm pha kiến tạo trong năm trận.[42] Ông có 39 lần ra sân, 27 trong số đó ở giải vô địch quốc gia, ghi bốn bàn, trong đó có ba bàn tại giải vô địch quốc gia.
Mùa giải 2011–12
Shakhtar giành Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina và Cúp bóng đá Ukraina trong mùa giải 2011–12, danh hiệu vô địch quốc gia thứ sáu của Darijo cùng câu lạc bộ.[43] Ông ghi bàn trong thời gian bù giờ hiệp một trong chiến thắng 2–0 trên sân khách trước Metalurh Donetsk.[44] Ngày 2 tháng 12, ông ghi bàn mở tỷ số trong chiến thắng 5–0 tại giải vô địch quốc gia trước Arsenal Kyiv trên sân Donbas Arena.[45] Ngày 16 tháng 4, ở vòng đấu thứ 27 của mùa giải, Srna ghi bàn cuối cùng trong chiến thắng 5–1 trước Zorya Luhansk.[46] Ngày 6 tháng 5, ông thi đấu trong chung kết Cúp bóng đá Ukraina gặp Metalurh Donetsk, nơi Shakhtar giành chiến thắng 2–1 sau hiệp phụ nhờ bàn thắng quyết định của Oleksandr Kucher.[47] Đây là danh hiệu Cúp bóng đá Ukraina thứ tư của Srna cùng Shakhtar. Ông nhận một thẻ vàng trong trận cuối cùng của mùa giải, chiến thắng 3–0 trước Oleksandriya.[48] Shakhtar vô địch giải đấu với khoảng cách bốn điểm so với Dynamo Kyiv; Srna ghi 3 bàn trong 25 trận tại giải vô địch quốc gia và có tổng cộng 34 lần ra sân trong mùa giải.
Mùa giải 2012–13
Darijo bắt đầu mùa giải 2012–13 bằng pha kiến tạo cho Luiz Adriano ở phút thứ sáu trong chiến thắng 2–0 của Shakhtar trước Metalurh Donetsk tại Siêu cúp.[49] Ông kiến tạo cho Ilsinho ghi bàn thứ hai trong chiến thắng 3–1 tại Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina trước Hoverla Uzhhorod.[50] Ông kiến tạo cho Fernandinho ghi bàn thắng quyết định ở phút 93 trước Kryvbas Kryvyi Rih,[51] rồi có thêm một pha kiến tạo cho Marko Dević trong chiến thắng 4–0 trước Volyn Lutsk.[52] Ngày 19 tháng 8, Srna kiến tạo cho Willian ghi bàn thứ ba trong chiến thắng 5–1 trước Chornomorets Odesa.[53] Ở trận kế tiếp, ông kiến tạo cho Luiz Adriano trong chiến thắng 3–0 trước Karpaty Lviv.[54] Ngày 2 tháng 9, ông kiến tạo cho bàn thắng thứ hai của Oleksandr Kucher trong chiến thắng 3–1 trước Dynamo Kyiv.[55] Ngày 23 tháng 9, Srna ghi bàn từ một quả đá phạt trực tiếp trong chiến thắng 4–1 trước Dynamo Kyiv ở vòng 32 đội Cúp bóng đá Ukraina.[56] Ngày 28 tháng 9, ông ghi bàn quyết định trong chiến thắng 2–1 trước Dnipro Dnipropetrovsk.[57] Ông nhận giải Cầu thủ xuất sắc nhất trận nhờ đóng góp trong chiến thắng trước Dnipro.[58] Ngày 19 tháng 10, ông kiến tạo cho Ilsinho ghi bàn trong chiến thắng 2–1 trước Illichivets.[59]
Ngày 13 tháng 2 năm 2013, Srna ghi bàn bằng một cú đá phạt được thực hiện chuẩn xác ở phút 31 trong trận lượt đi vòng 16 đội Champions League gặp Borussia Dortmund, trận đấu kết thúc với tỷ số hòa 2–2.[60] Vào cuối mùa giải 2012–13 tại Ukraina, ông là cầu thủ có nhiều pha kiến tạo nhất, với 12 lần.[61][62]
Mùa giải 2013–14
Giữa mùa giải, Srna giúp Shakhtar giành United Supercup, giải đấu giữa hai câu lạc bộ xếp cao nhất của Nga và Ukraina, đồng thời trở thành cầu thủ dẫn đầu về số pha kiến tạo[63] và đồng vua phá lưới của giải.[64] Đến cuối mùa giải, câu lạc bộ giành chức vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina và Siêu cúp bóng đá Ukraina 2014.
