Blerim Džemaili
|
Tập tin:Blerim Dzemaili 2018.jpg Džemaili với Thụy Sĩ tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 | |||
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Blerim Džemaili[1] | ||
| Ngày sinh | 12 tháng 4, 1986 [1] | ||
| Nơi sinh |
Tetovo, SR Macedonia, Nam Tư (now North Macedonia) | ||
| Chiều cao | 1,80 m[1] | ||
| Vị trí | Tiền vệ | ||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||
| Năm | Đội | ||
| 1995–1996 | Oerlikon Zürich | ||
| 1996–2000 | FC Unterstrass | ||
| 2000–2001 | YF Juventus | ||
| 2001–2003 | Zürich | ||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2003–2007 | Zürich | 111 | (9) |
| 2007–2009 | Bolton Wanderers | 0 | (0) |
| 2008–2009 | → Torino (mượn) | 23 | (0) |
| 2009–2010 | Torino | 7 | (0) |
| 2009–2010 | → Parma (mượn) | 19 | (1) |
| 2010–2011 | Parma | 30 | (1) |
| 2011–2014 | Napoli | 86 | (16) |
| 2014–2016 | Galatasaray | 11 | (0) |
| 2015–2016 | → Genoa (mượn) | 27 | (3) |
| 2016–2020 | Bologna | 88 | (11) |
| 2017 | → Montreal Impact (mượn) | 22 | (7) |
| 2020 | Shenzhen FC | 0 | (0) |
| 2020–2023 | Zürich | 59 | (6) |
| Tổng cộng | 483 | (54) | |
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia | |||
| Năm | Đội | ST | (BT) |
| 2004–2008 | U-21 Thụy Sĩ | 16 | (4) |
| 2006–2018 | Thụy Sĩ | 69 | (10) |
| *Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia | |||
Blerim Džemaili (tiếng Albania: Blerim Xhemaili, phát âm [blɛˈɾim dʒɛˈmaili]; tiếng Macedonia: Блерим Џемаили; sinh ngày 12 tháng 4 năm 1986) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp thi đấu ở vị trí tiền vệ.
Ông bắt đầu sự nghiệp tại FC Zürich, nơi ông hai lần vô địch Swiss Super League. Sau đó, ông dành phần lớn sự nghiệp tại Ý, có 280 lần ra sân ở Serie A cho Torino, Parma, Napoli, Genoa và Bologna.
Sinh ra tại Nam Tư, Džemaili ra mắt đội tuyển quốc gia Thụy Sĩ vào tháng 3 năm 2006 và có hơn 65 lần ra sân. Ông được chọn vào đội hình tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới các năm 2006, 2014 và 2018, cũng như Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016.[2]
Thời thơ ấu và sự nghiệp ban đầu
Džemaili sinh ra trong gia đình Fahrudin và Shemije Džemaili,[3] một gia đình người Albania[4] đến từ Bogovinje, thuộc Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư, nay là Bắc Macedonia. Năm bốn tuổi, ông cùng gia đình di cư đến Zürich, Thụy Sĩ.[4] Năm chín tuổi, ông gia nhập đội trẻ Oerlikon Zürich trong một năm trước khi chuyển sang FC Unterstrass. Năm 14 tuổi, Blerim chuyển đến đội hạng ba YF Juventus với tư cách cầu thủ trẻ trước khi gia nhập FC Zürich vào năm 2001. Trong thời gian ở Zürich, Džemaili thăng tiến qua các cấp độ và lên đội một khi 17 tuổi.
Năm 2021, ông tiết lộ rằng mình là cổ động viên của AC Milan từ khi còn nhỏ.[5] Tuy nhiên, dù có cơ hội chuyển đến Milan vào năm 2007, ông chọn Bolton làm câu lạc bộ nước ngoài đầu tiên vì mong muốn thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh.[6]
Sự nghiệp câu lạc bộ
Zürich
Džemaili bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp tại Zürich. Trong mùa giải đầu tiên, ông có 30 lần ra sân cho câu lạc bộ, ghi hai bàn và có ba pha kiến tạo. Džemaili thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm hoặc tiền vệ phòng ngự. Ở mùa giải 2004–05, ông giúp câu lạc bộ vô địch Cúp bóng đá Thụy Sĩ. Džemaili tạo ảnh hưởng lớn trên sân nhờ khả năng chuyền bóng chính xác cũng như lối chơi nhanh và quyết liệt.[7] Điều này giúp Džemaili được trao vai trò đội trưởng trong mùa giải 2005–06. Džemaili mới 19 tuổi khi được chọn làm đội trưởng và là một trong những đội trưởng trẻ nhất trong lịch sử bóng đá Thụy Sĩ. Džemaili dẫn dắt đội bóng đến thành công khi Zürich vô địch Swiss Super League trong các mùa giải 2005–06 và 2006–07.
