Vòng loại Cúp Vàng CONCACAF
Trang này là bản tóm tắt về vòng loại Cúp Vàng CONCACAF, quá trình mà các đội tuyển bóng đá quốc gia trực thuộc CONCACAF trải qua để giành quyền tham dự Cúp Vàng CONCACAF.
| Thành lập | 1963 |
|---|---|
| Khu vực | Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Caribe (CONCACAF) |
| Số đội | 41 (tổng cộng) |
| Vòng loại cho | Cúp Vàng CONCACAF |
| Giải đấu liên quan | CONCACAF Nations League |
Cúp Vàng CONCACAF là một giải đấu bóng đá quốc tế được tổ chức hai năm một lần giữa các quốc gia ở Bắc Mỹ, bao gồm Trung Mỹ và Caribe. Đã có một số thể thức vòng loại khác nhau nhằm xác định các quốc gia sẽ tham dự vòng chung kết.
Sự phát triển thể thức
Số đội tham dự vòng loại
| 1963 |
1965 |
1967 |
1969 |
1971 |
1973 |
1977 |
1981 |
1985 | 1989 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tổng số đội tham dự[a] | 2 | 8 | 8 | 10 | 12 | 14 | 15 | 15 | 10 | 10 |
| Giành quyền thông qua vòng loại | 1 | 1 | 4 | 5 | 3 | 5 | 5 | 5 | 4 | 5 |
| Giành quyền tự động | 8 | 5 | 2 | 1 | 3 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 |
| Tổng số đội dự vòng chung kết | 9 | 6 | 6 | 6 | 6 | 6 | 6 | 6 | 9 | 5 |
| 1991 |
1993 |
1996 |
1998 |
2000 |
2002 |
2003 |
2005 |
2007 |
2009 |
2011 |
2013 |
2015 |
2017 |
2019 |
2021 |
2023 |
2025 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tổng số đội tham dự[a] | 21 | 27 | 26 | 30 | 33 | 31 | 29 | 38 | 32 | 33 | 37 | 32 | 33 | 31 | 34 | 41 | 41 | 41 |
| Giành quyền thông qua vòng loại | 4 | 5 | 5 | 6 | 6 | 6 | 7 | 7 | 7 | 9 | 9 | 9 | 9 | 9 | 10 | 15 | 15 | 15 |
| Giành quyền tự động | 4 | 3 | 3 | 3 | 2 | 3 | 3 | 3 | 3 | 3 | 3 | 3 | 3 | 3 | 6 | 0 | 0 | 0 |
| Tổng số đội dự vòng chung kết | 8 | 8 | 9 | 10 | 12 | 12 | 12 | 12 | 12 | 12 | 12 | 12 | 12 | 12 | 16 | 16 | 16 | 16 |
Tóm tắt
Từ năm 1963 đến năm 1989, các vòng loại khu vực được tổ chức cho từng liên đoàn khu vực.
Từ năm 1991 đến năm 2017, các quy trình vòng loại tương tự được sử dụng. Suất tham dự Cúp Vàng được phân bổ cho từng liên đoàn khu vực: Liên đoàn bóng đá Bắc Mỹ (NAFU), Liên đoàn bóng đá Caribe (CFU) và Liên đoàn bóng đá Trung Mỹ (UNCAF). Thông thường, NAFU nhận ba suất tham dự giải đấu, còn các suất còn lại được chia cho CFU và UNCAF. Vì NAFU chỉ có ba thành viên, mỗi quốc gia (Canada, México, Hoa Kỳ) sẽ giành quyền tham dự tự động. CFU và UNCAF sử dụng kết quả của Cúp bóng đá Caribe và Copa Centroamericana để xác định các đội tham dự Cúp Vàng.
Từ năm 1996 đến năm 2005, một số quốc gia ngoài khu vực CONCACAF nhận lời mời tham dự Cúp Vàng và không cần phải vượt qua vòng loại. Từ năm 1998 đến năm 2003 và một lần nữa từ năm 2015 đến năm 2017, các giải đấu vòng loại riêng được tổ chức để xác định một hoặc hai suất cuối cùng tham dự Cúp Vàng.[1]
Đối với Cúp Vàng CONCACAF 1998, hai suất được phân bổ cho Liên đoàn bóng đá Caribe sẽ được trao cho các đội vô địch năm 1996 và 1997. Vì Trinidad và Tobago vô địch cả hai giải đấu, một trận play-off giữa hai đội á quân đã được tổ chức.
Đối với Cúp Vàng CONCACAF 2000, Canada không giành quyền tham dự tự động và thi đấu trong một vòng play-off vòng tròn cùng với hai quốc gia Caribe và một quốc gia Trung Mỹ. Hai đội đứng đầu sẽ giành quyền tham dự Cúp Vàng.
Suất cuối cùng tại Cúp Vàng CONCACAF 2002 được xác định bằng một trận play-off hai lượt giữa đội xếp thứ tư tại Cúp bóng đá Caribe 2001 và đội xếp thứ tư tại Cúp bóng đá Trung Mỹ 2001. Thể thức này được tái sử dụng vào năm 2015 và 2017.