Mùa giải 2014–15
Trong trận đầu tiên của mùa giải, Srna lập kỷ lục mới về số trận thi đấu cho Shakhtar tại Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina.[65]
Mùa giải 2015–16
Trong mùa giải 2015–16, Srna thi đấu 41 trận và ghi sáu bàn.[66] Shakhtar thông báo rằng đội trưởng của họ đã gia hạn hợp đồng cho mùa giải 2016–17, một ngày sau khi câu lạc bộ kỷ niệm 80 năm thành lập.[67]
Vụ doping
Ông bị đình chỉ thi đấu từ ngày 22 tháng 9 năm 2017 đến ngày 22 tháng 8 năm 2018 sau khi không vượt qua cuộc kiểm tra doping với chất dehydroepiandrosterone.[68]
Cagliari Calcio
Ngày 22 tháng 6 năm 2018, Srna ký hợp đồng một năm với đội bóng Ý Cagliari Calcio, kèm tùy chọn gia hạn thêm một năm.[69] Vào tháng 6 năm 2019, hợp đồng kết thúc và Srna rời câu lạc bộ.
Trở lại Donetsk
Vào tháng 7 năm 2019, Srna trở lại Shakhtar Donetsk với vai trò trợ lý huấn luyện viên theo hợp đồng một năm đến năm 2020.[70] Sau đó, ông chuyển sang vai trò giám đốc bóng đá.
Sự nghiệp quốc tế
Euro 2004
Srna có trận ra mắt đội tuyển quốc gia Croatia trong một trận giao hữu gặp România vào tháng 11 năm 2002. Ông ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên trong trận chính thức đầu tiên cho Croatia, ở vòng loại UEFA Euro 2004 gặp Bỉ vào tháng 3 năm 2003, mở tỷ số trong chiến thắng 4–0 của Croatia. Ông có tổng cộng sáu lần ra sân trong chiến dịch vòng loại Euro 2004 của Croatia, bao gồm cả hai trận play-off gặp Slovenia.
Tại vòng chung kết Euro 2004, ông vào sân thay người trong các trận vòng bảng của Croatia gặp Thụy Sĩ và Anh, trước khi đội bị loại ở vòng Một.[12]
Giải vô địch bóng đá thế giới 2006
Sau Euro 2004, Srna trở thành một trong những cầu thủ chủ chốt trong chiến dịch vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 của Croatia, ghi năm bàn trong chín lần ra sân và là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất của đội tại giải. Trong vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2006, ông ghi cả hai bàn trong hai chiến thắng 1–0 của Croatia trước Thụy Điển, bao gồm một quả đá phạt tầm xa ở trận sân khách tại Göteborg. Ông cũng ghi cả hai bàn trong trận hòa 2–2 trên sân nhà của Croatia trước Bulgaria, cũng như một bàn trong chiến thắng 3–1 trên sân khách trước Iceland.
Srna sau đó đá chính cả ba trận của Croatia tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2006. Ông được ca ngợi và nhớ đến nhiều nhờ cú đá phạt ngoạn mục từ cự ly 30 yard, đưa Croatia vượt lên dẫn trước Úc trong trận đấu nổi tiếng với sai sót "Graham Poll ba thẻ vàng", kết thúc với tỷ số 2–2. Tuy nhiên, ở trận vòng bảng trước đó gặp Nhật Bản, ông sút hỏng phạt đền trong trận hòa 0–0 và Croatia kết thúc vòng bảng ở vị trí thứ ba với chỉ 2 điểm.