Sau khi vô địch cúp quốc gia và giải vô địch Thụy Sĩ, Džemaili chuyển đến câu lạc bộ Giải bóng đá Ngoại hạng Anh Bolton Wanderers.
Bolton Wanderers
Džemaili ký thỏa thuận hợp đồng sơ bộ với Bolton vào ngày 9 tháng 2 năm 2007, theo đó ông sẽ gia nhập đội bóng Giải bóng đá Ngoại hạng Anh khi hợp đồng của ông hết hạn vào mùa hè năm 2007.[8]
Cựu huấn luyện viên Bolton Sam Allardyce được trích lời nói: "Blerim là một cầu thủ tuyệt vời, người đã thi đấu cho đội bóng hay nhất Thụy Sĩ trong ba năm qua. Với một cầu thủ trẻ như vậy, cậu ấy có nhiều kinh nghiệm. Ở tuổi 20, cậu ấy là đội trưởng của FC Zürich và được kỳ vọng sẽ trở thành tuyển thủ thường xuyên của Thụy Sĩ trong những năm tới. Cậu ấy hầu như không bỏ lỡ trận nào cho FC Zurich kể từ khi bắt đầu thi đấu cho đội ở tuổi 17. Tôi rất hào hứng trước triển vọng được làm việc với Blerim ở mùa giải tới."[9] Tuy nhiên, Džemaili bị đứt dây chằng chéo đầu gối và phải nghỉ thi đấu sáu tháng.[10] Ông có trận ra mắt khi vào sân từ ghế dự bị trong trận thua của câu lạc bộ trước Sheffield United tại Cúp FA, cũng là lần ra sân duy nhất của ông trong chiến dịch 2007–08. Sau đó, ông khẳng định sẽ không thay đổi bất cứ điều gì về quãng thời gian ở Bolton sau khi chuyển đến Torino theo dạng cho mượn trong một mùa giải.[11]
Torino và Parma
Džemaili gia nhập Torino theo hợp đồng cho mượn kéo dài một mùa giải, kèm tùy chọn mua đứt, vào ngày 1 tháng 9 năm 2008,[12] có trận ra mắt Torino vào ngày 24 tháng 9 năm 2008 và trở thành nhân tố thường xuyên trong đội hình trong mùa giải đó. Tháng 4 năm 2009, Torino mua đứt ông từ Bolton với giá 2 triệu euro.[13][14] Torino công bố thương vụ này sau khi đội xuống hạng Serie B vào tháng 6.[15][16]
Sau khi chỉ thi đấu một trận cho Torino tại Coppa Italia,[17] Džemaili hoàn tất việc chuyển đến Parma theo dạng cho mượn vào ngày 31 tháng 8 năm 2009, kèm tùy chọn mua 50% quyền đăng ký cầu thủ vào cuối mùa giải. Đổi lại, Daniele Vantaggiato chuyển đến Turin theo dạng cho mượn.[18] Hai phần quyền đăng ký của Džemaili sau đó lần lượt được Parma mua lại vào các mùa hè năm 2010 và 2011[19] với tổng phí 7 triệu euro.[20]
Napoli
Ngày 25 tháng 6 năm 2011, Džemaili được Napoli ký hợp đồng với giá 9 triệu euro,[20] trong khi Fabiano Santacroce theo dạng cho mượn và Manuele Blasi theo dạng tự do[20] chuyển theo chiều ngược lại đến Parma. Džemaili là một cầu thủ có phong độ ổn định cho Napoli. Ông được cổ động viên đón nhận tích cực khi ghi hai bàn và kiến tạo một lần trong 11 lần ra sân ở Serie A.[21] Bàn đầu tiên của ông là cú sút chân phải từ ngoài vòng cấm vào góc dưới bên trái sau một quả phạt góc trong trận gặp Lecce,[22] còn bàn thứ hai được ghi ở những phút cuối, giúp Napoli giành một điểm trên sân Novara.[23] Džemaili cũng có sáu lần ra sân tại vòng bảng UEFA Champions League và giúp Napoli vào vòng 16 đội.[21]
