Đội tuyển bóng đá quốc gia Montserrat
Đội tuyển bóng đá quốc gia Montserrat đại diện cho Montserrat trong các giải đấu bóng đá quốc tế. Bóng đá là môn thể thao phổ biến thứ hai ở Montserrat, chỉ sau cricket. Đội bóng do Hiệp hội Bóng đá Montserrat quản lý và thi đấu trên sân Blakes Estate. Đội tuyển Montserrat được thành lập năm 1973 và bắt đầu tham dự vòng loại World Cup từ kỳ 2002, nhưng đều bị loại ngay từ vòng đầu.
Do hoạt động núi lửa diễn ra liên tục từ năm 1995 đến 2010, đội chỉ thi đấu rất ít trận, chủ yếu là trên sân khách. Những chiến thắng duy nhất trước năm 2018 là trước Anguilla tại vòng loại Cúp Caribe 1995, với tỷ số 3–2 trên sân nhà và 1–0 sân khách. Ngoài một trận hòa với Anguilla, tất cả các trận còn lại trước năm 2018 đều là thất bại. Tuy nhiên, từ sau năm 2018, Montserrat đã trở nên cạnh tranh hơn.
Ngày 30 tháng 6 năm 2002, trong ngày diễn ra trận chung kết World Cup 2002, Montserrat – khi đó là đội xếp hạng thấp nhất thế giới – đã gặp Bhutan, đội xếp áp chót, trong một trận giao hữu được gọi là “The Other Final”, và thua 0–4 trước 15.000 khán giả tại Bhutan.
Lịch sử
Đội tuyển Montserrat là một trong những đội tuyển mới nhất của bóng đá quốc tế, thi đấu trận chính thức đầu tiên vào ngày 10 tháng 5 năm 1991 tại Cúp Caribe, thua Saint Lucia 0–3. Trận kế tiếp hòa 1–1 với Anguilla. Trong các kỳ tiếp theo, họ thường xuyên bị loại sớm, thậm chí có trận thua nặng trước Saint Kitts & Nevis và Antigua & Barbuda. Năm 1994, Hiệp hội Bóng đá Montserrat (MFA) được thành lập và trở thành thành viên của CONCACAF. Năm 1995, Montserrat có trận đấu quốc tế trên sân nhà đầu tiên và đánh bại Anguilla 3–2, giành chiến thắng lịch sử. Họ tiếp tục thắng 1–0 ở lượt về để vào vòng 2 Cúp Caribe 1995, đây cũng là trận giữ sạch lưới duy nhất cho đến nay. Tuy nhiên, ngay sau đó đội thua 0–20 trước Saint Vincent và Grenadines.
Thảm họa núi lửa Soufrière Hills nổ ra đã phá hủy thủ phủ Plymouth, khiến bóng đá trên đảo đình trệ.[1] Năm 1996, MFA gia nhập FIFA nhưng phải 3 năm sau mới có thể thi đấu trở lại do nhiều cầu thủ phải di cư sang Anh.[1] Đến năm 1999, đội tham dự Cúp các Quốc gia Caribe nhưng bị loại sớm sau trận thua 1–6 trước Quần đảo Virgin thuộc Anh. Năm 2002, Montserrat dự vòng loại World Cup lần đầu, nhưng thua đậm Cộng hòa Dominica. Cũng trong năm đó, sân Blakes Estate được khánh thành. Đặc biệt, vào ngày 30 tháng 6 năm 2002, Montserrat đá giao hữu trận “The Other Final” với Bhutan và thua 0–4.
Sau đó, đội tiếp tục chuỗi thất bại nặng nề ở vòng loại World Cup 2006 (thua Bermuda 0–20) và World Cup 2010 (thua Suriname 1–7). Năm 2012, họ có trận hòa 4–4 giao hữu với một đội bóng Anh, và bất ngờ thắng Quần đảo Virgin thuộc Anh 7–0 ở vòng loại Cúp Caribe – chiến thắng đầu tiên kể từ năm 1995 và cũng là chiến thắng đầu tiên sau khi gia nhập FIFA.
Bước ngoặt đến vào năm 2018 khi Willie Donachie dẫn dắt và CONCACAF Nations League ra đời.[1] Montserrat thắng 3/4 trận vòng loại, dù bỏ lỡ Cúp Vàng CONCACAF 2019 do thua hiệu số. Trong mùa giải Nations League đầu tiên, họ đứng thứ hai bảng đấu, giữ suất ở hạng 2. Sau Donachie, Matt Lockwood nắm quyền huấn luyện một thời gian ngắn năm 2022, rồi đến tháng 9 năm 2023, Lee Bowyer lên làm HLV trưởng cùng trợ lý Steve Gallen. Ngay trận ra mắt, Montserrat đánh bại Barbados với bàn thắng phút 99 để vươn lên nhì bảng Nations League.
