Bước tới nội dung

Scott Parker

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Scott Parker
Tập tin:Scott Parker Bournemouth (cropped).jpg
Parker cùng với Bournemouth năm 2021
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Scott Matthew Parker
Ngày sinh 13 tháng 10, 1980 (45 tuổi)
Nơi sinh Lambeth, Đại Luân Đôn, Anh
Chiều cao 5 ft 9 in (1,75 m)[1]
Vị trí Tiền vệ
Thông tin đội
Đội hiện nay
Burnley (huấn luyện viên trưởng)
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
1990–1997 Charlton Athletic
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1997–2004 Charlton Athletic 128 (9)
2000Norwich City (mượn) 6 (1)
2004–2005 Chelsea 15 (1)
2005–2007 Newcastle United 55 (4)
2007–2011 West Ham United 113 (10)
2011–2013 Tottenham Hotspur 50 (0)
2013–2017 Fulham 119 (6)
Tổng cộng 486 (31)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
1996–1997 U-16 Anh 7 (2)
1999 U-18 Anh 3 (1)
1998 U-19 Anh 1 (0)
2000–2002 U-21 Anh 11 (0)
2003–2013 Anh 18 (0)
Sự nghiệp huấn luyện
Năm Đội
2019–2021 Fulham
2021–2022 Bournemouth
2022–2023 Club Brugge
2024– Burnley
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Scott Matthew Parker (sinh ngày 13 tháng 10 năm 1980) là một huấn luyện viên bóng đá chuyên nghiệp và cựu cầu thủ người Anh, hiện là huấn luyện viên trưởng của câu lạc bộ Giải bóng đá Ngoại hạng Anh Burnley.

Parker bắt đầu sự nghiệp tại Charlton Athletic và được cho Norwich City mượn, trước khi gia nhập Chelsea với mức phí 10 triệu bảng Anh vào tháng 1 năm 2004. Ông không thi đấu thường xuyên tại Chelsea và chuyển đến Newcastle United vào năm sau, nơi ông được trao băng đội trưởng. Parker gia nhập West Ham United vào năm 2007 và được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FWA ở mùa giải 2010–11 dù câu lạc bộ xuống hạng. Sau đó, ông được Tottenham Hotspur chiêu mộ và gia nhập Fulham vào năm 2013. Ông thi đấu 119 trận tại giải vô địch quốc gia cho Fulham ở cả Premier League và Championship, trước khi giải nghệ vào cuối mùa giải 2016–17.

Parker từng đại diện cho Anh ở mọi cấp độ từ U-16 đến đội tuyển quốc gia, có trận ra mắt đội tuyển quốc gia vào năm 2003. Đặc biệt, ông giành bốn lần khoác áo đầu tiên cho đội tuyển Anh khi đang thi đấu cho bốn câu lạc bộ khác nhau.[2] Parker là thành viên đội tuyển Anh vào tứ kết UEFA Euro 2012.

Parker được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền của Fulham vào tháng 2 năm 2019 và được ký hợp đồng chính thức vào mùa hè năm đó. Trong mùa giải đầu tiên dẫn dắt, ông đưa Fulham thăng hạng lên Premier League sau khi giành chiến thắng ở play-off Championship, nhưng đội xuống hạng trở lại ở mùa giải tiếp theo. Sau đó, ông rời Fulham để gia nhập Bournemouth vào năm 2021 và một lần nữa giành quyền thăng hạng từ Championship ngay trong mùa giải đầu tiên. Sau thất bại 0–9 trước Liverpool ở trận đấu thứ tư của câu lạc bộ tại giải vô địch quốc gia mùa đó, ông bị sa thải, rồi được Club Brugge bổ nhiệm, nhưng tiếp tục bị sa thải sau 12 trận vào tháng 3 năm 2023. Tháng 7 năm 2024, ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của Burnley và đưa đội thăng hạng lên Premier League ngay trong mùa giải đầu tiên dẫn dắt.