Euro 2008
Vào tháng 9 năm 2006, Srna tạm thời bị loại khỏi đội hình Croatia cho trận vòng loại Euro 2008 gặp Nga vì đi tiệc khuya tại một vũ trường địa phương, cùng các đồng đội Boško Balaban và Ivica Olić.[71]
Srna được xem là người hùng của trận đấu khi vào sân thay người trước Macedonia trong một trận vòng loại Euro 2008 và ghi bàn ngay sau đó từ một quả đá phạt, đưa bóng vào góc phải khung thành.[72] Ở phút 88, ông thực hiện đường tạt bóng để đồng đội Eduardo ghi bàn, qua đó giúp Croatia giành chiến thắng muộn. Ông cũng ghi bàn gỡ hòa cho Croatia trong chiến thắng nhọc nhằn trên sân khách trước Israel, trận đấu cuối cùng kết thúc với tỷ số 4–3 nghiêng về Croatia. Srna sau đó sút hỏng một quả phạt đền trước Estonia; tuy nhiên, đóng góp chung của ông cho mặt trận tấn công của đội đã bù đắp cho sai lầm này, và Croatia nhanh chóng tận dụng cơ hội để thắng 2–0.
Sau khi giúp đội tuyển quốc gia vượt qua vòng loại Euro 2008 bằng một chiến dịch vòng loại ấn tượng, Srna không gây bất ngờ khi được điền tên vào danh sách 23 cầu thủ dự giải. Ngày 12 tháng 6, Srna ghi bàn mở tỷ số ở phút 24 trong chiến thắng 2–1 của Croatia trước Đức ở trận thứ hai của đội tại bảng B. Ông là cầu thủ duy nhất ghi bàn cho Croatia trong loạt sút luân lưu không thành công ở tứ kết trước Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi trận đấu kết thúc, Srna được nhìn thấy cố kìm nước mắt sau nỗ lực lớn nhưng cuối cùng thất bại của Croatia.
Euro 2012
Sau Euro 2008, Srna kế nhiệm Niko Kovač làm đội trưởng đội tuyển quốc gia.[73][74]
Srna đá chính cả ba trận tại giải đấu năm 2012 với tư cách đội trưởng, khi Croatia xếp thứ ba sau Tây Ban Nha và Ý, đồng thời không thể giành quyền vào vòng tiếp theo. Ý và Tây Ban Nha sau đó trở thành hai đội vào chung kết giải đấu.
Giải vô địch bóng đá thế giới 2014
Ngày 6 tháng 2 năm 2013, Srna có lần khoác áo thứ 100 trong một trận giao hữu gặp Hàn Quốc tại Craven Cottage, Luân Đôn, qua đó cân bằng thành tích của Dario Šimić với tư cách cầu thủ khoác áo Croatia nhiều nhất. Trong trận đấu này, Srna cũng ghi bàn thắng quốc tế thứ 20 của mình.[75]
Croatia giành quyền tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2014, nơi Srna giữ vai trò đội trưởng ở giải đấu quốc tế chính thức thứ hai của ông, sau Euro 2012.[76] Croatia xếp thứ ba trong bảng sau Brasil và México, do đó không thể giành quyền vào vòng tiếp theo.
Euro 2016
Tại Euro 2016 ở Pháp, Srna một lần nữa giữ vai trò đội trưởng và thi đấu trong trận đầu tiên vòng bảng của Croatia gặp Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, ngay sau trận đấu, ông trở về Croatia khi nhận tin cha mình qua đời trong lúc trận đấu đang diễn ra. Sau đó, ông trở lại Pháp để tiếp tục giải đấu, nhằm thực hiện nguyện vọng cuối cùng của cha.[77] Croatia vào đến vòng đấu loại trực tiếp của giải, nhưng thua Bồ Đào Nha 0–1 sau bàn thắng của Ricardo Quaresma trong hiệp phụ.
