Đội tuyển bóng đá quốc gia Trung Quốc
Bản mẫu:Infobox national football team Đội tuyển bóng đá quốc gia Trung Quốc (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.) là đội tuyển bóng đá nam đại diện cho nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại các giải đấu bóng đá quốc tế, được quản lý bởi Hiệp hội bóng đá Trung Quốc (CFA).
Trung Quốc từng dự World Cup 2002. Tại các kỳ Cúp bóng đá châu Á, đội đã 12 lần liên tiếp dự vòng chung kết từ năm 1976 trong đó có 2 lần lọt vào trận chung kết vào các năm 1984 và 2004 và đều giành ngôi Á quân.
Lịch sử
Đội tuyển bóng đá Trung Quốc đầu tiên hậu phong kiến ra đời vào năm 1913 để tham dự Đại hội Thể thao Viễn Đông năm đó diễn ra tại Philippines. Đến năm 1924, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc lập ra Hiệp hội bóng đá Trung Quốc, gia nhập FIFA vào năm 1931.[1]
Sau Nội chiến Trung Quốc, 1 tổ chức khác cũng tên là Hiệp hội bóng đá Trung Quốc mà Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho thành lập là thành viên của FIFA cho đến năm 1958. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có trận đấu quốc tế đầu tiên với Phần Lan vào ngày 4 tháng 8 năm 1952.
Đội dự vòng loại World Cup 1958 trước khi rút lui khỏi đấu trường quốc tế và chỉ gia nhập lại vào năm 1979. Trong vòng 30 năm, Trung Quốc đa phần chỉ đấu giao hữu với các đội như Albania, Miến Điện, Campuchia, Guinée, Hungary, Mông Cổ, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Pakistan, Sudan, Liên Xô và Cộng hòa Ả Rập Thống nhất. Đội dự Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới năm 1958 và thua Indonesia ở hiệu số bàn thắng.
Trung Quốc dự vòng loại World Cup năm 1980 và thua New Zealand trong trận play-off. Ở vòng loại World Cup năm 1986, Trung Quốc gặp Hồng Kông ở sân nhà trong trận đấu cuối cùng của vòng loại đầu tiên ngày 19 tháng 8 năm 1985, trận mà Trung Quốc cần phải hòa nếu muốn đi tiếp. Hồng Kông đã thắng 2-1 và dẫn đến 1 cuộc ẩu đả giữa cổ động viên 2 bên. Ở vòng loại năm 1990, Trung Quốc lần nữa lọt vào vòng đấu cuối cùng của vòng loại và thua Qatar trong trận cuối cùng của vòng bảng. Ở vòng loại năm 1994, đội lại mất cơ hội lọt vào vòng đấu cuối cùng của vòng loại khi xếp thứ 2 sau Iraq. Trung Quốc đứng trước cơ hội tham gia vòng loại năm 1998 và thua các trận đấu trên sân nhà trước Qatar và Iran.
Ngày 26 tháng 1 năm 2000, Trung Quốc thắng Guam 19-0 trong khuôn khổ vòng loại Cúp bóng đá châu Á và đây trở thành trận thắng kỷ lục tính theo trận đấu quốc tế chính thức (đã bị Kuwait phá vỡ 19 ngày sau đó).
Trung Quốc dự World Cup 2002 dưới sự dẫn dắt của Bora Milutinović, tập hợp 1 đội hình trong đó có những thành viên thi đấu tại châu Âu (Phạm Chí Nghị và Tôn Kế Hải tại Crystal Palace, Thiệu Giai Nhất tại 1860 München, Lý Thiết tại Everton, Mã Minh Vũ tại Perugia...),[2] thua cả 3 trận trước Brasil, Thổ Nhĩ Kỳ, Costa Rica và không ghi được bàn thắng nào.
Từ năm 2004, CFA bắt đầu giới hạn thương hiệu giày bóng đá trong đội tuyển, quy định tất cả các cầu thủ phải sử dụng giày của Adidas.
