Bước tới nội dung

Nabil Maâloul

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nabil Maâloul
Tập tin:Nabil Maâloul 2018.jpg
Maâloul năm 2018
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Nabil Maâloul[1]
Ngày sinh 25 tháng 12, 1962 (63 tuổi)
Nơi sinh Tunis, Tunisia[1]
Vị trí Tiền vệ
Thông tin đội
Đội hiện nay
Qadsia (huấn luyện viên)
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1981–1989 Espérance de Tunis
1989–1991 Hannover 96[2] 28 (2)
1991–1994 Espérance de Tunis
1994 Al-Ahli Club
1994–1995 Câu lạc bộ Bizertin
1995–1996 Club Africain
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
1982–1994 Tunisia 74 (11)
Sự nghiệp huấn luyện
Năm Đội
1997–1998 Olympique du Kef
2002–2004 Tunisia (trợ lý)
Tunisia
2004–2005 Club Africain
2005–2006 Club Bizertin
2006–2008 Tunisia (trợ lý)
2010–2012 Espérance de Tunis[3]
2012–2013 Espérance de Tunis
2013 Tunisia
2014 El Jaish
2014–2015 Kuwait
2017–2018 Tunisia
2018–2019 Al-Duhail
2020–2021 Syria
2021–2022 Kuwait SC
2022–2023 Espérance de Tunis
2023–2024 Kuwait SC
2024–2025 USM Alger
2025– Qadsia
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Nabil Maâloul (tiếng Ả Rập: نَبِيْل مَعْلُول; sinh ngày 25 tháng 12 năm 1962) là một huấn luyện viên bóng đá chuyên nghiệp và cựu cầu thủ bóng đá người Tunisia từng thi đấu ở vị trí tiền vệ cho đội tuyển quốc gia Tunisia. Ông hiện là huấn luyện viên trưởng của Qadsia.

Maâloul có 74 lần khoác áo đội tuyển quốc gia và tham dự Thế vận hội Mùa hè 1988 tại Seoul. Ông dành phần lớn sự nghiệp cầu thủ cho câu lạc bộ quê nhà Espérance de Tunis và cùng đội giành cú ăn ba lịch sử trên cương vị huấn luyện viên vào năm 2011, gồm chức vô địch quốc gia, cúp quốc gia và CAF Champions League.

Trong sự nghiệp huấn luyện, ông từng dẫn dắt ba đội tuyển quốc gia: Tunisia, KuwaitSyria, đồng thời cũng huấn luyện các câu lạc bộ tại TunisiaQatar.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Maâloul bắt đầu chơi bóng khi khoảng 6 hoặc 7 tuổi, noi gương cha mình. Ông khởi đầu sự nghiệp chuyên nghiệp tại Espérance de Tunis khi 18 tuổi và sau đó bỏ dở việc học.

Sau đó, ông khoác áo Club Bizertin trong giai đoạn lượt về mùa giải 1994–95, rồi Club Africain trong giai đoạn 1995-1996. Đây cũng là chặng cuối trong sự nghiệp của ông, do bất đồng với chủ tịch câu lạc bộ Slim Chiboub, người không muốn ký lại hợp đồng với ông sau một thời gian ngắn thi đấu tại Ả Rập Xê Út.

Sự nghiệp quốc tế

Với đội tuyển quốc gia, ông bắt đầu thi đấu vào năm 1985, có 74 lần ra sân trong 10 năm và ghi 11 bàn. Ông tham dự Thế vận hội Mùa hè 1988 tại Seoul. Ông là một trong những đội trưởng trẻ nhất trong lịch sử đội tuyển quốc gia, khi mới 23 tuổi.

Sự nghiệp huấn luyện

Sau khi kết thúc sự nghiệp cầu thủ, Maâloul trở thành huấn luyện viên của Olympique du Kef vào năm 1997. Năm 2002, ông trở thành trợ lý huấn luyện viên của Roger Lemerre khi Tunisia giành chức vô địch Cúp bóng đá châu Phi. Ông quyết định rời vị trí trợ lý để dẫn dắt Club Africain và đến tháng 9 năm 2006 thì trở lại ban huấn luyện đội tuyển. Trong thời gian đó, ông có một giai đoạn ngắn làm huấn luyện viên Club Bizertin vào đầu mùa giải 2005–06 nhưng kết quả không thuyết phục.

Bước ngoặt thực sự đến vào tháng 12 năm 2010, khi ông tiếp quản Espérance de Tunis sau khi Maher Kanzari bị sa thải. Ông cùng đội giành cú ăn ba lịch sử vào năm 2011, gồm chức vô địch quốc gia, cúp quốc gia và CAF Champions League, trước khi được thay thế bởi Michel Decastel vào tháng 1 năm 2012; vài tháng sau, ông trở lại thay chính Decastel. Ngày 14 tháng 2 năm 2013, ông chính thức trở thành huấn luyện viên trưởng của Tunisia. Ngày 23 tháng 3, ông dẫn dắt trận đầu tiên gặp Sierra Leone và Tunisia thắng 2–1. Ngày 7 tháng 9, sau thất bại 0–2 trên sân nhà trước Cabo Verde, kết quả khiến Tunisia bị loại khỏi vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014, Maâloul tuyên bố từ chức. Cabo Verde sau đó bị loại khỏi vòng loại vì tranh cãi liên quan đến tư cách thi đấu của cầu thủ.