Srna có tổng cộng 134 lần khoác áo và ghi 22 bàn cho Croatia, qua đó trở thành cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất của quốc gia này vào thời điểm ông giã từ đội tuyển.[78] Ông giữ kỷ lục này trong hơn tám năm, cho đến khi bị Luka Modrić vượt qua vào năm 2021.[79]
Đời tư
Srna sinh tại Metković[80] trên bờ biển Adriatic của miền nam Dalmatia, có cha là Uzeir, một người Bosniak, và mẹ là Milka, một người Croatia. Cha ông, một trẻ mồ côi sau Chiến tranh thế giới thứ hai tại Nam Tư và cựu cầu thủ của FK Sarajevo, đã ủng hộ sự nghiệp bóng đá mới chớm của ông bất chấp sự phân biệt đối xử trong thời Chiến tranh Nam Tư và tình trạng tham nhũng phổ biến trong giới huấn luyện viên bóng đá.[81] Trước khi rời Croatia để gia nhập Shakhtar Donetsk, ông tặng cha mẹ một chiếc Mercedes-Benz A-Class mới.[82] Ông có một hình xăm con hươu đang chơi bóng trên chân, vì "srna" trong tiếng Croatia có nghĩa là "hươu sao châu Âu".[83] Srna cũng từng giúp đỡ câu lạc bộ Bosnia Borac Šamac, nơi cha ông từng thi đấu ở vị trí thủ môn và cũng từng làm huấn luyện viên.[84]
Srna có một người anh cùng cha khác mẹ tên Renato, huấn luyện viên tại Neretva, từ cuộc hôn nhân đầu của cha.[83] Người anh em khác của ông, Igor, mắc hội chứng Down. Vì vậy, Srna dành tặng tất cả các bàn thắng của mình cho Igor,[83] và thậm chí từng để lộ chiếc áo bên dưới trang phục thi đấu có dòng chữ "Igor, svi smo uz tebe" ("Igor, tất cả chúng tôi luôn bên anh") sau khi ghi bàn vào lưới Macedonia trong một trận đấu quốc tế. Ông cũng có hình xăm chữ "Igor" trên ngực trái.[73]
Trong thời gian ở Shakhtar, Srna thường xuyên mua vé xem trận đấu cho trẻ mồ côi và nhiều lần tự chi trả chi phí đi lại cho các em đến sân vận động.[73][85][86] Cuối năm 2014, ông mua 20 tấn quýt từ các trang trại gần Metković và quyên góp cho hơn 23.000 học sinh tiểu học tại vùng Donbas trong thời gian chiến tranh đang tiếp diễn tại đây.[87]
Srna kết hôn với bạn gái lâu năm Mirela Forić, người ông quen thông qua bạn chung và cầu thủ bóng đá Boško Balaban.[88][89] Con gái của hai người, Kasja, sinh vào tháng 7 năm 2010 và con trai Karlo sinh vào tháng 6 năm 2015.[90][91]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
- Nguồn:[92]
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp quốc gia[a] | Châu Âu | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Hajduk Split | 1999–2000 | Prva HNL | 1 | 0 | 0 | 0 | – | – | 1 | 0 | ||
| 2000–01 | Prva HNL | 10 | 0 | 3 | 0 | – | – | 13 | 0 | |||
| 2001–02 | Prva HNL | 26 | 1 | 2 | 1 | 5[b] | 1 | – | 33 | 3 | ||
| 2002–03 | Prva HNL | 27 | 3 | 6 | 2 | 4[c] | 0 | – | 37 | 5 | ||
| Tổng cộng | 64 | 4 | 11 | 3 | 9 | 1 | – | 84 | 8 | |||
| Shakhtar Donetsk | 2003–04 | Vyshcha Liha | 19 | 0 | 5 | 3 | 5[d] | 0 | – | 29 | 3 | |
| 2004–05 | Vyshcha Liha | 22 | 1 | 7 | 1 | 11[e] | 0 | 1[f] | 0 | 41 | 2 | |
| 2005–06 | Vyshcha Liha | 21 | 2 | 1 | 0 | 10[g] | 0 | 1[f] | 0 | 33 | 2 | |
| 2006–07 | Vyshcha Liha | 20 | 3 | 5 | 0 | 9[h] | 1 | 1[f] | 0 | 35 | 4 | |
| 2007–08 | Vyshcha Liha | 28 | 0 | 3 | 0 | 10[i] | 0 | – | 41 | 0 | ||
| 2008–09 | Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina | 25 | 4 | 3 | 0 | 17[j] | 1 | 1[f] | 0 | 46 | 5 | |
| 2009–10 | Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina | 26 | 2 | 2 | 1 | 10[k] | 1 | 1[l] | 0 | 39 | 4 | |
| 2010–11 | Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina | 27 | 3 | 2 | 0 | 9[i] | 1 | 1[f] | 0 | 39 | 4 | |
| 2011–12 | Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina | 25 | 3 | 3 | 0 | 5[i] | 0 | 1[f] | 0 | 34 | 3 | |