Džemaili thường xuyên góp mặt cho đội bóng tại Coppa Italia và thi đấu trọn vẹn trận chung kết, nơi Napoli đánh bại Juventus 2–0.[24]
Ngày 30 tháng 3 năm 2013, ông ghi một hat-trick được Goal.com mô tả là "ngoạn mục" trong chiến thắng 5–3 trên sân khách trước Torino.[25] Ông ghi bàn thứ hai trong chiến thắng 2–0 trước Genoa chỉ một tuần sau đó, nâng thành tích lên bốn bàn trong hai trận. Ông cũng ghi bàn thắng thứ ba cho Napoli trong chiến thắng 3–0 trước Pescara vào ngày 27 tháng 4.[21]
Džemaili là cầu thủ dự bị không được sử dụng khi Napoli thắng Chung kết Coppa Italia 2014 với tỉ số 3–1 trước Fiorentina.[26]
Galatasaray
Ngày 1 tháng 9 năm 2014, Džemaili ký hợp đồng ba năm với đội bóng Süper Lig của Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray với phí chuyển nhượng 2,35 triệu euro.[27] Ông ký hợp đồng ba năm, lần lượt có giá trị 2,4 triệu euro, 2,1 triệu euro và 2,1 triệu euro.[27]
Ngày 30 tháng 8 năm 2015, Džemaili trở lại Serie A để gia nhập Genoa theo dạng cho mượn từ Galatasaray. Galatasaray cũng chi trả 1,3 triệu euro trong tổng mức lương 2,1 triệu euro của Džemaili.[28] Ngày 27 tháng 9, Džemaili ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ bằng một quả đá phạt trực tiếp chạm Giacomo Bonaventura đổi hướng. Đây là bàn thắng duy nhất trong chiến thắng 1–0 trước Milan. Ngày 18 tháng 10, Džemaili nhận thẻ đỏ đầu tiên cho câu lạc bộ, sau khi nhận hai thẻ vàng ở phút 47 và 55 trong chiến thắng 3–2 trước Chievo.
Bologna
Ngày 17 tháng 8 năm 2016, Džemaili một lần nữa trở lại Ý để gia nhập Bologna,[29] đội bóng đã trả cho Galatasaray mức phí chuyển nhượng 1,3 triệu euro.[30] Ông nhận thẻ vàng ở vòng đấu thứ 33 vào ngày 22 tháng 4, qua đó vắng mặt trong trận đấu ngày 30 tháng 4 khi câu lạc bộ đã chắc chắn trụ hạng về mặt toán học nhờ hơn Crotone 13 điểm trong bối cảnh mùa giải còn bốn trận. Džemaili sau đó gia nhập câu lạc bộ mới Montreal Impact trước khi mùa giải Serie A kết thúc, sau khi Bologna đã bảo đảm suất thi đấu mùa sau, khiến trận thua 2–3 trước Atalanta trở thành trận cuối cùng của ông.
Montreal Impact (mượn)
Ngày 9 tháng 12 năm 2016, chủ tịch Montreal Impact kiêm chủ tịch Bologna Joey Saputo thông báo rằng Džemaili sẽ gia nhập đội bóng Major League Soccer (MLS) theo dạng cho mượn vào mùa xuân năm 2017 với tư cách Cầu thủ Chỉ định.[31] Ngày 9 tháng 5 năm 2017, thương vụ cho mượn được chính thức công bố.[32][33] Ngày 19 tháng 1 năm 2018, Impact chấm dứt hợp đồng cho mượn và Džemaili trở lại Bologna. Ông ghi bảy bàn và có 10 pha kiến tạo trong 22 trận cho Montreal.[34]
Shenzhen FC
Ngày 31 tháng 1 năm 2020, ông chuyển đến câu lạc bộ Trung Quốc Shenzhen FC.[35]
Zürich
Tháng 12 năm 2020, Džemaili trở lại câu lạc bộ thời trẻ Zürich sau 13 năm. Ông ký hợp đồng có thời hạn một mùa rưỡi.[36]
Sau khi mùa giải 2022–23 kết thúc, Džemaili quyết định giải nghệ bóng đá chuyên nghiệp.[37]
Sự nghiệp quốc tế