Đầu đời

Scott Matthew Parker[3] sinh ngày 13 tháng 10 năm 1980[4] tại Lambeth, Đại Luân Đôn, và theo học tại Haberdashers' Aske's Hatcham CollegeNew Cross.[5] Khi 13 tuổi, ông xuất hiện trong một quảng cáo nổi tiếng tại Anh của McDonald's, trong đó ông thực hiện động tác keepie uppie, trong chiến dịch Giải vô địch bóng đá thế giới 1994.[6] Parker tốt nghiệp Trường Xuất sắc quốc gia hiện không còn hoạt động của The Football Association tại Lilleshall.[5]

Sự nghiệp thi đấu

Sự nghiệp câu lạc bộ

Charlton Athletic

Sau khi tốt nghiệp Lilleshall, Parker ký hợp đồng với Charlton Athletic với tư cách cầu thủ tập sự và ra mắt đội một với vai trò dự bị trong trận gặp Bury tại First Division vào ngày 23 tháng 8 năm 1997, trận đấu kết thúc với tỉ số 0–0.[5] Hai tháng sau, ông ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên với câu lạc bộ.[5] Trong vài năm tiếp theo, ông chỉ có một số lần vào sân thay người rải rác cho Charlton, dù được xem là một trong những triển vọng sáng giá nhất của bóng đá Anh.[cần dẫn nguồn] Tháng 10 năm 2000, Charlton, khi đó đang thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, cho Parker mượn đến câu lạc bộ First Division Norwich City[7] trong hai tháng để tuyển thủ U-21 Anh có thêm kinh nghiệm thi đấu đội một. Tại Norwich, ông ghi một bàn vào lưới Sheffield Wednesday.[8] Khi trở lại The Valley, Parker lập tức được gọi vào đội một để thay đội trưởng Mark Kinsella bị chấn thương.[9] Parker thi đấu tốt đến mức khi Kinsella bình phục chấn thương, cầu thủ này không thể giành lại vị trí trong đội hình xuất phát.[10] Parker nhanh chóng trở thành trụ cột ở hàng tiền vệ Charlton, kết hợp khả năng tắc bóng quyết liệt với năng lực đưa bóng nhanh từ phòng ngự sang tấn công và thực hiện các đường chuyền sắc bén, tạo ra nhiều cơ hội cho đồng đội.[11]

Chelsea

Parker, người đã liên tục được liên hệ với các vụ chuyển nhượng rời Charlton trong nhiều năm, cuối cùng rời The Valley vào ngày 30 tháng 1 năm 2004 để gia nhập Chelsea theo hợp đồng bốn năm rưỡi với mức phí 10 triệu bảng Anh.[12] Alan Curbishley, huấn luyện viên của Charlton, chỉ trích thái độ của Parker sau khi có tin Chelsea quan tâm, cáo buộc ông cư xử không đúng mực và nói rằng "...cách cậu ấy thể hiện trong tập luyện không như lẽ ra phải có."[13] Ban đầu, Parker được ký hợp đồng để làm phương án dự phòng cho Claude MakéléléFrank Lampard, nhưng không có nhiều cơ hội thi đấu ở vị trí sở trường.[14] Ông ghi bàn thắng duy nhất cho Chelsea trong chiến thắng 2–0 trước Portsmouth tại Fratton Park vào ngày 11 tháng 2.[15] Cuối mùa giải 2003–04, Parker được vinh danh là Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của PFA.[16]

Sau các bản hợp đồng mùa hè với Arjen RobbenTiago Mendes, cơ hội ở đội một của Parker bị hạn chế trong mùa giải 2004–05.[cần dẫn nguồn] Dù khó tìm được cơ hội ở đội một tại Chelsea, ông vẫn thường xuyên đá chính trong các trận League Cup của Chelsea, giải đấu mà ông góp mặt trong ba chiến thắng liên tiếp trước West Ham,[17] Newcastle[18] và Fulham.[19] Những khó khăn của ông càng nặng thêm khi ông bị gãy xương bàn chân trong trận gặp câu lạc bộ cũ Norwich City.[20] Vì chấn thương này, Parker bỏ lỡ cả hai lượt trận bán kết League Cup gặp Manchester United và trận chung kết gặp Liverpool, dù ông vẫn tham gia màn ăn mừng.[cần dẫn nguồn]