Trong trận chung kết Asian Cup 2004 trên sân nhà, Trung Quốc thua 1–3 trước Nhật Bản. Trận đấu này gây tranh cãi vì trọng tài đã công nhận bàn thắng ghi bằng tay của Nakata Koji, khiến một số cổ động viên Trung Quốc tức giận và có hành động bài Nhật.[3]
Đã có hơn 300 triệu dân Trung Quốc theo dõi hành trình của đội tại World Cup 2002, cũng như 250 triệu người đã theo dõi vòng chung kết Asian Cup 2004, kỷ lục cho 1 sự kiện thể thao trong ngành truyền hình Trung Quốc.[4]
Tháng 11 năm 2004, Trung Quốc không thể tham gia vòng đấu sơ bộ của Giải bóng đá vô địch thế giới 2006 khi thua Kuwait về hiệu số bàn thắng bại dù trước đó đã xuyên thủng mảnh lưới của Hồng Kông đến 7 lần trong trận đấu cuối cùng. Sau đó, huấn luyện viên Arie Haan bị thay thế bởi Chu Quảng Hỗ sau quá trình tuyển dụng.
Tháng 8 năm 2005, Trung Quốc thắng giải Cúp bóng đá Đông Á 2005, đây là danh hiệu quốc tế đầu tiên của đội khi hòa 1–1 Hàn Quốc, 2–2 Nhật Bản và thắng 2–0 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2007 năm 2006, đội ghi 1 bàn thắng duy nhất từ chấm phạt đền bởi Thiệu Giai Nhất trong trận đấu với Singapore tại sân nhà và sau đó hòa đối thủ trên sân khách.
Tại vòng loại thứ 3 khu vực châu Á cho World Cup 2022, Trung Quốc kết thúc với thành tích 1 thắng 3 hoà 6 thua, giành được 6 điểm, đứng 5/6 đội trong bảng đấu và bị loại. Trận thắng duy nhất của Trung Quốc là trước Việt Nam ở lượt đi, đội được coi là yếu nhất trong tất cả 12 đội của vòng 3. Vì vậy, việc để thua Việt Nam ở lượt về đã khiến người hâm mộ trong nước tức giận và chỉ trích kịch liệt cho sự đi xuống của bóng đá nam nước này.[5]
Hình ảnh
Đội tuyển Trung Quốc có biệt danh được gọi là "Long chi đội" (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Lang-zh”.), nghĩa là "Đội tuyển Rồng".[6][7]
Áo sân nhà của Trung Quốc theo truyền thống là màu đỏ với viền trắng trong khi áo sân khách của họ theo truyền thống là một phiên bản đảo ngược của áo sân nhà, hoàn toàn màu trắng với viền màu đỏ. Trong Giải vô địch bóng đá châu Á 1996, Trung Quốc đã sử dụng một áo thứ ba có màu xanh với viền trắng và được sử dụng trong trận đấu với Ả Rập Xê Út trong giải đấu.[8]
Mùa giải 2022–24 đánh dấu lần đầu tiên đội sử dụng áo đấu phụ màu xanh lam ngọc, thay thế cho áo trắng đã được mặc trong các mùa trước. Đội cũng bắt đầu sử dụng áo làm mát ở một số khu vực có khí hậu nóng hơn.[9] Sau nhiều thập kỷ được Adidas sản xuất trang phục thi đấu, bộ trang phục hiện tại của đội tuyển Trung Quốc đã được Nike thiết kế và sản xuất kể từ năm 2015.
Nhà tài trợ
| Tài Trợ | Năm | Bắt Đầu | Thời hạn hợp đồng | Giá Trị | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|
| Adidas | 1991–2014 | ||||
| Nike | 2015–nay | 2015–2026 (11 năm) | $16 tỷ mỗi năm | [10][11] |
Kình địch
Nhật Bản
Truyền thống cho thấy đối thủ lớn nhất của Trung Quốc là Nhật Bản. Sự kình địch này được thể hiện rõ sau thất bại 1–3 của họ trong trận chung kết Cúp bóng đá châu Á 2004 ngay trên sân nhà.[12] Cuộc bạo loạn sau đó của cổ động viên Trung Quốc tại sân vận động Công Nhân được cho là bị kích động bởi những quyết định trọng tài gây tranh cãi trong giải đấu và làn sóng bài Nhật gia tăng vào thời điểm đó.