Džemaili có trận ra mắt đội tuyển quốc gia Thụy Sĩ trong trận giao hữu gặp Scotland vào ngày 1 tháng 3 năm 2006.[38] Ông là thành viên của đội hình Thụy Sĩ tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2006 nhưng không ra sân.[38] Ngày 6 tháng 9 năm 2013, Džemaili ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên từ một quả phạt đền trong trận hòa 4–4 trên sân nhà ở vòng loại World Cup gặp Iceland.[39] Ngày 2 tháng 6 năm 2014, Džemaili được huấn luyện viên trưởng Ottmar Hitzfeld điền tên vào đội hình Thụy Sĩ tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2014.[40] Ở trận thứ hai của đội, gặp Pháp, Džemaili vào sân sau giờ nghỉ thay Valon Behrami.[41][42] Ông ghi bàn từ quả đá phạt trực tiếp đầu tiên của giải trong trận thua 2–5 trước Pháp.[43][44] Džemaili ghi bàn thắng quốc tế thứ ba trước San Marino vào ngày 10 tháng 10 năm 2014 tại Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016, khi đánh đầu từ quả phạt góc của Ricardo Rodríguez để giúp Thụy Sĩ dẫn 3–0 trong chiến thắng chung cuộc 4–0. Džemaili ghi hai bàn cho Thụy Sĩ vào ngày 10 tháng 6 năm 2015, trong đó bàn thứ hai đến từ một quả đá phạt trực tiếp trong chiến thắng giao hữu 3–0 trước Liechtenstein tại Stockhorn Arena ở Thun.[45] Džemaili là thành viên đội hình tham dự Euro 2016 và vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018. Ông có tên trong danh sách 23 cầu thủ của đội tuyển quốc gia Thụy Sĩ tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2018.[46]
Phong cách thi đấu
Trong thời gian thi đấu tại Serie A, Džemaili khác biệt với phần lớn các cầu thủ khác ở vị trí tiền vệ tấn công nhờ cách tiếp cận box-to-box và lối chơi giàu thể lực. Dù hiệu quả trong vai trò cầu thủ thu hồi bóng phía trước hàng phòng ngự, người phá vỡ các pha lên bóng của đối thủ, ông cũng có thể đóng góp vào mặt trận tấn công của đội bằng bàn thắng và kiến tạo ở vai trò cao hơn, nhờ nhãn quan và khả năng ghi bàn từ tuyến giữa. Ông cũng có khả năng chọn thời điểm di chuyển, tìm khoảng trống và xâm nhập vòng cấm mà không bị theo kèm bằng những pha băng lên muộn từ phía sau, đồng thời là cầu thủ sút bóng mạnh và chính xác cả trong lẫn ngoài vòng cấm, điều cho phép ông thi đấu như một mezzala; ông cũng là một cầu thủ đá phạt đền hiệu quả. Ngoài ra, Džemaili kiểm soát bóng gọn gàng và sở hữu phạm vi chuyền bóng rộng, thường hoàn thành khoảng 90% số đường chuyền mỗi trận; hơn nữa, ông được biết đến với khả năng chuyển hướng tấn công bằng những đường bóng dài. Là một cầu thủ thuận chân phải đa năng, ổn định, bền bỉ và thông minh về chiến thuật, ông có thể thi đấu ở nhiều vai trò nơi hàng tiền vệ và thích nghi với nhiều hệ thống khác nhau; ngoài các vai trò quen thuộc là tiền vệ tấn công và tiền vệ trụ, ông cũng từng được sử dụng như một tiền vệ trung tâm trong hàng tiền vệ hai hoặc ba người, một nhạc trưởng lùi sâu, hoặc thậm chí là tiền vệ cánh. Bên cạnh khả năng thi đấu, ông cũng được đánh giá cao về tố chất lãnh đạo.[47][48][49][50][51][52][53][54][55][56]