Newcastle United

Parker được bán vào mùa hè tiếp theo, chuyển đến Newcastle United vào tháng 7 năm 2005 với mức phí 6,5 triệu bảng Anh.[21] Ông trở thành cầu thủ thường xuyên trong đội một Newcastle và là một trong số ít cầu thủ của câu lạc bộ thể hiện sự ổn định trong một mùa giải thường xuyên khó khăn, khi Newcastle kết thúc ở vị trí thứ bảy dù có khởi đầu rất kém dưới thời Graeme Souness.[cần dẫn nguồn] Bàn thắng đầu tiên của ông cho Newcastle đến trong trận thua 1–3 trước câu lạc bộ cũ Charlton vào ngày 25 tháng 3 năm 2006.[22] Cuối tháng đó, ông được chẩn đoán mắc sốt tuyến, qua đó kết thúc mùa giải của mình.[23] Thời điểm này đặc biệt không may cho Parker, người đang thi đấu tốt cho Newcastle, vì nó chấm dứt mọi hi vọng chen chân vào đội hình tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 2006.[24]

Tháng 7 năm 2006, ông được huấn luyện viên Glenn Roeder bổ nhiệm làm đội trưởng mới của Newcastle United, kế nhiệm Alan Shearer vừa giải nghệ.[25] Bàn thắng đầu tiên của ông trên cương vị đội trưởng đến trong trận gặp Wigan Athletic vào ngày 19 tháng 8 năm 2006, trong chiến thắng 2–1 ở ngày mở màn mùa giải.[26] Parker ghi bàn thứ hai của mùa giải trước Fulham vào tháng 9 năm 2006, nhưng sau khi ông bị thay ra, Newcastle để thủng lưới hai bàn và sau đó thua trận.[27] Bất chấp phong độ kém của Newcastle, các màn trình diễn của ông giúp ông được gọi trở lại đội tuyển Anh vào tháng 9 sau hơn hai năm vắng mặt.[cần dẫn nguồn] Tháng 11, Parker ghi bàn ở phút 116 trước Watford tại Cúp Liên đoàn, rồi tiếp tục ghi bàn trong loạt sút luân lưu để giúp Newcastle đi tiếp.[28] Ông ghi bàn thứ tư trong mùa giải 2006–07 trước Tottenham Hotspur vào tháng 12 năm 2006.[29]

Scott Parker được Sky Sports và Opta Index đánh giá là cầu thủ xuất sắc thứ hai tại Anh trong tháng 12 năm 2006.[cần dẫn nguồn][30] Ông dẫn dắt Newcastle trên hành trình vô địch UEFA Intertoto Cup và được trao bảng danh hiệu Intertoto Cup vào tháng 3 năm 2007 trước trận lượt đi Cúp UEFA với AZ.[31]

West Ham United

Tập tin:ScottParkerWestHamUnited2011.jpg
Parker thi đấu cho West Ham United năm 2011

Tháng 6 năm 2007, West Ham United chiêu mộ Scott Parker với mức phí 7 triệu bảng Anh.[32] Do chấn thương, ông chỉ ra mắt đội một vào ngày 26 tháng 9 năm 2007 trong chiến thắng 1–0 trước Plymouth Argyle tại League Cup.[33] Trận ra mắt trọn vẹn của ông tại Premier League diễn ra vào ngày 29 tháng 9 năm 2007 trong thất bại 0–1 trên sân nhà trước Arsenal, trận đấu mà Parker dính thêm một chấn thương và bị thay bởi Hayden Mullins sau hiệp một.[34] Parker ghi bàn đầu tiên cho West Ham, bàn thắng quyết định ở phút cuối trong chiến thắng 2–1 trên sân của Middlesbrough vào ngày 22 tháng 12 năm 2007.[35]

Trong mùa giải 2008–09, Parker đóng vai trò quan trọng trong mùa giải của West Ham và ngày 24 tháng 5 năm 2009 được cổ động viên câu lạc bộ bầu chọn là Hammer of the Year.[36] Ông trở thành cầu thủ đầu tiên kể từ Julian Dicks năm 1997 bảo vệ được danh hiệu này sau khi tiếp tục giành giải vào ngày 4 tháng 5 năm 2010.[37]

Ông một lần nữa là một trong những cầu thủ chủ chốt của West Ham trong mùa giải 2009–10, ghi bàn thắng quyết định trong chiến thắng quan trọng 3–2 trước Wigan Athletic, qua đó bảo đảm thêm một mùa giải thi đấu tại Premier League cho West Ham.[38]

Tháng 7 năm 2010, chủ tịch West Ham David Sullivan tuyên bố Parker không phải để bán cho bất kỳ câu lạc bộ nào với bất cứ giá nào. Tuyên bố này được đưa ra sau một lời đề nghị từ Tottenham Hotspur[39] và sự quan tâm công khai từ Aston Villa.[40] Tháng 9 năm 2010, Parker ký hợp đồng mới có thời hạn năm năm với West Ham, đồng thời trở thành cầu thủ được trả lương cao nhất trong lịch sử câu lạc bộ.[41]