Ngày 29 tháng 11 năm 2013, ông đạt thỏa thuận với Raja CA để trở thành huấn luyện viên của đội tại Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ, thay Mohamed Fakhir, nhưng sau đó từ chối.

Ngày 20 tháng 1 năm 2014, ông trở thành huấn luyện viên của đội bóng Qatar El Jaish SC và giành Cúp Thái tử Qatar 2014 vào ngày 26 tháng 4 năm 2014. Ông cũng đưa đội từ vị trí thứ năm lên vị trí thứ hai chỉ trong nửa mùa giải, qua đó giành quyền tham dự AFC Champions League.

Ngày 20 tháng 12 năm 2014, ông trở thành huấn luyện viên của Kuwait và dẫn dắt đội tại Cúp bóng đá châu Á cũng như vòng Hai vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, trước khi FIFA đình chỉ Liên đoàn bóng đá Kuwait vào ngày 16 tháng 10 năm 2015.

Ngày 27 tháng 4 năm 2017, Maâloul trở lại làm huấn luyện viên của Tunisia và thành công trong việc đưa đội trở lại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 lần đầu tiên kể từ năm 2006, đồng thời trở thành huấn luyện viên Tunisia thứ hai đưa đội tuyển dự World Cup sau Abdelmajid Chetali vào năm 1978. Sau khi đội bị loại ở vòng bảng, ông từ chức để dẫn dắt Al-Duhail SC.[4] Ông chia tay đội sau sáu tháng huấn luyện do nhiều bất đồng với câu lạc bộ.[5]

Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Maâloul chính thức được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới của Syria theo hợp đồng một năm, trở thành người Tunisia đầu tiên dẫn dắt Syria.[6] Dù đưa đội vào vòng Ba vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới, Maâloul từ chức vào ngày 16 tháng 6 năm 2021 do bị nợ lương, sau thất bại 3–1 trước Trung Quốc.[7]

Ngày 27 tháng 10 năm 2021, Maâloul trở thành huấn luyện viên của Kuwait SC.[8] Ông giành Cúp Emir vào ngày 21 tháng 12 năm 2021 và Giải bóng đá Ngoại hạng Kuwait vào tháng 4 năm 2022.

Ngày 9 tháng 6 năm 2022, Maâloul trở lại Espérance de Tunis gần 10 năm sau khi rời câu lạc bộ. Ông chia tay đội vào ngày 13 tháng 5 năm 2023.

Ngày 7 tháng 12 năm 2023, ông trở lại Kuwait SC trên cương vị huấn luyện viên trưởng.[9] Trong nhiệm kỳ thứ hai, ông giành Siêu cúp và một lần nữa vô địch quốc gia. Câu lạc bộ chấm dứt hợp đồng với ông vào ngày 9 tháng 7 năm 2024.[10]