| 2012–13 | Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina | 26 | 2 | 5 | 1 | 8[i] | 1 | 1[f] | 0 | 40 | 4 | |
| 2013–14 | Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina | 27 | 6 | 2 | 0 | 8[m] | 0 | 1[f] | 0 | 38 | 6 | |
| 2014–15 | Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina | 23 | 4 | 5 | 0 | 7[i] | 1 | 1[f] | 0 | 36 | 5 | |
| 2015–16 | Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina | 19 | 2 | 4 | 0 | 17[n] | 3 | 1[f] | 1 | 41 | 6 | |
| 2016–17 | Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina | 23 | 1 | 1 | 0 | 9[o] | 0 | 1[f] | 0 | 34 | 1 | |
| 2017–18 | Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina | 8 | 0 | 0 | 0 | 1[i] | 0 | 1[f] | 0 | 10 | 0 | |
| Tổng cộng | 339 | 33 | 48 | 6 | 136 | 9 | 13 | 1 | 536 | 49 | ||
| Cagliari | 2018–19 | Serie A | 26 | 0 | 2 | 0 | – | – | 28 | 0 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 429 | 37 | 61 | 9 | 145 | 10 | 13 | 1 | 648 | 57 | ||
- ^ Bao gồm Cúp bóng đá Croatia, Cúp bóng đá Ukraina, Coppa Italia
- ^ Ba lần ra sân ở UEFA Champions League, hai lần ra sân và một bàn thắng ở Cúp UEFA
- ^ Lần ra sân ở Cúp UEFA
- ^ Bốn lần ra sân ở UEFA Champions League, một lần ra sân ở Cúp UEFA
- ^ Bảy lần ra sân ở UEFA Champions League, bốn lần ra sân ở Cúp UEFA
- ^ a b c d e f g h i j k l Lần ra sân ở Siêu cúp bóng đá Ukraina
- ^ Hai lần ra sân ở UEFA Champions League, tám lần ra sân ở Cúp UEFA
- ^ Sáu lần ra sân ở UEFA Champions League, ba lần ra sân và một bàn thắng ở Cúp UEFA
- ^ a b c d e f Lần ra sân ở UEFA Champions League
- ^ Tám lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Champions League, chín lần ra sân ở Cúp UEFA
- ^ Hai lần ra sân ở UEFA Champions League, tám lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Europa League
- ^ Lần ra sân ở Siêu cúp bóng đá châu Âu
- ^ Sáu lần ra sân ở UEFA Champions League, hai lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ Chín lần ra sân và hai bàn thắng ở UEFA Champions League, tám lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Europa League
- ^ Hai lần ra sân ở UEFA Champions League, bảy lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Europa League
Quốc tế
- Nguồn:[93]
| Croatia | ||
| Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|
| 2002 | 1 | 0 |
| 2003 | 11 | 1 |
| 2004 | 11 | 4 |
| 2005 | 9 | 3 |
| 2006 | 9 | 3 |
| 2007 | 11 | 4 |
| 2008 | 10 | 2 |
| 2009 | 9 | 1 |
| 2010 | 8 | 1 |
| 2011 | 10 | 0 |
| 2012 | 10 | 0 |
| 2013 | 11 | 2 |
| 2014 | 11 | 0 |
| 2015 | 6 | 0 |
| 2016 | 7 | 1 |
| Tổng cộng | 134 | 22 |
- Tỷ số của Croatia được liệt kê trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Srna[94]
| # | Ngày | Địa điểm | Cap | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 29 tháng 3 năm 2003 | Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia | 4 | Bỉ | 1–0 | 4–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2004 |
| 2 | 31 tháng 3 năm 2004 | 14 | Thổ Nhĩ Kỳ | 2–1 | 2–2 | Giao hữu | |
| 3 | 8 tháng 9 năm 2004 | Sân vận động Ullevi, Gothenburg, Thụy Điển | 21 | Thụy Điển | 1–0 | 1–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 |
| 4 | 9 tháng 10 năm 2004 | Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia | 22 | Bulgaria | 1–0 | 2–2 | |
| 5 | 2–0 | ||||||
| 6 | 9 tháng 2 năm 2005 | Sân vận động Teddy, Jerusalem, Israel | 24 | Israel | 2–1 | 3–3 | Giao hữu |
| 7 | 3 tháng 9 năm 2005 | Laugardalsvöllur, Reykjavík, Iceland | 28 | Iceland | 3–1 | 3–1 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 |