Parker ghi ba bàn trong sáu lần ra sân đầu tiên ở mùa giải 2010–11. Các bàn thắng của ông đến trong những trận gặp Oxford United,[42] Chelsea,[43]Stoke City.[44] Ông được đánh giá rộng rãi[45][46] là một trong những tiền vệ người Anh ổn định nhất trong vài năm trước đó. Cổ động viên Anh và Avram Grant[45][47] đều kêu gọi đưa tiền vệ này vào đội hình tuyển Anh và cho ông ra sân thường xuyên.

Ngày 12 tháng 2, Carlton Cole ca ngợi bài nói chuyện "truyền cảm hứng" của Scott Parker trong giờ nghỉ giữa trận, sau khi West Ham bị dẫn 0–3 nhưng sau đó giành trận hòa 3–3 trước West Bromwich Albion. Cole được dẫn lời rằng về bài nói chuyện đó: "Nếu có mặt ở đó, bạn hẳn đã rơi nước mắt".[48] Parker được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất tháng Premier League tháng 2 năm 2011 sau các màn trình diễn trong những chiến thắng 3–1 của West Ham trước BlackpoolLiverpool.[49] Sau các màn trình diễn cho West Ham bất chấp việc đội xuống hạng, cùng với việc được gọi trở lại đội tuyển Anh, Parker lọt vào danh sách sáu ứng viên rút gọn cho giải PFA Players' Player of the Year danh giá. Ông không giành được giải PFA nhưng được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FWA.[50]

Parker đá chính bốn trận đầu tiên của West Ham United ở Championship mùa giải 2011–12 và ghi bàn đầu tiên trong mùa giải, đồng thời là bàn thắng thứ mười của ông cho câu lạc bộ tại giải vô địch quốc gia, trước Watford vào ngày 16 tháng 8 năm 2011.[51]

Giữa những đồn đoán rằng Tottenham Hotspur sẽ ký hợp đồng với Parker, ông gửi cho đồng sở hữu West Ham David Gold một yêu cầu chuyển nhượng viết tay, trong đó nói: "Tôi đã có bốn năm tuyệt vời tại West Ham United và sẽ không bao giờ quên tất cả sự ủng hộ mà tôi nhận được từ cổ động viên và mọi người gắn bó với câu lạc bộ." "Huấn luyện viên và ban lãnh đạo đã rất cố gắng thuyết phục tôi ở lại, nhưng ở giai đoạn này của sự nghiệp, tôi cần được thi đấu tại Premier League, đặc biệt là khi hiện tôi đang góp mặt trong đội tuyển Anh." "Tôi hi vọng các cổ động viên sẽ hiểu và tôn trọng quyết định của tôi, và tôi chúc câu lạc bộ thành công trong cuộc chiến giành quyền thăng hạng mùa này."[52]

Tottenham Hotspur

Ngày 31 tháng 8 năm 2011, Tottenham và West Ham cùng thông báo thương vụ Parker chuyển đến Spurs, với mức phí được cho là 5,5 triệu bảng Anh.[53] Tottenham cho biết: "Chúng tôi vui mừng thông báo rằng chúng tôi đã đạt được thỏa thuận với West Ham United về việc chuyển nhượng vĩnh viễn Scott Parker."[54][55] Việc Scott Parker thi đấu cho Tottenham Hotspur đồng nghĩa với việc ông là cầu thủ duy nhất đại diện cho các câu lạc bộ ở Bắc, Đông, Nam và Tây London tại Premier League.[56] Ngày 10 tháng 9 năm 2011, Parker ra mắt Spurs và kiến tạo cho một tân binh khác là Emmanuel Adebayor.[57] Ông ra mắt trên sân nhà một tuần sau đó trong chiến thắng 4–0 trước Liverpool.[58] Parker kết thúc bốn trận đầu tiên cho Tottenham với tư cách thành viên đội thắng trận.[59] Ông đeo băng đội trưởng trong chiến thắng 2–1 trên sân của Blackburn vào ngày 23 tháng 10.[60] Parker kết thúc mùa giải đầu tiên tại Tottenham bằng việc được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của đội trong mùa giải 2011–12.[61] Parker dính chấn thương khi làm nhiệm vụ quốc tế trước khi mùa giải 2012–13 bắt đầu và chỉ có lần ra sân đầu tiên trong mùa giải vào ngày 16 tháng 12, khi vào sân thay người ở phút 90.[62]

Nhà báo Mỹ William Saletan dành nhiều lời khen cho kĩ năng phòng ngự của Parker sau khi trực tiếp xem trận gặp QPR tại White Hart Lane. Ông viết: "Parker không ghi bàn hay được tính kiến tạo. Anh để việc đó cho những cầu thủ phía trên."