Hàn Quốc
Một kình địch khác là với người hàng xóm Hàn Quốc, đội mà Trung Quốc đã đối đầu 27 lần từ năm 1978 đến 2010 mà không giành được bất kỳ chiến thắng nào. Truyền thông đã đặt ra thuật ngữ "Hội chứng sợ Hàn Quốc" (Koreaphobia) để mô tả hiện tượng này, nhưng cuối cùng Trung Quốc đã có được chiến thắng đầu tiên trước Hàn Quốc vào ngày 10 tháng 2 năm 2010, với tỷ số 3–0 tại Giải vô địch bóng đá Đông Á 2010 và sau đó lên ngôi vô địch giải đấu. Xa hơn nữa, Trung Quốc từng gặp Hàn Quốc (khi đó được gọi là Triều Tiên) lần đầu tiên vào năm 1949 trong một trận giao hữu tại Hồng Kông thuộc Anh, nơi Trung Quốc giành chiến thắng đầu tiên và duy nhất trước Triều Tiên trong suốt 61 năm.[13] Sự kình địch này còn được thúc đẩy bởi một yếu tố chính trị khác, chủ yếu xuất phát từ lịch sử chiến tranh giữa hai quốc gia.[14][15]
Hồng Kông
Sự kình địch với Hồng Kông đã hình thành do căng thẳng chính trị, cũng như các vấn đề trong vòng loại World Cup 2018. Khi các cổ động viên Hồng Kông la ó quốc ca Trung Quốc — cũng là quốc ca của Hồng Kông — các trận đấu vòng loại World Cup 2018 trở nên rất căng thẳng, với cả hai trận đều kết thúc với tỷ số hòa 0–0.
Kết quả và lịch thi đấu
Sau đây là danh sách kết quả các trận đấu trong 12 tháng qua, cùng các trận đấu đã được lên lịch trong tương lai.
- Chú thích
Thắng Hòa Thua Lịch thi đấu
2026
| 20 tháng 1 Giao hữu không chính thức | Trung Quốc | 2–0 | Arabian Falcons | Dubai, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ |
| 26 tháng 1 Giao hữu không chính thức | Trung Quốc | 2–2 | Uzbekistan | Dubai, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất | ||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ |
|
https://zamin.uz/en/sport/184166-uzbekistan-made-a-comeback-against-china.html |
|
|||
|
Ghi chú: The match was composed of three 35-minute periods. | ||||||
| 27 tháng 3 FIFA Series 2026 | Trung Quốc | 2–0 | Curaçao | Sydney, Úc |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.fifa.com/en/match-centre/match/10017/292846/292847/400021842?date=2026-03-27 | Sân vận động: Sân vận động Australia Lượng khán giả: 23,798 Trọng tài: Alex King (Úc) |
| 31 tháng 3 FIFA Series 2026 | Cameroon | 2–0 | Trung Quốc | Melbourne, Úc |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | Source | Sân vận động: Sân vận động Melbourne Rectangular Trọng tài: Alireza Faghani (Úc) |
| 5 tháng 6 Giao hữu | Singapore | 1–2 | Trung Quốc | Kallang, Singapore |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://globalsportsarchive.com/en/soccer/match/2026-06-05/singapore-vs-china-pr/4300257 | Sân vận động: Sân vận động Jalan Besar Lượng khán giả: 4,688 Trọng tài: Rustam Lutfullin (Uzbekistan) |