| 8 | 8 tháng 10 năm 2005 | Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia | 30 | Thụy Điển | 1–0 | 1–0 | |
| 9 | 1 tháng 3 năm 2006 | St. Jakob-Park, Basel, Thụy Sĩ | 33 | Argentina | 2–2 | 3–2 | Giao hữu |
| 10 | 22 tháng 6 năm 2006 | Gottlieb-Daimler-Stadion, Stuttgart, Đức | 39 | Úc | 1–0 | 2–2 | Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 |
| 11 | 15 tháng 11 năm 2006 | Sân vận động Ramat Gan, Ramat Gan, Israel | 41 | Israel | 1–1 | 4–3 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008 |
| 12 | 24 tháng 3 năm 2007 | Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia | 43 | Macedonia | 1–1 | 2–1 | |
| 13 | 22 tháng 8 năm 2007 | Sân vận động Koševo, Sarajevo, Bosna và Hercegovina | 46 | Bosna và Hercegovina | 2–0 | 5–3 | Giao hữu |
| 14 | 4–2 | ||||||
| 15 | 12 tháng 9 năm 2007 | Estadi Comunal, Andorra la Vella, Andorra | 48 | Andorra | 1–0 | 6–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008 |
| 16 | 12 tháng 6 năm 2008 | Hypo-Arena, Klagenfurt, Áo | 57 | Đức | 1–0 | 2–1 | Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008 |
| 17 | 20 tháng 8 năm 2008 | Ljudski vrt, Maribor, Slovenia | 59 | Slovenia | 2–2 | 3–2 | Giao hữu |
| 18 | 14 tháng 11 năm 2009 | Sân vận động HNK Cibalia, Vinkovci, Croatia | 71 | Liechtenstein | 2–0 | 5–0 | |
| 19 | 3 tháng 9 năm 2010 | Sân vận động Skonto, Riga, Latvia | 76 | Latvia | 3–0 | 3–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012 |
| 20 | 6 tháng 2 năm 2013 | Craven Cottage, Luân Đôn, Anh | 100 | Hàn Quốc | 2–0 | 4–0 | Giao hữu |
| 21 | 19 tháng 11 năm 2013 | Sân vận động Maksimir, Zagreb, Croatia | 110 | Iceland | 2–0 | 2–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 |
| 22 | 4 tháng 6 năm 2016 | Sân vận động Rujevica, Rijeka, Croatia | 130 | San Marino | 3–0 | 10–0 | Giao hữu |
Thống kê huấn luyện
Tính đến ngày 24 tháng 10 năm 2023
| Team | From | To | Record | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| G | W | D | L | Win % | ||||||
| Shakhtar Donetsk (tạm quyền) | 17 tháng 10 năm 2023 | 24 tháng 10 năm 2023 | 1 | 1 | 0 | 0 | 100,00 | |||
| Tổng cộng sự nghiệp | 1 | 1 | 0 | 0 | 100,00 | |||||
Danh hiệu
Hajduk Split[95]
Shakhtar Donetsk[95]
- Vyshcha Liha/Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina: 2004–05, 2005–06, 2007–08, 2009–10, 2010–11, 2011–12, 2012–13, 2013–14, 2016–17, 2017–18
- Cúp bóng đá Ukraina: 2003–04, 2007–08, 2010–11, 2011–12, 2012–13, 2015–16, 2016–17, 2017–18
- Siêu cúp bóng đá Ukraina: 2005, 2008, 2010, 2012, 2013, 2014, 2015, 2017
- Cúp UEFA: 2008–09
Cá nhân
- Giải Trái tim Hajduk: 2003[96]
- Cầu thủ xuất sắc nhất Giải bóng đá Ngoại hạng Ukraina: 2008–09, 2009–10[97]
- Cầu thủ Đông Âu xuất sắc nhất mùa giải của ADN: 2009[98]
- Đội hình tiêu biểu mùa giải UEFA Champions League: 2010–11[99]
- Đội hình tiêu biểu UEFA Europa League: 2015–16[100]
Huân chương
- Huân chương Dũng cảm của Ukraina: 2009[101]
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b "2014 FIFA World Cup Brazil: List of Players: Croatia" (PDF). FIFA. ngày 14 tháng 7 năm 2014. tr. 12. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2020.
- ^ "Darijo Srna - Player Profile - Football". Eurosport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2022.
- ^ "Darijo Srna". worldfootball.net (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2022.
- ^ "Dalmacija News - Neovisni hrvatski portal". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2013.