Thay vào đó, điều Parker làm là giành chiến thắng trong các trận đấu. Anh làm điều đó không phải bằng cách tạo dấu chấm phá cho trận đấu, mà bằng cách kiểm soát nó. Anh bóp nghẹt các đợt tấn công đang hình thành. Anh buộc đối thủ mất bóng. Anh tổ chức việc phân phối bóng từ tuyến sau, khởi phát một đợt tấn công của Spurs sẽ kết thúc ở khoảng cách 60 yard phía trên sân ... Bạn không thể xem trận đấu ở cự li gần mà không chú ý đến Parker.[63]

Fulham

Ngày 19 tháng 8 năm 2013, Parker ký hợp đồng ba năm với Fulham với mức phí không được tiết lộ.[64] Ngày 23 tháng 11 năm 2013, Parker được trao băng đội trưởng trong trận gặp Swansea City khi Brede Hangeland vắng mặt, và ghi bàn đầu tiên cho đội trong thất bại 1–2 tại Craven Cottage.[65] Fulham xuống hạng vào cuối mùa giải.[66] Parker giải nghệ vào tháng 6 năm 2017.[67]

Sự nghiệp quốc tế

Tập tin:Scott Parker ngày 11 tháng 06 năm 2012.jpg
Parker trong màu áo Anh tại UEFA Euro 2012

Parker đại diện cho Anh ở mọi cấp độ từ U-16 đến đội tuyển quốc gia.[5] Ông có chín lần khoác áo đội U-21 Anh.[68]

Trận ra mắt quốc tế của Parker cho đội tuyển Anh diễn ra vào ngày 16 tháng 11 năm 2003, khi ông vào sân ở phút 66 để thay Wayne Rooney trong thất bại 2–3 trước Đan Mạch.[69]

Phong độ của ông giúp ông có tên trong đội hình xuất phát của Anh ở trận vòng loại Giải vô địch châu Âu trên sân của Croatia vào ngày 11 tháng 10 năm 2006. Trong sơ đồ 3–5–2, Parker bị giới hạn ở nhiệm vụ lùi về và bọc lót do trong đội hình có các cầu thủ tấn công như Frank Lampard và Steven Gerrard. Huấn luyện viên đội tuyển Anh Steve McClaren đặc biệt yêu cầu Parker theo sát các cầu thủ chạy cánh và hỗ trợ hai hậu vệ cánh Gary NevilleAshley Cole. Anh thua 0–2 và Parker không ra sân cho đội tuyển Anh thêm bốn năm rưỡi sau đó.[70]

Ngày 11 tháng 5 năm 2010, Parker được công bố có tên trong danh sách sơ bộ 30 cầu thủ của huấn luyện viên Fabio Capello cho Giải vô địch bóng đá thế giới 2010.[71] Tuy nhiên, ông không có tên trong danh sách 23 cầu thủ cuối cùng.[72]

Parker vào sân trong hiệp hai để thay Frank Lampard trong trận giao hữu với Đan Mạch vào ngày 9 tháng 2 năm 2011, qua đó trở thành cầu thủ đầu tiên có bốn lần khoác áo đội tuyển quốc gia đầu tiên khi đang thi đấu cho bốn câu lạc bộ khác nhau.[2] Ngày 26 tháng 3 cùng năm, ông thi đấu tại Sân vận động Thiên niên kỷ trước Wales trong khuôn khổ vòng loại UEFA Euro 2012 và được đánh giá là một trong những cầu thủ hay nhất của Anh trong chiến thắng này, khi chơi ở vị trí tiền vệ phòng ngự trong sơ đồ 4–3–3 mới được Capello áp dụng.[73]