Thống kê sự nghiệp

Managerial

Tính đến 10 tháng 2 năm 2026
Đội bóng Từ Đến Thành tích
St T H B % Thắng Ref
Tunisia Câu lạc bộ Bizertin 1 tháng 7 năm 2005 25 tháng 9 năm 2005 &00000000000000080000008 &00000000000000000000000 &00000000000000050000005 &00000000000000030000003 00&00000000000000000000000,00
Tunisia Espérance de Tunis 27 tháng 12 năm 2010 31 tháng 12 năm 2011 &000000000000003500000035 &000000000000002200000022 &00000000000000080000008 &00000000000000050000005 0&000000000000006285999962,86 [11]
Tunisia Espérance de Tunis 1 tháng 6 năm 2012 26 tháng 1 năm 2013 &000000000000002700000027 &000000000000001900000019 &00000000000000030000003 &00000000000000050000005 0&000000000000007037000070,37 [12]
 Tunisia 14 tháng 2 năm 2013 8 tháng 9 năm 2013 &00000000000000070000007 &00000000000000020000002 &00000000000000030000003 &00000000000000020000002 0&000000000000002857000028,57 [13]
Qatar El Jaish 22 tháng 1 năm 2014 7 tháng 12 năm 2014 &000000000000003500000035 &000000000000002000000020 &00000000000000070000007 &00000000000000080000008 0&000000000000005714000057,14 [14]
 Kuwait 20 tháng 12 năm 2014 20 tháng 3 năm 2017 &000000000000001100000011 &00000000000000030000003 &00000000000000020000002 &00000000000000060000006 0&000000000000002726999927,27 [15]
 Tunisia 28 tháng 4 năm 2017 12 tháng 7 năm 2018 &000000000000001300000013 &00000000000000060000006 &00000000000000040000004 &00000000000000030000003 0&000000000000004614999946,15 [16][17]
Al-Duhail 13 tháng 7 năm 2018 5 tháng 1 năm 2019 &000000000000002200000022 &000000000000001400000014 &00000000000000060000006 &00000000000000020000002 0&000000000000006364000063,64 [18]
Tập tin:Flag of the United Arab Republic (1958–1971), Flag of Syria (1980–2024).svg Syria 1 tháng 3 năm 2020 16 tháng 6 năm 2021 &00000000000000070000007 &00000000000000030000003 &00000000000000000000000 &00000000000000040000004 0&000000000000004285999942,86 [19]
Kuwait Kuwait SC 4 tháng 11 năm 2021 31 tháng 5 năm 2022 &000000000000003000000030 &000000000000001800000018 &00000000000000090000009 &00000000000000030000003 0&000000000000006000000060,00 [20]
Tunisia Espérance de Tunis 9 tháng 6 năm 2022 13 tháng 5 năm 2023 &000000000000003800000038 &000000000000002200000022 &00000000000000090000009 &00000000000000070000007 0&000000000000005789000057,89 [21]
Kuwait Kuwait SC 6 tháng 12 năm 2023 8 tháng 7 năm 2024 &000000000000002400000024 &000000000000001800000018 &00000000000000060000006 &00000000000000000000000 0&000000000000007500000075,00 [22]
Algérie USM Alger 14 tháng 7 năm 2024 10 tháng 2 năm 2025 &000000000000002500000025 &000000000000001300000013 &00000000000000090000009 &00000000000000030000003 0&000000000000005200000052,00 [23]
Kuwait Qadsia SC 11 tháng 6 năm 2025 present &000000000000002200000022 &000000000000001000000010 &00000000000000060000006 &00000000000000060000006 0&000000000000004545000045,45 [24]
Tổng cộng &0000000000000287000000287 &0000000000000162000000162 &000000000000006700000067 &000000000000005800000058 0&000000000000005645000056,45

Danh hiệu

Cầu thủ

Espérance de Tunis

Club Africain

Huấn luyện viên

Espérance de Tunis

El Jaish

Kuwait SC

Qadsia SC

  • Siêu cúp bóng đá Kuwait: 2026

Tham khảo

  1. ^ a b "Nabil Maâloul". Global Sports Archive. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2021.
  2. ^ "Maaloul, Nabil" (bằng tiếng Đức). Kicker. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2012.
  3. ^ "ES Tunis: Nabil Maâloul nouvel entraîneur" (bằng tiếng Pháp). emarrakech.info. ngày 28 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2012.
  4. ^ "Tunisia coach Nabil Maaloul quits to join Qatari club". BBC Sport. ngày 13 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2018.
  5. ^ Plus, Doha Stadium (ngày 6 tháng 1 năm 2019). "Al Duhail SC part ways with coach Nabil Maaloul". Doha Stadium Plus.
  6. ^ "OFFICIAL: Nabil Maaloul appointed Syria national team head coach". www.kingfut.com. ngày 11 tháng 3 năm 2020.
  7. ^ "Nabil Maaloul submits his resignation as coach of the Syrian national team". middleeast.in-24.com. ngày 16 tháng 6 năm 2021.
  8. ^ "Koweit sporting club (Tunisie) : Nabil Maaloul remplace Fathi Jebal à la tête du staff technique". africa sport. ngày 29 tháng 10 năm 2021.
  9. ^ "Foot – Koweit : Nabil Maaloul s'engage avec Al Koweit SC". african manager. ngày 7 tháng 12 năm 2023.
  10. ^ "Nabil Maaloul remplacé par Nebojša au Koweït SC". horizons. ngày 9 tháng 7 năm 2024.
  11. ^ "ES Tunis matches (1)". Soccer Way. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2012.
  12. ^ "ES Tunis matches (2)". Soccer Way. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2013.
  13. ^ "Tunisia matches". Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2013.
  14. ^ "El Jaish SC matches". Soccer Way. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014.
  15. ^ "Kuwait matches". Soccer Way. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015.
  16. ^ "Tunisia matches". Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2017.
  17. ^ "Tunisia". Soccer Way. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2017.
  18. ^ "Al Duhail matches". Soccer Way. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2019.
  19. ^ "Syria matches". Soccer Way. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2024.
  20. ^ "Kuwait SC matches". Soccer Way. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2024.
  21. ^ "ES Tunis matches (3)". Soccer Way. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2024.
  22. ^ "Kuwait SC matches". Soccer Way. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2024.
  23. ^ "USM Alger matches". Soccer Way. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2024.
  24. ^ "Qadsia SC matches". Soccer Way. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2026.

Liên kết ngoài