Đời tư
Năm 2015, Džemaili kết hôn với người mẫu Albania sinh tại Shkodër Erjona Sulejmani,[57] người sinh cho ông con trai đầu lòng, Luan, trong cùng năm. Đến tháng 1 năm 2018, họ đã ly hôn.[58]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp | Châu Âu | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Zürich | 2003–04 | Swiss Super League | 30 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | – | 30 | 2 | |
| 2004–05 | Swiss Super League | 26 | 1 | 1 | 0 | 0 | 0 | – | 27 | 1 | ||
| 2005–06 | Swiss Super League | 32 | 3 | 5 | 3 | 4 | 1 | – | 41 | 7 | ||
| 2006–07 | Swiss Super League | 23 | 3 | 1 | 0 | 2 | 0 | – | 26 | 3 | ||
| Tổng cộng | 111 | 9 | 7 | 3 | 6 | 1 | 0 | 0 | 124 | 13 | ||
| Bolton Wanderers | 2007–08 | Giải bóng đá Ngoại hạng Anh | 0 | 0 | 1 | 0 | — | – | 1 | 0 | ||
| Torino | 2008–09 | Serie A | 30 | 0 | 2 | 0 | — | – | 32 | 0 | ||
| 2009–10 | Serie A | 0 | 0 | 1 | 0 | — | – | 1 | 0 | |||
| Tổng cộng | 30 | 0 | 3 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 33 | 0 | ||
| Parma | 2009–10 | Serie A | 19 | 1 | 2 | 0 | — | – | 21 | 1 | ||
| 2010–11 | Serie A | 30 | 1 | 1 | 0 | — | – | 31 | 1 | |||
| Tổng cộng | 49 | 2 | 3 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 52 | 2 | ||
| Napoli | 2011–12 | Serie A | 28 | 3 | 5 | 0 | 6 | 0 | – | 39 | 3 | |
| 2012–13 | Serie A | 34 | 7 | 0 | 0 | 7 | 2 | – | 41 | 9 | ||
| 2013–14 | Serie A | 24 | 6 | 1 | 0 | 4 | 0 | – | 29 | 6 | ||
| Tổng cộng | 86 | 16 | 6 | 0 | 17 | 2 | 0 | 0 | 109 | 18 | ||
| Galatasaray | 2014–15 | Süper Lig | 11 | 0 | 5 | 1 | 4 | 0 | – | 20 | 1 | |
| Genoa (mượn) | 2015–16 | Serie A | 27 | 3 | 0 | 0 | 0 | 0 | – | 27 | 3 | |
| Bologna | 2016–17 | Serie A | 31 | 8 | 2 | 1 | 0 | 0 | – | 33 | 9 | |
| 2017–18 | Serie A | 15 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | – | 15 | 1 | ||
| 2018–19 | Serie A | 28 | 1 | 2 | 1 | 0 | 0 | – | 30 | 2 | ||
| 2019–20 | Serie A | 11 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | – | 11 | 1 | ||
| Tổng cộng | 85 | 11 | 4 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | 89 | 13 | ||
| Montreal Impact (mượn) | 2017 | MLS | 22 | 7 | 0 | 0 | 0 | 0 | 3 | 1 | 25 | 8 |
| Tổng cộng sự nghiệp | 421 | 48 | 29 | 6 | 27 | 3 | 3 | 1 | 480 | 58 | ||
Quốc tế
- Tính đến 3 tháng 7 năm 2018[61]
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Thụy Sĩ | 2006 | 5 | 0 |
| 2007 | 2 | 0 | |
| 2008 | 1 | 0 | |
| 2009 | 2 | 0 | |
| 2010 | 0 | 0 | |
| 2011 | 7 | 0 | |
| 2012 | 7 | 0 | |
| 2013 | 7 | 1 | |
| 2014 | 9 | 2 | |
| 2015 | 5 | 2 | |
| 2016 | 10 | 1 | |
| 2017 | 6 | 1 | |
| 2018 | 8 | 3 | |
| Tổng cộng | 69 | 10 | |
- Tính đến 27 tháng 6 năm 2018[62]
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Switzerland trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Džemaili.
