Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới
Bản mẫu:Hộp thông tin giải đấu bóng đá Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới, được thành lập với tên gọi Giải vô địch bóng đá U-16 thế giới FIFA, sau đó đổi thành U-17 vào năm 1991 và sang tên hiện tại vào năm 2007, là giải vô địch thế giới thường niên của môn bóng đá dành cho các cầu thủ nam từ 17 tuổi trở xuống do Fédération Internationale de Football Association (FIFA) tổ chức. Đương kim vô địch là Bồ Đào Nha, đội giành danh hiệu đầu tiên tại giải đấu năm 2025.
Lịch sử
Giải đấu được lấy cảm hứng từ Lion City Cup, giải đấu do Hiệp hội bóng đá Singapore thành lập vào năm 1977. Lion City Cup là giải bóng đá U-16 đầu tiên trên thế giới. Sau khuyến nghị của tổng thư ký FIFA khi đó là Sepp Blatter sau khi ông có mặt tại Singapore dự Lion City Cup 1982, FIFA đã thành lập Giải vô địch bóng đá U-16 thế giới FIFA.[1]
Kỳ đầu tiên được tổ chức vào năm 1985 tại Trung Quốc,[2] và các giải đấu được tổ chức hai năm một lần kể từ đó. Giải bắt đầu là giải đấu dành cho các cầu thủ dưới 16 tuổi, với giới hạn tuổi được nâng lên 17 kể từ kỳ năm 1991. Giải đấu năm 2017, do Ấn Độ đăng cai, trở thành kỳ có lượng khán giả cao nhất trong lịch sử giải đấu, với tổng số khán giả của Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới đạt 1.347.133 người.[3]
Nigeria là quốc gia thành công nhất trong lịch sử giải đấu, với năm danh hiệu và ba lần á quân. Brasil là đội thành công thứ hai với bốn danh hiệu và hai lần á quân. Ghana và México mỗi đội đã hai lần vô địch giải đấu.
Một giải đấu tương ứng dành cho cầu thủ nữ, Giải vô địch bóng đá U-17 nữ thế giới, bắt đầu vào năm 2008, với Bắc Triều Tiên giành chức vô địch kỳ đầu tiên.
Vào tháng 3 năm 2024, FIFA công bố rằng các Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới của cả hai giới sẽ được tổ chức hằng năm, với Qatar và Maroc đăng cai năm kỳ thường niên đầu tiên bắt đầu từ năm 2025.[4][5] Đối với Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới, giải đấu cũng được mở rộng lên thể thức 48 đội, sau khi trước đó được tổ chức hai năm một lần với 24 đội từ năm 2007 đến năm 2023.[6][7]
Vào tháng 11 năm 2025, Maroc lập kỷ lục về cách biệt chiến thắng lớn nhất trong lịch sử bất kỳ giải World Cup 11 người nào của FIFA, khi đánh bại Nouvelle-Calédonie 16–0 tại Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới 2025.[8]
Thể thức
Mỗi giải đấu gồm một vòng bảng, trong đó bốn đội thi đấu với nhau và thứ hạng trong bảng quyết định các đội đi tiếp, tiếp theo là vòng đấu loại trực tiếp gồm các trận đấu liên tiếp, trong đó đội thắng đi tiếp trong giải đấu còn đội thua bị loại. Quá trình này tiếp tục cho đến khi còn hai đội tranh tài ở trận chung kết, trận đấu quyết định đội vô địch giải đấu. Hai đội thua ở bán kết cũng thi đấu một trận để xác định hạng ba.
Từ năm 1985 đến năm 2005, giải đấu có 16 đội, được chia thành bốn bảng, mỗi bảng bốn đội ở vòng bảng. Mỗi đội thi đấu với các đội còn lại trong bảng, và đội nhất bảng cùng đội nhì bảng giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp. Từ năm 2007, giải đấu được mở rộng lên 24 đội, chia thành sáu bảng, mỗi bảng bốn đội. Hai đội đứng đầu mỗi bảng cùng bốn đội xếp thứ ba có thành tích tốt nhất giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp.
Các trận đấu được thi đấu trong hai hiệp 45 phút (tức tổng cộng 90 phút). Ở vòng đấu loại trực tiếp, cho đến giải đấu năm 2011, nếu hòa sau 90 phút thì thi đấu thêm 30 phút hiệp phụ, sau đó là loạt sút luân lưu nếu vẫn hòa. Bắt đầu từ giải đấu năm 2011, hiệp phụ bị loại bỏ để tránh tình trạng cầu thủ quá tải, và tất cả các trận vòng đấu loại trực tiếp sẽ đi thẳng vào loạt sút luân lưu nếu hòa sau 90 phút.