Không có Cúp bóng đá Caribe nào được tổ chức trước Cúp Vàng CONCACAF 2003 để xác định các đại diện của CFU. Thay vào đó, một giải vòng loại CFU riêng được tổ chức để xác định hai đội tham dự Cúp Vàng và hai đội tham dự play-off. Hai đội Caribe cùng với đội xếp thứ tư tại Cúp bóng đá Trung Mỹ 2003 tham dự vòng play-off vòng tròn để tranh hai suất tại Cúp Vàng.
Từ năm 2007 đến năm 2017, không có quốc gia nào ngoài khu vực CONCACAF tham dự Cúp Vàng. Giải đấu 12 đội bao gồm ba đội Bắc Mỹ, năm đội Trung Mỹ và bốn đội Caribe. Đối với các giải đấu năm 2015 và 2017, suất thứ năm của Trung Mỹ được trao cho đội thắng trong trận play-off hai lượt giữa các đội xếp thứ 5 tại Copa Centroamericana và Cúp bóng đá Caribe.[2][3] Đội Trung Mỹ giành chiến thắng trong trận play-off ở cả hai lần.
Bắt đầu từ Cúp Vàng CONCACAF 2019, vòng loại được liên kết với CONCACAF Nations League. Được tổ chức trong giai đoạn 2018–19, giải vòng loại CONCACAF Nations League một lần duy nhất xác định 10 trong số 16 đội tham dự Cúp Vàng. Đối với Cúp Vàng CONCACAF 2021, 12 suất được trao dựa trên kết quả của CONCACAF Nations League 2019–20, một lời mời được trao cho Qatar, và ba suất cuối cùng được xác định từ vòng loại play-off gồm hai vòng.[4] Ở vòng loại cuối cùng năm 2023, 12 đội cạnh tranh 3 suất, trong khi năm 2025, 14 đội cạnh tranh 7 suất.
Các đội tham dự
Tất cả các đội tuyển quốc gia là thành viên của CONCACAF đều đủ điều kiện tham dự vòng loại Cúp Vàng. Tổng cộng 41 thực thể riêng biệt đã từng nỗ lực giành quyền tham dự Cúp Vàng. Do những thay đổi chính trị, một thực thể đã xuất hiện dưới một hình thức kế thừa (xem các chú thích ở bảng bên dưới), còn đội Antille thuộc Hà Lan hiện đã không còn tồn tại.
| Năm | Các đội ra mắt | Đội kế thừa | Đội đổi tên | ||
|---|---|---|---|---|---|
| Đội | Số | TC | |||
| 1963 | El Salvador[a], Haiti, Antille thuộc Hà Lan[A] | 3 | 3 | ||
| 1965 | Guatemala[b], Honduras, Nicaragua | 3 | 6 | ||
| 1967 | Cuba, Jamaica, Panamá, Trinidad và Tobago | 4 | 10 | ||
| 1969 | Bermuda, Costa Rica, México, Hoa Kỳ | 4 | 14 | ||
| 1971 | Guyana, Suriname | 2 | 16 | ||
| 1973 | Antigua và Barbuda, Canada, Puerto Rico | 3 | 19 | ||
| 1977 | Barbados, Cộng hòa Dominica | 2 | 21 | ||
| 1981 | Grenada | 1 | 22 | ||
| 1985 | 0 | 22 | |||
| 1989 | 0 | 22 | |||
| 1991 | Anguilla, Quần đảo Virgin thuộc Anh, Quần đảo Cayman, Guyane thuộc Pháp, Guadeloupe, Martinique, Montserrat, Saint Kitts và Nevis, Saint Lucia | 9 | 31 | ||
| 1993 | Dominica, Saint Vincent và Grenadines, Sint Maarten[c] | 3 | 34 | ||
| 1996 | Aruba, Belize | 2 | 36 | ||
| 1998 | 0 | 36 | |||
| 2000 | Bahamas, Quần đảo Turks và Caicos, Quần đảo Virgin thuộc Mỹ | 3 | 39 | ||
| 2002 | Saint-Martin | 1 | 40 | ||
| 2003 | 0 | 40 | |||
| 2005 | 0 | 40 | |||
| 2007 | 0 | 40 | |||
| 2009 | 0 | 40 | |||
| 2011 | 0 | 40 | |||
| 2013 | 0 | 40 | Curaçao[A] | ||
| 2015 | Bonaire[c] | 1 | 41 | ||
| 2017 | 0 | 41 | |||
| 2019 | 0 | 41 | |||
| 2021 | 0 | 41 | |||
| 2023 | 0 | 41 | |||
| 2025 | 0 | 41 | |||
- Các đội kế thừa thành tích của các đội trước đây (theo cách CONCACAF và FIFA xem xét)
- Các đội từng thi đấu với tư cách là một phần của đội khác
Xem thêm
Tham khảo
- ^ "CONCACAF Gold Cup: Qualifying Play-In Glance". CONCACAF.com. ngày 3 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2017.
- ^ CONCACAF Free Kick. CONCACAF.com. tháng 6–tháng 7 năm 2014. tr. 7.
{{Chú thích sách}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp) - ^ Williams, Sean (ngày 18 tháng 3 năm 2014). "Jamaica to host 2014 Caribbean Cup". Jamaica Observer. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2014.
- ^ "Concacaf Nations League to Serve as Pathway for 2021 Gold Cup". CONCACAF. ngày 3 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2019.