- ^ "sŕna". Hrvatski jezični portal (bằng tiếng Croatia). Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2018.
Sr̀na
- ^ Lyttleton, Ben. "Euro 2012: Croatia". Sports Illustrated. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2012.
- ^ Кинзерский Эдуард. "Краткая энциклопедия побед "Шахтера"". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2013.
- ^ "Игор Дуляй: Срна - икона клуба". ngày 16 tháng 11 năm 2014.
- ^ "MPORT.UA – ежедневный журнал для нового поколения мужчин!". MPort. tháng 1 năm 2010.
- ^ "Darijo Srna - Biography". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010.
- ^ Wilson, Jonathan (ngày 1 tháng 6 năm 2008). "Darijo Srna owes a huge debt to his father". The Daily Telegraph. London. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2010.[liên kết hỏng]
- ^ a b "MasterCard UEFA Champions League – Players". Mastercard.com. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
- ^ "Ukraine 2003/04". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Ukraine 2004/05". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Ukraine 2005/06". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Ukraine 2006/07". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Ukraine 2007/08". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar – Dynamo: lineups". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar Donetsk vs Illichivets 3–0". Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar Donetsk vs Dinamo Zagreb 2–0". Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar Donetsk vs Kryvbas 4–2". Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Illichivets vs Shakhtar Donetsk". Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar Donetsk vs Vorskla 1–0". Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Fernandinho gives Shakhtar the whip hand". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Ilsinho sends Shakhtar to Istanbul". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Jadson the difference as Shakhtar triumph". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Ukraine 2008/09". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Ukraine 2009/10". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ Bản mẫu:Chú thích web 2009
- ^ "Club Brugge vs Shakhtar Donetsk 1–4". Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar Donetsk vs Dynamo Kyiv 2–0". Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Zorya vs Shakhtar Donetsk 1–2". Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Obolon vs Shakhtar Donetsk 0–1". Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Ukraine 2010/11". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar vs Tavriya 7–1". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar Donetsk vs Partizan 1–0". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar vs Tavriya 4–1". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Dnipro vs Shakhtar Donetsk 0–1". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Illichivets vs Shakhtar 1–3". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar Donetsk vs Metalurh Donetsk 2–0". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Dynamo Kyiv vs Shakhtar Donetsk 0–2". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Darijo teamed with Messi and Piqué &2011#124; News | FC Shakhtar Donetsk official website". Shakhtar.com. Truy cập 25 tháng 7.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=(trợ giúp) - ^ "Ukraine 2011/12". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Metalurh Donetsk vs Shakhtar Donetsk 0–2". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar Donetsk vs Arsenal Kyiv 5–0". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Zorya vs Shakhtar Donetsk 1–5". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Metalurh Donetsk vs Shakhtar Donetsk 1–2". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar Donetsk vs Oleksandria 3–0". Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Metalurh Donetsk vs Shakhtar Donetsk 0–2". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Hoverla vs Shakhtar Donetsk 1–3". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar Donetsk 1–0 Kryvbas". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Volyn vs Shakhtar Donetsk 0–4". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Chornomorets vs Shakhtar Donetsl 1–5". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar Donetsk vs Karpaty 3–0". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar Donetsk vs Dynamo Kyiv 3–1". Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar outclass Dynamo". Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Shakhtar vs Dnipro 2–1". Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012.
- ^ "Srna named the Man of the Match". Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012.
- ^ "Shakhtar vs Illichivets 2–1". Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2012.
- ^ "Hummels leaves it late". ESPNFC. ngày 13 tháng 2 năm 2013.
- ^ "Премьер-лига Украина 2015/2016 - бомбардиры - Sports.ru". Sports.ru.
- ^ "Лучшие Ассистенты Премьер-лиги Украины по Футболу сезона 2012-2013. UA-Футбол".
- ^ Bản mẫu:Chú thích web 2014
- ^ "Футбол. Прочие турниры. Объединённый Суперкубок 2014 - Статистика игроков. Бомбардиры". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014.
- ^ "Срна - рекордсмен Шахтера по количеству игр в чемпионатах Украины". ngày 27 tháng 7 năm 2014.
- ^ "Shakhtar extended deal with Darijo Srna". Shakhtar.com. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênShakhtar extended deal with Darijo Srna - ^ "Archived copy". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2018.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết) - ^ "Benvenuto Darijo!" (bằng tiếng Ý). Cagliari Calcio. ngày 22 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2018.