| Thứ tự | Ngày | Địa điểm | Lần khoác áo | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 6 tháng 9 năm 2013 | Sân vận động de Suisse, Bern, Thụy Sĩ | 27 | 4–1 | 4–4 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 | |
| 2 | 20 tháng 6 năm 2014 | Itaipava Arena Fonte Nova, Salvador, Brasil | 35 | 1–5 | 2–5 | Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 | |
| 3 | 14 tháng 10 năm 2014 | Sân vận động San Marino, Serravalle, San Marino | 39 | 3–0 | 4–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016 | |
| 4 | 10 tháng 6 năm 2015 | Stockhorn Arena, Thun, Thụy Sĩ | 41 | 1–0 | 3–0 | Giao hữu | |
| 5 | 3–0 | ||||||
| 6 | 28 tháng 5 năm 2016 | Sân vận động Genève, Genève, Thụy Sĩ | 47 | 1–0 | 1–2 | Giao hữu | |
| 7 | 3 tháng 9 năm 2017 | Sân vận động Skonto, Riga, Latvia | 58 | 2–0 | 3–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 | |
| 8 | 23 tháng 3 năm 2018 | Sân vận động Olympic, Athens, Hy Lạp | 62 | 1–0 | 1–0 | Giao hữu | |
| 9 | 27 tháng 3 năm 2018 | Swissporarena, Lucerne, Thụy Sĩ | 63 | 1–0 | 6–0 | Giao hữu | |
| 10 | 27 tháng 6 năm 2018 | Sân vận động Nizhny Novgorod, Nizhny Novgorod, Nga | 68 | 1–0 | 2–2 | Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 |
Danh hiệu
Zürich
Napoli
Galatasaray
Tham khảo
Ghi chú
Trích dẫn
- ^ a b c "FIFA World Cup Russia 2018 List of Players" (PDF). FIFA. tr. 30. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Balkan imports hitting big time as Switzerland establish themselves as World Cup regulars". The National. ngày 15 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2014.
- ^ Džemaili, Blerim. "Blerim Dzemaili". Skyrock. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2011.
- ^ a b "Die Schönen und das Biest" [The Beauty and the Beast]. schweizer-illustrierte (bằng tiếng Đức). ngày 17 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011.
- ^ "Dzemaili: "Quando giocavo non potevo dirlo, spero che il Milan vinca"" [Dzemaili: "When I played, I couldn't say it, but I hope Milan wins."]. milannews24.com (bằng tiếng Ý). ngày 21 tháng 1 năm 2021.
- ^ https://www.milannews.it/news/dzemaili-rivela-quanto-sono-stato-scemo-a-scegliere-il-bolton-invece-che-il-milan-611157
- ^ "Blerim Dzemaili". Goal.com. ngày 26 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011.
- ^ "Bolton swoop for Dzemaili and Cid". BBC Sport. ngày 9 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2009.
- ^ "Bolton swoop for Dzemaili and Cid". FIFA. AFP. ngày 9 tháng 2 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2011.
- ^ "Dzemaili suffers bad blow". SkySports. British Sky Broadcasting. ngày 9 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011.
- ^ "Dzemaili has no regrets". SkySports. British Sky Broadcasting. ngày 9 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011.
- ^ "Genoa: Milito e Jankovic" [Genoa: Milito and Jankovic]. La Gazzetta dello Sport (bằng tiếng Ý). RCS MediaGroup. ngày 1 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2016.
- ^ LTD, Digital Sports Group. "Torino to take up Dzemaili option". Football.co.uk (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2025.
- ^ Torino F.C. S.p.A. bilancio (financial report and accounts) on 31 tháng 12 năm 2009, PDF purchased from Italian C.C.I.A.A. (in Italian)
- ^ "Džemaili quits Bolton for Torino". BBC Sport. The British Broadcasting Corporation. ngày 15 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2009.
- ^ "Džemaili signs for Torino". Sky Sports. ngày 15 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2009.
- ^ "Torino vs Figline 1–0" (bằng tiếng Ý). Torino F.C. ngày 9 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2009.
- ^ Carminati, Nadia (ngày 31 tháng 8 năm 2009). "Parma pounce for Dzemaili". Sky Sports. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
- ^ "Movimenti di mercato e compartecipazioni" [Market movements and co-ownerships]. Parma F.C. official site. ngày 24 tháng 6 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2011.
- ^ a b c Parma F.C. S.p.A. bilancio (financial report and accounts) on 30 tháng 6 năm 2011, PDF purchased from Italian C.C.I.A.A. (in Italian)
- ^ a b c "Blerim Dzemaili Stats". ESPN soccernet. ngày 26 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011.[liên kết hỏng]
- ^ "Cavani at the double". ESPN soccernet. ngày 3 tháng 12 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011.
- ^ "Dzemaili levels late on". ESPN soccernet. ngày 11 tháng 12 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011.
- ^ Graffeo, Vito (ngày 20 tháng 5 năm 2012). "Coppa Italia, finale Juventus-Napoli: tabellino, risultato, video". Sport Live. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2014.
- ^ Caferoglu, Livio (ngày 30 tháng 3 năm 2013). "Serie A Round 30 Results: Lazio prosper on Klose return as Roma & Fiorentina fall flat in top-three race". Goal.com. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2014.