| 9 tháng 6 Giao hữu | Trung Quốc | 0–0 | Thái Lan | Kim Hoa, Trung Quốc |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ | https://www.soccerway.com/match/china-f5AvIXD3/thailand-zHgBrkd7/?mid=Q9ijWp0K | Sân vận động: Sân vận động Kim Hoa Lượng khán giả: 27,005 Trọng tài: Ko Hyung-jin (Hàn Quốc) |
| tháng 9 Giao hữu | Trung Quốc | – | Uzbekistan | Trung Quốc |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ |
| tháng 9 Giao hữu | Trung Quốc | – | CHDCND Triều Tiên | Trung Quốc |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ |
| tháng 10 Giao hữu | Trung Quốc | – | Tajikistan | Trung Quốc |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ |
| tháng 10 Giao hữu | Trung Quốc | – | Palestine | Trung Quốc |
|---|---|---|---|---|
| Bản mẫu:UTZ |
2027
| 9 tháng 1 Cúp bóng đá châu Á 2027 | Iran | v | Trung Quốc | Riyadh, Ả Rập Xê Út |
|---|---|---|---|---|
| Sân vận động: Kingdom Arena |
| 14 tháng 1 Cúp bóng đá châu Á 2027 | Trung Quốc | v | Syria | Jeddah, Ả Rập Xê Út |
|---|---|---|---|---|
| Sân vận động: Sân vận động Thành phố Thể thao Hoàng tử Abdullah Al Faisal |
| 18 tháng 1 Cúp bóng đá châu Á 2027 | Kyrgyzstan | v | Trung Quốc | Riyadh, Ả Rập Xê Út |
|---|---|---|---|---|
| Sân vận động: Kingdom Arena |
Cầu thủ
Đội hình hiện tại
Danh sách cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho các trận đấu giao hữu với Singapore và Thái Lan vào ngày 5 và 9 tháng 6 năm 2026.[16][17]
Số lần ra sân và số bàn thắng cập nhật ngày ngày 31 tháng 3 năm 2026, sau trận đấu với Thái Lan.
Trang Bản mẫu:National football squad start/styles.css không có nội dung.
Triệu tập gần đây
Những cầu thủ sau đây cũng đã được triệu tập vào đội hình trong 12 tháng qua. Bản mẫu:Nat fs r start Bản mẫu:Nat fs r player
Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player
Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player Bản mẫu:Nat fs r player
- INJ Rút lui vì chấn thương
- PRE Chỉ nằm trong danh sách sơ bộ
- RET Từ giã đội tuyển
- SUS Đang thi hành án treo giò
- WD Rút lui vì lý do không liên quan đến chấn thương
|}
Huấn luyện viên
| Vị Trí | Tên |
|---|---|
| Giám đốc kĩ thuật | Cao Hồng Ba |
| Huân luyện viên trưởng | Thiệu Giai Nhất |
| Trợ lí huấn luyện viên | Reiner Maurer |
| Javi Morillas Jimenez | |
| Chu Đình | |
| Huấn luyện viên thủ môn | Dương Chí |
| Nhân viên kỹ thuật | Lưu Kiện |
| Vũ Hán Siêu | |
| Huấn luyện viên thể hình | Telmo De Andrés |
| Lý Độ Lượng | |
| Bác sĩ | Vương Thư Thành |
| Kim Nhật | |
| Điều phối viên | Tùy Hàn |
| Chuyên gia trị liệu | Giang Văn Vũ |
| Tạ Tử Diên |
Giải đấu
| Năm | Kết quả | St | T | H | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1930 ↓ 1954 |
Không tham dự | ||||||
| 1958 | Không vượt qua vòng loại | ||||||
| 1962 ↓ 1978 |
Không tham dự | ||||||
| 1982 ↓ 1998 |
Không vượt qua vòng loại | ||||||
| 2002 | Vòng Bảng | 3 | 0 | 0 | 3 | 0 | 9 |