- ^ "Darijo Srna returns to Shakhtar". shakhtar.com (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2019.
- ^ "Croatia coach drops three players for partying – Sports –". International Herald Tribune. ngày 29 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
- ^ "ESPNsoccernet – Report: Croatia vs Macedonia – European Championship Qualifying". ESPN. ngày 24 tháng 3 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
- ^ a b c "Euro 2012: Croatia profile – Darijo Srna". The Guardian. ngày 4 tháng 6 năm 2012.
- ^ "Ako Niko Kovač ode, novi kapetan bit će Darijo Srna".
- ^ "Croatia 4 0 Hàn Quốc". Sky Sports. ngày 6 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013.
- ^ "Определились соперники Днепра в квалификации ЛЧ". ngày 31 tháng 5 năm 2014.
- ^ Thompson, Wright (ngày 24 tháng 6 năm 2016). "Darijo Srna mourns father in his own way as Croatia compete at Euro 2016". ESPN. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2020.
- ^ Trifunović, Boris (ngày 9 tháng 8 năm 2016). "Srna je dobio nasljednika: Luka Modrić novi kapetan Hrvatske" [Srna has his successor: Modrić is Croatia's new captain]. 24sata (bằng tiếng Croatia). Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2016.
- ^ "Croatia 1–0 Cyprus". bbc.com. ngày 27 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2021.
- ^ "ESPNsoccernet: Darijo Srna". ESPN. ngày 1 tháng 5 năm 1982. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
- ^ Wilson, Jonathan (ngày 1 tháng 6 năm 2008). "Darijo Srna owes a huge debt to his father". The Daily Telegraph. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
- ^ "Srna mami kupio Mercedes". 24sata.hr. ngày 23 tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
- ^ a b c Jonathan Wilson (ngày 21 tháng 8 năm 2008). "Super Darijo a very proud son of his father". The Guardian. London. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2008.
- ^ Hrvatski reprezentativac pomaže srpski klub, Borac mu nudi mesto koje poželi tại Sportski žurnal, 7 tháng 9 năm 2015 (bằng tiếng Serbia)
- ^ "920 детей-сирот получили билеты на футбол из рук капитана "Шахтера" " Корреспондент Донецка". Korrdon.info. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
- ^ Капитан ведет детей &2011#124; Новости | Официальный сайт ФК "Шахтер" (bằng tiếng Nga). Shakhtar.com. Truy cập 25 tháng 7.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=(trợ giúp) - ^ Christenson, Marcus (ngày 1 tháng 6 năm 2016). "Euro 2016: Sea lions, tangerines and head tapping – the weird and wonderful world of the players". theguardian.com. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2016.
- ^ "Darijo Srna i Mirela Forić dobit će djevojčicu". Index.hr. ngày 16 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
- ^ "Mirela Forić i Dario Srna vjenčat će se 16. svibnja u Dubrovniku". Večernji list. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
- ^ "Darijo Srna došao poljubiti kćer pa se vratio u Ukrajinu". Večernji list. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
- ^ "Srna je stigao na porod: Jako sam sretan, rodio se sin Karlo". 24 sata. ngày 27 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2019.
- ^ "D. Srna". Soccerway.
- ^ Darijo Srna tại National-Football-Teams.com
- ^ "Darijo Srna – Goals in International Matches". Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2015.
- ^ a b "Darijo Srna" Lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2009 tại Wayback Machine. Shakhtar.com. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014
- ^ "Hajdučko srce - Torcida Kup 2015".
- ^ "На вершине хит-парадов &2011#124; Новости | Официальный сайт ФК "Шахтер"". Shakhtar.com. Truy cập 25 tháng 7.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=(trợ giúp) - ^ "Eastern European Footballer of the season". WebArchive. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2024.
- ^ "Three Manchester United players & Gareth Bale included in Uefa's Champions League team of the season". Goal.com. ngày 27 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
- ^ "UEFA Europa League tại of the Season". UEFA. ngày 20 tháng 5 năm 2016.
- ^ "Darijo Srna primio odlikovanje od ukrajinskog predsjednika". Metro-portal. ngày 26 tháng 5 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2016.
Liên kết ngoài
- Lỗi Lua trong Mô_đun:External_links tại dòng 369: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).