Ngày 12 tháng 11 năm 2011, Parker được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận trong trận giao hữu thắng 1–0 trước UEFA Euro 2008 và nhà vô địch Giải vô địch bóng đá thế giới 2010 Tây Ban Nha.[74] Parker đeo băng đội trưởng đội tuyển Anh vào ngày 29 tháng 2 năm 2012 trong thất bại 2–3 trước Hà Lan tại Wembley.[75]

Sau khi Roy Hodgson được bổ nhiệm làm huấn luyện viên đội tuyển Anh, Parker được chọn vào danh sách sơ bộ của Anh dự UEFA Euro 2012 và tiếp tục có mặt trong đội hình 23 cầu thủ cuối cùng.[76] Ông đá chính cả bốn trận của Anh, giúp đội đứng đầu bảng với các chiến thắng trước Thụy Điển và Ukraina cùng trận hòa trước Pháp, trước khi bị Ý loại ở tứ kết.[77]

Lần khoác áo cuối cùng của ông diễn ra vào tháng 3 năm 2013, trong một trận vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 gặp San Marino, khi ông vào sân thay Frank Lampard.[78]

Phong cách thi đấu

Tập tin:Scott Parker, Fulham FC (15572964801).jpg
Parker khởi động cho Fulham năm 2014

Parker được biết đến là một tiền vệ trung tâm có lối tắc bóng quyết liệt.[79]

Ở cấp độ quốc tế, Parker nằm trong số những cầu thủ Anh đáng chú ý từng bị chỉ trích và phê bình vì lối chơi chăm chỉ nhưng kém thiên về kĩ thuật.[80] Từng bị bỏ qua ở các giải đấu lớn như UEFA Euro 2004 và Giải vô địch bóng đá thế giới 2010, đến năm 2012 Parker là gương mặt thường xuyên trong đội hình, được xếp đá cặp với Steven Gerrard. Dù Anh có chiến dịch Euro 2012 tương đối đáng thất vọng, một số người xem cặp tiền vệ Parker và Gerrard là một trong những điểm tích cực.[81]

Sự nghiệp huấn luyện viên

Fulham

Không lâu sau khi giải nghệ, Parker trở lại Tottenham Hotspur, huấn luyện đội U-18 của câu lạc bộ, đồng thời được công bố là đại sứ câu lạc bộ.[82] Tháng 7 năm 2018, Parker rời Tottenham để trở lại Fulham, đội vừa giành quyền thăng hạng trở lại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, làm huấn luyện viên đội một và tái hợp với cựu huấn luyện viên Slaviša Jokanović.[83] Ông vẫn được giữ lại trong ban huấn luyện sau khi Claudio Ranieri được đưa về thay thế Jokanović bị sa thải vào tháng 11 năm đó.[84]

Ranieri bị sa thải vào ngày 28 tháng 2 năm 2019 sau khi không thể cải thiện kết quả của đội, khiến câu lạc bộ vẫn mắc kẹt trong cuộc chiến trụ hạng.[85] Parker sau đó được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền trong cùng ngày, khi câu lạc bộ đang đứng thứ 19 trên bảng xếp hạng Premier League.[86] Ông lần đầu chỉ đạo đội ba ngày sau đó, trong trận thua 1–2 trước đội khách Chelsea.[87] Fulham xuống Championship sau một chiến dịch trở lại giải vô địch quốc gia đáng thất vọng, với việc xuống hạng được xác nhận sau thất bại nặng nề 1–4 trước Watford khi mùa giải còn năm trận.[88]

Sau khi xuất hiện nhiều đồn đoán về người sẽ thay Ranieri lâu dài sau khi đội xuống hạng, chủ tịch Shahid Khan bổ nhiệm Parker làm huấn luyện viên chính thức theo hợp đồng hai năm.[89] Parker giữ lại được phần lớn cầu thủ dù đội xuống hạng, với tiền đạo ngôi sao Aleksandar Mitrović ký hợp đồng mới trong mùa hè.[90] Trong mùa giải đầu tiên dẫn dắt, đại dịch COVID-19 khiến toàn bộ thể thao Anh bị đình chỉ từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2020; Fulham cuối cùng kết thúc mùa giải ở vị trí thứ tư, lỡ suất thăng hạng trực tiếp với cách biệt hai điểm, qua đó giành quyền dự vòng play-off thăng hạng. Sau khi đánh bại Cardiff City qua hai lượt trận ở bán kết, họ thắng Brentford trong trận chung kết play-off để trở lại Premier League ngay trong lần thử đầu tiên.[91]