| 2006 ↓ 2026 |
Không vượt qua vòng loại | ||||||
| 2030 ↓ 2034 |
Chưa xác định | ||||||
| Tổng cộng | Vòng bảng | 3 | 0 | 0 | 3 | 0 | 9 |
Cấp châu lục
| Cúp bóng đá châu Á | ||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Vị trí | St | T | H | B | Bt | Bb | |
| 1 | 1 | 2 | 2 | 4 | ||||
| 1 | 1 | 2 | 9 | 5 | ||||
| 4 | 0 | 2 | 11 | 4 | ||||
| 2 | 2 | 2 | 7 | 5 | ||||
| 1 | 3 | 1 | 6 | 6 | ||||
| 4 | 1 | 0 | 3 | 6 | 7 | |||
| 2 | 2 | 2 | 11 | 7 | ||||
| 3 | 2 | 1 | 13 | 6 | ||||
2007 |
Vòng 1 | 3 | 1 | 1 | 1 | 7 | 6 | |
| 3 | 1 | 1 | 1 | 4 | 4 | |||
| Tứ kết | 4 | 3 | 0 | 1 | 5 | 4 | ||
| 5 | 3 | 0 | 2 | 7 | 7 | |||
| 3 | 0 | 2 | 1 | 0 | 1 | |||
| 58 | 23 | 15 | 21 | 88 | 66 | |||
| Á vận hội | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Vị trí | St | T | H | B | Bt | Bb |
Cấp khu vực
| Giải vô địch bóng đá Đông Á | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Vị trí | St | T | H | B | Bt | Bb |
Danh dự
Thế giới
- FIFA World Cup
- Vòng bảng (1): 2002
Châu lục
- AFC Asian Cup
- Á quân (2): 1984, 2004
- Hạng ba (2): 1976, 1992
- Asian Games
- Huy chương bạc (1): 1994
- Huy chương đồng (2): 1978, 1998
Khu vực
- EAFF E-1 cúp bóng đá Đông Á
- Vô địch (2): 2005, 2010
- Á quân (2): 2013, 2015
- Hạng ba (5): 2003, 2008, 2017, 2019, 2022
- Dynasty Cup
- Á quân (2): 1990, 1998
Giao hữu
- China Cup
- Hạng ba (1): 2017
- Dunhill Cup
- Vô địch (1): 1997
- Á quân (1): 1999
- Four Nations Tournament
- Vô địch (2): Jan. 2000, Sept. 2000
- Hạng ba (1): 2001
- King's Cup
- Vô địch (2): 1991, 1993
- Á quân (1): 2001
- Hạng ba (1): 1980 (shared)
- Kirin Cup
- Hạng ba (1): 1984 (shared)
- Lunar New Year Cup
- Vô địch (1): 1978
- Á quân (2): 1989, 1990
- Merlion Cup
- Vô địch (1): 1986
- Hạng ba (1): 1983
- Nehru Cup
- Á quân (4): 1982, 1983, 1984, 1986
- Hạng ba (1): 1997
Cá nhân
Thi đấu nhiều trận nhất
- Tính đến 1 tháng 1 năm 2024:
| # | Cầu thủ | Thời gian | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Lý Vĩ Phong | 1998–2011 | 112 | 14 |
| 2 | Cao Lâm | 2005–2019 | 109 | 22 |
| 3 | Trịnh Chí | 2002–2019 | 108 | 15 |
| (4) | Hác Hải Đông | 1992–2004 | 107 | 41 |
| 4 | Phạm Chí Nghị | 1992–2002 | 106 | 17 |
| 5 | Trương Lâm Bồng | 2009– | 104 | 6 |
| 6 | Vũ Lỗi | 2010– | 96 | 36 |
| 7 | Lý Thiết | 1997–2010 | 92 | 6 |
| 8 | Hác Tuấn Mẫn | 2005–2022 | 90 | 12 |
| 9 | Triệu Húc Nhật | 2003–2019 | 87 | 2 |
| Ngô Hy | 2011– | 87 | 9 |
Ghi nhiều bàn thắng nhất
| # | Cầu thủ | Thời gian | Bàn thắng (số trận) | Kỷ lục |
|---|---|---|---|---|
| (1) | Hác Hải Đông | 1992–2004 | 41 (107) | 0.39 |
| 1 | Vũ Lỗi | 2005– | 36 (96) | 0.37 |
| 2 | Dương Húc | 2009–2023 | 28 (54) | 0.52 |
| 3 | Túc Mậu Trăn | 1994–2002 | 27 (53) | 0.51 |
| 4 | Lý Kim Vũ | 1997–2008 | 24 (70) | 0.34 |