- ^ "Partenopei come out on top in Coppa Italia final". Goal.com. ngày 3 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2014.
- ^ a b "Profesyonel Futbolcu Blerim Dzemaili'nin Transferi Hakkında" [About the transfer of professional footballer Blerim Dzemaili]. Galatasaray (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Turkish Public Disclosure Platform (KAP). ngày 1 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2015.
- ^ Galatasaray (ngày 1 tháng 9 năm 2015). "Blerim Dzemaili – Geçici Transfer" [Blerim Dzemaili – Temporary Transfer] (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Turkish Public Disclosure Platform (KAP). Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2015.
- ^ "Blerim Džemaili signs for Bologna". Bologna F.C. 1909. ngày 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2016.
- ^ "Results or Ending of Transfer Meetings". Galatasaray (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Turkish Public Disclosure Platform (KAP). ngày 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2016.
- ^ Tremblay, Olivier (ngày 9 tháng 12 năm 2016). "Blerim Džemaili to join Impact, Joey Saputo confirms". Montreal Impact. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2016.
- ^ "UFFICIALE Montreal: preso Dzemaili". ngày 9 tháng 5 năm 2017.
- ^ "Impact acquires Swiss international midfielder Blerim Dzemaili". ngày 9 tháng 5 năm 2017.
- ^ "Impact DP Dzemaili seals return to Bologna". ESPN. ngày 29 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2018.
- ^ Bản mẫu:Chú thích press release
- ^ "Blerim Dzemaili kehrt zum FCZ zurück" [Blerim Dzemaili returns to FCZ]. FCZ.ch (bằng tiếng Đức). FC Zürich. ngày 18 tháng 12 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2021.
- ^ "Blerim Dzemaili Ends His Football Career". FCZ.ch. FC Zürich. ngày 17 tháng 5 năm 2023. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2023.
- ^ a b "Blerim DZEMAILI". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2014.
- ^ "Switzerland 4–4 Iceland". The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2014.
- ^ "Switzerland World Cup 2014 tại". The Telegraph. ngày 2 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2014.
- ^ "(Roundup) Costa Rica beat Italy to advance, Anh eliminated". globalpost. ngày 20 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2014.
- ^ Embolo, Breel (ngày 1 tháng 4 năm 2025). "Sodo6789" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Switzerland 2–5 France". BBC. ngày 20 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2014.
- ^ "Blerim Džemaili scores the first direct free kick of the World Cup". SBNation. ngày 20 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2014.
- ^ "Fifa hands computer data to Swiss investigators". thelocal.ch. ngày 10 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2020.
- ^ The Washington Post[liên kết hỏng]
- ^ Jiang, Allan (ngày 2 tháng 7 năm 2014). "Scouting Report: Can Blerim Dzemaili Be Arsenal's Michu?". Bleacher Report. Truy cập 19 tháng 5.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=(trợ giúp) - ^ Rosario Carraffa (ngày 14 tháng 7 năm 2009). "Palermo, Demaili sembra vicino" [Palermo, Demaili seems close] (bằng tiếng Ý). www.tuttopalermo.net. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Dzemaili: "Bologna è una grande piazza, fisicamente sto bene e sono pronto per giocare"" [Dzemaili: "Bologna is a great club, I'm in good physical shape and ready to play"] (bằng tiếng Ý). www.tuttobolognaweb.it. ngày 18 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.
- ^ Flavio Fusi (ngày 31 tháng 1 năm 2018). "Calciomercato, 6 acquisti di cui si è parlato poco" [Transfer market, 6 signings that were talked about little] (bằng tiếng Ý). sport.sky.it. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Dzemaili: "La fascia? Un onore ma abbiamo tanti leader"" [Dzemaili: "The captain's armband? An honor, but we have many leaders"] (bằng tiếng Ý). Bologna FC. ngày 12 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.
- ^ Federico Lanza (ngày 24 tháng 10 năm 2013). "Toro, fai attenzione a Dzemaili" [Toro, be careful of Dzemaili] (bằng tiếng Ý). Toro News. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.