Thành tích tại các giải đấu
Giải vô địch bóng đá thế giới
| Vòng chung kết | Vòng loại | ||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | Hạng | ST | T | H | B | BT | BB | ST | T | H | B | BT | BB | |
| 1930 đến 1994 | Không phải thành viên FIFA | Không phải thành viên FIFA | |||||||||||||
| Không tham gia | Không tham gia | ||||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | 2 | 0 | 0 | 2 | 1 | 6 | |||||||||
| Bản mẫu:Country data Germany 2006 | 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 20 | |||||||||
| Bản mẫu:Country data South Africa 2010 | 1 | 0 | 0 | 1 | 1 | 7 | |||||||||
| 2 | 0 | 0 | 2 | 3 | 8 | ||||||||||
| 2 | 0 | 1 | 1 | 3 | 4 | ||||||||||
| 4 | 2 | 2 | 0 | 9 | 4 | ||||||||||
| 4 | 1 | 0 | 3 | 3 | 10 | ||||||||||
| Chưa xác định | Chưa xác định | ||||||||||||||
| Tổng | 0/7 | – | – | – | – | – | – | 17 | 3 | 3 | 11 | 20 | 59 | ||
Cúp Vàng CONCACAF
| Cúp Vàng CONCACAF | ||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | Hạng | ST | T | H | B | BT | BB |
| Không vượt qua vòng loại | ||||||||
| Không tham gia | ||||||||
| Không vượt qua vòng loại | ||||||||
| Không tham gia | ||||||||
| Không vượt qua vòng loại | ||||||||
| Rút lui | ||||||||
| Không vượt qua vòng loại | ||||||||
| Không tham gia | ||||||||
| Không vượt qua vòng loại | ||||||||
| Không tham gia | ||||||||
| Không vượt qua vòng loại | ||||||||
| Tổng | – | 0/18 | – | – | – | – | – | |
CONCACAF Nations League
| CONCACAF Nations League | |||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| League | Chung kết | ||||||||||||||||||
| Mùa giải | Hạng đấu | Bảng | ST | T | H | B | BT | BB | P/R | Chung kết | Kết quả | ST | T | H | B | BT | BB | Đội hình | |
| 2019−20 | B | B | 6 | 2 | 2 | 2 | 4 | 5 | Bản mẫu:Same position | Không đủ điều kiện | |||||||||
| 2022–23 | B | B | 6 | 1 | 1 | 4 | 6 | 14 | Bản mẫu:Same position | ||||||||||
| 2023–24 | B | B | 6 | 3 | 0 | 3 | 9 | 14 | Bản mẫu:Same position | ||||||||||
| 2024–25 | B | A | 6 | 1 | 0 | 5 | 3 | 10 | Bản mẫu:Down | ||||||||||
| Tổng | — | — | 24 | 7 | 3 | 14 | 21 | 43 | — | Tổng | 0 | — | — | — | — | — | — | — | |
Giải vô địch bóng đá vùng Caribe
| Caribbean Cup | ||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | Hạng | ST | T | H | B | BT | BB |
| Không tham gia | ||||||||
| Không vượt qua vòng loại | ||||||||
| Không tham gia | ||||||||
| Không vượt qua vòng loại | ||||||||
| Không tham gia | ||||||||
| Không vượt qua vòng loại | ||||||||
| Không tham gia | ||||||||
| Không vượt qua vòng loại | ||||||||
| Không tham gia | ||||||||
| Tổng | 0 | 0/19 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 |
Đội hình
Các cầu thủ sau đây đã được triệu tập vào đội hình cho các trận vòng loại World Cup 2026 gặp Belize vào ngày 4 tháng 6 năm 2025 và Guyana vào ngày 10 tháng 6.[2]
Số lần ra sân và bàn thắng được thống kê đến ngày 10 tháng 6 năm 2025, sau trận đấu với Guyana. Trang Bản mẫu:National football squad start/styles.css không có nội dung.
Triệu tập gần đây
Các cầu thủ dưới đây được triệu tập trong vòng 12 tháng. Bản mẫu:Nat fs r start
Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player |}
Thành tích đối đầu
- Tính đến 10 tháng 6 năm 2025[3]
| Đội tuyển | ST | T | H | B | BT | BB | HS | % thắng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 4 | 2 | 1 | 1 | 6 | 7 | −1 | 50% | |
| 4 | 0 | 1 | 3 | 6 | 20 | −14 | 0% | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 2 | 0 | +2 | 100% | |
| 3 | 2 | 0 | 1 | 7 | 9 | −2 | 66% | |
| 4 | 2 | 0 | 2 | 5 | 8 | −3 | 50% | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 20 | −20 | 0% | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 4 | −4 | 0% | |
| 3 | 1 | 1 | 1 | 1 | 1 | 0 | 33.33% | |
| 3 | 1 | 0 | 2 | 8 | 6 | +2 | 33% | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 2 | 1 | 1 | 100% | |
| 2 | 0 | 1 | 1 | 3 | 4 | −1 | 0% | |
| 5 | 2 | 1 | 2 | 5 | 8 | −3 | 40% | |
| 6 | 0 | 1 | 5 | 3 | 11 | −8 | 0% | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 3 | –3 | 0% | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 5 | −5 | 0% | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 1 | 4 | −3 | 0% | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 1 | 3 | −2 | 0% | |
| 4 | 0 | 0 | 4 | 2 | 29 | −27 | 0% | |
| 3 | 1 | 1 | 1 | 2 | 4 | −2 | 33% | |
| 5 | 0 | 0 | 5 | 1 | 31 | −30 | 0% | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 2 | 14 | −12 | 0% | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | +1 | 100% | |
| Tổng | 58 | 14 | 7 | 37 | 60 | 192 | −132 | 24.13% |
Lưu ý: các đội in nghiêng không phải là thành viên FIFA.
Tham khảo
- ^ a ă â "The world's worst team reinvented after disaster". BBC Sport. ngày 20 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2022.
- ^ "Final Squad". Instagram. Montserrat Football Association. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2024.
- ^ "World Football Elo Ratings". www.eloratings.net. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2019.
Liên kết ngoài
- Đội tuyển bóng đá quốc gia Montserrat Lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2015 tại Wayback Machine trên trang chủ của FIFA