| 5 | Cao Lâm | 2005–2019 | 22 (109) | 0.2 |
| 6 | Mã Lâm | 1985–1990 | 21 (45) | 0.47 |
| 7 | Lưu Hải Quang | 1983–1990 | 20 (58) | 0.35 |
| Lý Băng | 1992–2001 | 20 (65) | 0.31 | |
| 9 | Triệu Đại Vũ | 1982–1986 | 19 (29) | 0.66 |
| Vũ Đại Bảo | 2010–2022 | 19 (67) | 0.3 |
Hác Hải Đông bị xóa tên khỏi lịch sử thể thao Trung Quốc vì được cho là đã chỉ trích chính quyền trong ngày kỷ niệm 31 năm sự kiện Thiên An Môn.[18]
Huấn luyện viên trưởng
Ghi chú
- ^ (bằng tiếng Anh) "China PR". fifa.com. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2009.
- ^ (bằng tiếng Anh) "Chinese Football Team Qualifies for 2002 World Cup Finals". china.org.cn. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2009.
- ^ (bằng tiếng Anh) "'Hand of Koji' brings Japan third title". ESPNSoccernet. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2009.[liên kết hỏng]
- ^ (bằng tiếng Anh) "Asian Cup final smashes viewing records". FootballAsia.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2004.
- ^ "Người hâm mộ Trung Quốc bình luận gì về trận thua 1-3 trước Việt Nam". VietTimes. ngày 2 tháng 2 năm 2022.
- ^ ""龙之队球迷会"助威超级企鹅足球名人赛 6月2日虹口约吗?_体育_腾讯网". sports.qq.com. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2021.
- ^ "China PR: Profile". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2016.
- ^ "( السعودية 4 – 3 الصين ) ربع نهائي كأس آسيا 1996" (bằng tiếng Ả Rập). YouTube. ngày 7 tháng 2 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2013.Bản mẫu:Cbignore
- ^ "Gulf Times- Qatar's top-selling English daily newspaper - Homepage". www.gulf-times.com. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2007.
- ^ Nike officially replaced Adidas as Chinese national football partner
- ^ New sponsor Nike sparks national football team revival
- ^ Yardley, Jim (ngày 9 tháng 8 năm 2004). "In Soccer Loss, a Glimpse of China's Rising Ire at Japan". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2022.
- ^ "China PR v Korea Republic, 02 January 1949".
- ^ "China ready for 'football war' with South Korea amid rising tensions". ngày 22 tháng 3 năm 2017.
- ^ "The History War between China and South Korea". ngày 13 tháng 8 năm 2021.
- ^ "国足新一期集训大名单:武磊、蒋光太回归,李昊首次入选" (bằng tiếng Trung). dongqiudi. ngày 28 tháng 5 năm 2026.
- ^ "国足官方:蒋光太、程进、拜合拉木将不随队前往新加坡,补招高天意" (bằng tiếng Trung). dongqiudi. ngày 3 tháng 6 năm 2026.
- ^ https://thanhnien.vn/the-thao/hau-truong/huyen-thoai-hao-haidong-bi-xoa-khoi-lich-su-the-thao-trung-quoc-vi-chong-che-do-116121.html
Liên kết ngoài
- Đội tuyển Trung Quốc trên Sina Sports (bằng tiếng Trung Quốc)
- Hồ sơ Lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2018 tại Wayback Machine trên FIFA
- Hồ sơ trên AFC
- Hồ sơ trên EAFF
Bản mẫu:Football in China Bản mẫu:Các đội tuyển bóng đá quốc gia Đông Á