Tuy nhiên, Fulham trở lại Premier League không thuận lợi: họ thua bốn trận đầu và không thắng cho đến tháng 11, khi đánh bại đối thủ cạnh tranh trụ hạng West Bromwich Albion 2–0 tại Craven Cottage.[92] Gần cuối mùa giải 2020–21, Parker được cho là bất ngờ trở thành ứng viên cho vị trí huấn luyện viên còn trống tại Tottenham Hotspur sau khi José Mourinho bị sa thải, nhưng ông vẫn ở lại câu lạc bộ.[93] Đội bóng của Parker một lần nữa xuống Championship vào tháng 5 năm 2021 sau thất bại trước Burnley, đội xếp trên họ trên bảng xếp hạng Premier League.[94] Sau khi xuống hạng, Parker nói rằng Fulham phải cố gắng phá vỡ vòng lặp xuống hạng và thăng hạng, đồng thời ổn định vị trí ở hạng đấu cao nhất.[95] Ngày 28 tháng 6, câu lạc bộ thông báo Parker rời đi theo thỏa thuận chung.[96]

Bournemouth

Cùng ngày việc rời Fulham được hoàn tất, Parker được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của Bournemouth, thay thế Jonathan Woodgate theo hợp đồng ba năm.[97] Sau khi giúp câu lạc bộ giành 13 trong tổng số 15 điểm tối đa, Parker nhận giải Huấn luyện viên xuất sắc nhất tháng của giải cho tháng 9 năm 2021.[98] Parker lại giành giải này vào tháng 10 sau khi dẫn dắt Bournemouth thắng cả năm trận, chỉ để thủng lưới một bàn trong giai đoạn đó.[99] Parker đưa Bournemouth thăng hạng trở lại Premier League sau hai năm vắng mặt ngay trong mùa giải đầu tiên làm huấn luyện viên. Đội kết thúc ở vị trí á quân sau Fulham, bảo đảm vị trí thứ hai vào ngày 3 tháng 5, khi mùa giải còn một trận, bằng chiến thắng 1–0 trước đội xếp thứ tư Nottingham Forest.[100]

Bournemouth thắng trận đầu tiên khi trở lại hạng đấu cao nhất, đánh bại Aston Villa 2–0 trên sân nhà vào ngày 6 tháng 8. Sau chiến thắng đó, đội thua ba trận tiếp theo với tổng tỉ số 0–16, gồm thất bại 0–4 trước Manchester City, 0–3 trước Arsenal, trước khi thua 0–9 trên sân Liverpool vào ngày 27 tháng 8, đồng kỉ lục cách biệt lớn nhất trong lịch sử Premier League.[101] Sau trận gặp Liverpool, Parker bày tỏ sự thất vọng với chính sách chuyển nhượng của câu lạc bộ, nói rằng đội hiện "chưa được trang bị đủ" cho Premier League.[102] Ba ngày sau trận đấu với Liverpool, Bournemouth thông báo chia tay Parker. Gary O'Neil kế nhiệm Parker.[103]

Club Brugge

Ngày 31 tháng 12 năm 2022, Parker được bổ nhiệm làm huấn luyện viên của nhà vô địch Bỉ Club Brugge, kế nhiệm Carl Hoefkens tại một đội bóng đang đứng thứ tư và kém ngôi đầu 12 điểm.[104][105] Trận đầu tiên của ông vào ngày 8 tháng 1 là thất bại 1–3 trên sân của đội đầu bảng Genk tại Pro League.[106] Parker tiếp quản một đội bóng đã vào vòng 16 đội của UEFA Champions League, nơi đội của ông thua Benfica với tổng tỉ số 1–7. Ngày 8 tháng 3, một ngày sau thất bại 1–5 ở lượt về tại Estádio da Luz, và sau khi chỉ thắng hai trong tổng số 12 trận khiến đội kém ngôi đầu 21 điểm, ông bị sa thải; Ronny Deila là người kế nhiệm.[107]