Từ năm 2025, giải đấu được tổ chức hằng năm và có 48 đội tham dự, chia thành 12 bảng, mỗi bảng 4 đội, trong đó hai đội đứng đầu mỗi bảng (24 đội) và tám đội xếp thứ ba có thành tích tốt nhất đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp, bắt đầu từ vòng 32 đội cho đến chung kết để xác định đội vô địch.[9] Qatar được công bố là quốc gia đăng cai từ năm 2025 đến năm 2029 vào ngày 14 tháng 3 năm 2024.[10]
Vòng loại
Quốc gia chủ nhà của mỗi giải đấu tự động vượt qua vòng loại. Các đội còn lại vượt qua vòng loại thông qua các giải đấu do sáu liên đoàn khu vực tổ chức. Ở kỳ đầu tiên của giải đấu năm 1985, tất cả các đội từ châu Âu cùng Bolivia tham dự theo lời mời của FIFA.
Kết quả
Các đội lọt vào top bốn
| Đội | Danh hiệu | Á quân | Hạng ba | Hạng tư |
|---|---|---|---|---|
| 5 (1985, 1993, 2007, 2013, 2015) | 3 (1987, 2001, 2009) | |||
| 4 (1997, 1999, 2003, 2019) | 2 (1995, 2005) | 2 (1985, 2017) | 2 (2011, 2025) | |
| 2 (1991, 1995) | 2 (1993, 1997) | 1 (1999) | 1 (2007) | |
| 2 (2005, 2011) | 2 (2013, 2019) | 1 (2015) | ||
| 1 (2023) | 1 (1985) | 2 (2007, 2011) | 1 (1997) | |
| 1 (2001) | 1 (2023) | 1 (2019) | ||
| 1 (2025) | 1 (1989) | |||
| 1 (1987) | ||||
| 1 (1989) | ||||
| 1 (2009) | ||||
| 1 (2017) | ||||
| 4 (1991, 2003, 2007, 2017) | 2 (1997, 2009) | |||
| 1 (2015) | 1 (2023) | 1 (2017) | ||
| 1 (1989) | ||||
| 1 (1999) | ||||
| 1 (2011) | ||||
| 1 (2025) | ||||
| 3 (1991, 1995, 2003) | 3 (2001, 2013, 2023) | |||
| 1 (2005) | 1 (2019) | |||
| 1 (2025) | 1 (1987) | |||
| 1 (1987) | ||||
| 1 (1993) | ||||
| 1 (2001) | ||||
| 1 (2013) | ||||
| 1 (2015) | ||||
| 2 (2003, 2009) | ||||
| 1 (1985) | ||||
| 1 (1989) | ||||
| 1 (1991) | ||||
| 1 (1993) | ||||
| 1 (1995) | ||||
| 1 (1999) | ||||
| 1 (2005) |
- 1bao gồm các kết quả đại diện cho Tây Đức
- 2bao gồm các kết quả đại diện cho Liên Xô
Thành tích theo khu vực châu lục
Châu Phi là khu vực châu lục thành công nhất với bảy lần vô địch giải đấu (năm cho Nigeria, hai cho Ghana) và sáu lần á quân. Đáng chú ý, trận chung kết năm 1993 diễn ra giữa hai đội châu Phi, đây là lần đầu tiên trận chung kết có hai đội từ cùng một liên đoàn. Năm 2015, hai đội châu Phi lặp lại trận chung kết năm 1993 với Mali thay thế Ghana (bị loại vì vi phạm tuổi), khi Nigeria và Mali lọt vào hai vị trí cuối cùng và Nigeria giành chiến thắng thứ năm.
Nam Mỹ có bốn lần vô địch giải đấu – tất cả đều thuộc về Brasil – và ba lần á quân; Uruguay cũng một lần giành ngôi á quân vào năm 2011. Mặt khác, Argentina đã ba lần về hạng ba; Chile một lần làm được điều này; và Colombia hai lần về hạng tư, nhưng ba đội sau chưa từng vào chung kết.
Châu Âu có sáu lần vô địch giải đấu (mỗi đội một lần cho Liên Xô, Pháp, Thụy Sĩ, Anh, Đức và Bồ Đào Nha) và tám lần á quân. Tây Ban Nha bốn lần giành ngôi á quân. Ngoài ra, Hà Lan, Thụy Điển và Ý đã giành huy chương hạng ba lần lượt vào các năm 2005, 2013 và 2025.
Khu vực CONCACAF có hai lần vô địch giải đấu (thuộc về México vào các năm 2005 và 2011). Liên đoàn này đã bốn lần vào chung kết (với México).
Châu Á có một lần vô địch giải đấu (thuộc về Ả Rập Xê Út năm 1989), đây là lần duy nhất một đội từ liên đoàn này vào chung kết và cũng là lần duy nhất một đội châu Á vô địch một giải đấu FIFA ở hạng mục nam. (Úc là á quân năm 1999 nhưng khi đó còn thuộc Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương).