- ^ Italo Battagliese (ngày 20 tháng 6 năm 2011). "Marino: "Demaili ideale per Mazzarri, ha lancio e visione di gioco"" (bằng tiếng Ý). www.tuttonapoli.net. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Blerim Dzemaili" (bằng tiếng Ý). Bologna FC. ngày 18 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Di Francesco ancora in dubbio, Dzemaili nel tridente d'attacco?" [Di Francesco still in doubt, Dzemaili in the attacking trio?] (bằng tiếng Ý). www.tuttobolognaweb.it. ngày 17 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Dzemaili, dubbi sul ruolo: mezz'ala o trequartista?" [Dzemaili, doubts about his role: central midfielder or attacking midfielder?] (bằng tiếng Ý). Tutto Bologna Web. ngày 13 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2020.
- ^ "Erjona Sulejmani: Martesë përrallore me Blerim Xhemailin, ju tregoj si u njohëm" [Erjona Sulejmani: Fairy tale wedding với Blerim Dzemaili, let me tell you how we met]. Panorama. ngày 3 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2017.
- ^ "Dzemaili, Erjona Sulejmani si difende: "Ho lasciato io Blerim, ma non mi ha tolto il cognome"" [Džemaili, Erjona Sulejmani defends herself: "I left Blerim, but he did not take my surname away"] (bằng tiếng Ý). Sky Sport. ngày 2 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2019.
- ^ "Blerim Džemaili » Club matches". worldfootball.net. ngày 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2018.
- ^ "B. Džemaili". Soccerway. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Blerim Džemaili". European Football. ngày 24 tháng 6 năm 2018.
- ^ Blerim Džemaili tại Soccerway
Liên kết ngoài
- Blerim Dzemaili tại SoccerbaseLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).Lỗi Lua trong Mô_đun:WikidataCheck tại dòng 23: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Blerim Džemaili tại Soccerway
- Blerim Džemaili – Thành tích thi đấu FIFA
- FC Zürich stats Lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2012 tại Wayback Machine (bằng tiếng Đức)
- Nguồn CS1 tiếng Đức (de)
- Nguồn CS1 tiếng Ý (it)
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- CS1: URL không phù hợp
- Bài có liên kết hỏng
- Nguồn CS1 tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (tr)
- Lỗi CS1: ngày tháng
- Trang có lỗi kịch bản
- Bài có mô tả ngắn
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Trang sử dụng infobox3cols có các tham số không có tài liệu
- Bài viết có văn bản tiếng Albania
- Trang có IPA tiếng Albania
- Bài viết có văn bản tiếng Macedonia
- Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Đức (de)
- Sinh năm 1986
- Nhân vật còn sống
- Yugoslav emigrants to Thụy Sĩ
- Người Thụy Sĩ gốc Albanian descent
- Nhân vật thể thao gốc Albanian descent
- Người Thụy Sĩ gốc Macedonian descent
- Cầu thủ bóng đá Tetovo
- Cầu thủ bóng đá nam Thụy Sĩ
- Tiền vệ bóng đá nam
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá trẻ nam quốc gia Thụy Sĩ
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá U-21 nam quốc gia Thụy Sĩ
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Thụy Sĩ
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2006
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2014
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
- Cầu thủ bóng đá SC Young Fellows Juventus
- Cầu thủ bóng đá FC Zürich
- Cầu thủ bóng đá Bolton Wanderers F.C.
- Cầu thủ bóng đá Torino FC
- Cầu thủ bóng đá Parma Calcio 1913
- Cầu thủ bóng đá SSC Napoli
- Cầu thủ bóng đá Galatasaray S.K.
- Cầu thủ bóng đá Genoa CFC
- Cầu thủ bóng đá Bologna FC 1909
- Cầu thủ bóng đá CF Montréal
- Cầu thủ bóng đá Shenzhen F.C.
- Cầu thủ bóng đá Swiss Super League
- Cầu thủ bóng đá Serie A
- Cầu thủ bóng đá Süper Lig
- Cầu thủ bóng đá Major League Soccer
- Cầu thủ được chỉ định (MLS)
- Cầu thủ bóng đá China League One
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Ý
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Anh
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Thổ Nhĩ Kỳ
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Canada
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Trung Quốc
- Cầu thủ bóng đá nam Thụy Sĩ ở nước ngoài
- Nhân vật thể thao Thụy Sĩ ở nước ngoài tại Ý
- Nhân vật thể thao Thụy Sĩ ở nước ngoài tại Canada
- Nhân vật thể thao Thụy Sĩ ở nước ngoài tại Anh
- Nhân vật thể thao Thụy Sĩ ở nước ngoài tại Thổ Nhĩ Kỳ
- Nam vận động viên Thụy Sĩ thế kỷ 21