Châu Đại Dương chưa từng vô địch giải đấu và có một lần á quân (thuộc về Úc năm 1999). Úc sau đó đã chuyển sang liên đoàn châu Á.
Giải đấu này đặc biệt ở chỗ phần lớn danh hiệu thuộc về các đội đến từ ngoài những liên đoàn khu vực mạnh nhất (CONMEBOL và UEFA). Trong 20 kỳ đã tổ chức cho đến nay, 10 kỳ (50 phần trăm tổng số) được vô địch bởi các đội từ Bắc và Trung Mỹ, châu Phi và châu Á.
| Liên đoàn (châu lục) | Thành tích | |||
|---|---|---|---|---|
| Vô địch | Á quân | Hạng ba | Hạng tư | |
| CAF (châu Phi) | 7 lần: Nigeria (5), Ghana (2) | 6 lần: Nigeria (3), Ghana (2), Mali (1) | 4 lần: Ghana (1), Bờ Biển Ngà (1), Burkina Faso (1), Mali (1) | 3 lần: Ghana (1), Guinée (1), Mali (1) |
| UEFA (châu Âu) | 6 lần: Pháp (1), Liên Xô (1), Thụy Sĩ (1), Anh (1), Đức (1), Bồ Đào Nha (1) | 8 lần: Tây Ban Nha (4), Đức (1), Scotland (1), Pháp (1), Áo (1) | 10 lần: Đức (2), Tây Ban Nha (2), Bỉ (1), Pháp (1), Ý (1), Hà Lan (1), Bồ Đào Nha (1), Thụy Điển (1) | 5 lần: Đức (1), Ý (1), Hà Lan (1), Ba Lan (1), Thổ Nhĩ Kỳ (1) |
| CONMEBOL (Nam Mỹ) | 4 lần: Brasil (4) | 3 lần: Brasil (2), Uruguay (1) | 6 lần: Argentina (3), Brasil (2), Chile (1) | 7 lần: Brasil (2), Argentina (3), Colombia (2) |
| CONCACAF (Bắc, Trung Mỹ và Caribe) | 2 lần: México (2) | 2 lần: México (2) | Không có | 2 lần: México (1), Hoa Kỳ (1) |
| AFC (châu Á) | 1 lần: Ả Rập Xê Út (1) | Không có | Không có | 3 lần: Bahrain (1), Qatar (1), Oman (1) |
| OFC (châu Đại Dương) | Không có | 1 lần: Úc (1) | Không có | Không có |
Giải thưởng
Các giải thưởng sau hiện được trao:
- Quả bóng vàng được trao cho cầu thủ giá trị nhất giải đấu;
- Chiếc giày vàng được trao cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất giải đấu;
- Găng tay vàng được trao cho thủ môn giá trị nhất giải đấu;
- Cúp Fair Play FIFA được trao cho đội có thành tích kỷ luật tốt nhất tại giải đấu.
Kỷ lục và thống kê
Xem thêm
Tham khảo
- ^ "Youth Cup revived". eresources.nlb.gov.sg. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019.
- ^ "India could shatter Under 17 World Cup attendance record". The Times of India. ngày 20 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2017.
- ^ "FIFA U-17 WC in India becomes most attended in event's history". The Times of India. ngày 28 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017.
- ^ "Qatar appointed as host of FIFA U-17 World Cup annually from 2025 to 2029". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 14 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Under-17 World Cups to be held every year from 2025, says FIFA". ngày 14 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
- ^ Onyeagwara, Nnamdi (ngày 14 tháng 3 năm 2024). "FIFA men's U17 World Cup increasing to 48 teams with next five to be held in Qatar". The New York Times.
- ^ "FIFA U-17 World Cup expands to 48 teams". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 14 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2025.
- ^ "16-goal Morocco make history". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 9 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Regulations for the FIFA U-17 World Cup Qatar 2025–2029" (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Qatar appointed as host of FIFA U-17 World Cup™ annually from 2025 to 2029". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 14 tháng 3 năm 2024.
Liên kết ngoài
- Website chính thức
- Giải vô địch thế giới dành cho các đội U-16/U-17 tại RSSSF.com
- FIFA U17 WC (lưu trữ)
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Website chính thức không có trên Wikidata
- Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới
- Giải đấu bóng đá U-17
- Giải đấu thể thao trẻ thế giới
- Giải đấu FIFA dành cho đội tuyển quốc gia nam
- Giải đấu FIFA dành cho đội tuyển trẻ quốc gia
- Sự kiện thể thao định kỳ thành lập năm 1985
- Giải vô địch thế giới về bóng đá
- Giải đấu bóng đá trẻ quốc tế