Burnley

Ngày 5 tháng 7 năm 2024, Burnley xác nhận bổ nhiệm Parker làm huấn luyện viên trưởng theo hợp đồng ba năm. Ông thay thế Vincent Kompany, người đã rời đi để đến Bayern Munich.[108] Ngày 21 tháng 4 năm 2025, Parker đưa Burnley giành quyền thi đấu tại Premier League sau chiến thắng 2–1 trước Sheffield United tại Turf Moor.[109] Trong cuộc phỏng vấn sau trận, Parker ghi nhận công lao của tập thể cầu thủ, câu lạc bộ và cổ động viên, đồng thời chia sẻ góc nhìn tổng thể về cuộc sống.[110] Ông được vinh danh là Huấn luyện viên xuất sắc nhất tháng Championship của tháng 4 năm 2025 sau khi giành 16 điểm trong sáu trận.[111]

Đời tư

Parker gặp Carly Arter khi ông 16 tuổi,[112] và họ kết hôn khi ông 20 tuổi.[113] Hai người có bốn con trai.[114]

Parker là anh em rể của cầu thủ bóng đá Harry Arter, người từng được ông dẫn dắt tại Fulham.[112][115]

Thống kê sự nghiệp

Câu lạc bộ

Số lần ra sân và bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Giải vô địch Cúp FA Cúp Liên đoàn Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Charlton Athletic 1997–98[116] First Division 3 0 1 0 0 0 0 0 4 0
1998–99[117] Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 4 0 1 0 1 0 6 0
1999–2000[118] First Division 15 1 1 0 2 0 18 1
2000–01[119] Premier League 20 1 3 0 2 0 25 1
2001–02[120] Premier League 38 1 0 0 3 0 41 1
2002–03[121] Premier League 28 4 1 0 0 0 29 4
2003–04[122] Premier League 20 2 0 0 2 1 22 3
Tổng cộng 128 9 7 0 10 1 0 0 145 10
Norwich City (mượn) 2000–01[119] First Division 6 1 6 1
Chelsea 2003–04[122] Premier League 11 1 1 0 5[a] 0 17 1
2004–05[123] Premier League 4 0 0 0 3 0 4[a] 0 11 0
Tổng cộng 15 1 1 0 3 0 9 0 28 1
Newcastle United 2005–06[124] Premier League 26 1 3 1 2 0 1[b] 0 32 2
2006–07[125] Premier League 29 3 0 0 2 1 10[c] 0 41 4
Tổng cộng 55 4 3 1 4 1 11 0 73 6
West Ham United 2007–08[126] Premier League 18 1 0 0 2 0 20 1
2008–09[127] Premier League 28 1 3 0 1 0 32 1
2009–10[128] Premier League 31 2 0 0 2 0 33 2
2010–11[129] Premier League 32 5 3 0 5 2 40 7
2011–12[130] Championship 4 1 0 0 4 1
Tổng cộng 113 10 6 0 10 2 129 12
Tottenham Hotspur 2011–12[130] Premier League 29 0 5 0 0 0 0 0 34 0
2012–13[131] Premier League 21 0 2 0 0 0 6[d] 0 29 0
Tổng cộng 50 0 7 0 0 0 6 0 63 0
Fulham 2013–14[132] Premier League 29 2 1 0 2 0 32 2
2014–15[133] Championship 37 3 2 0 2 0 41 3
2015–16[134] Championship 24 1 0 0 0 0 24 1
2016–17[135] Championship 29 0 1 0 1 0 0 0 31 0
Tổng cộng 119 6 4 0 5 0 0 0 128 6
Tổng cộng sự nghiệp 486 31 28 1 32 4 26 0 572 36
  1. ^ a b Lần ra sân ở UEFA Champions League
  2. ^ Lần ra sân ở UEFA Intertoto Cup
  3. ^ Two lần ra sân ở UEFA Intertoto Cup, eight lần ra sân ở Cúp UEFA
  4. ^ Lần ra sân ở UEFA Europa League

Quốc tế

Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm[136]
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Anh 2003 1 0
2004 1 0
2006 1 0
2011 7 0
2012 7 0
2013 1 0
Tổng cộng 18 0

Thống kê huấn luyện

Tính đến trận đấu diễn ra vào ngày 22 tháng 4 năm 2026
Thành tích huấn luyện theo đội bóng và nhiệm kỳ
Đội bóng Từ Đến Thành tích Tham khảo
St T H B % Thắng
Fulham 28 tháng 2 năm 2019 28 tháng 6 năm 2021 &0000000000000105000000105 &000000000000003700000037 &000000000000002500000025 &000000000000004300000043 0&000000000000003520000035,2 [137]
Bournemouth 28 tháng 6 năm 2021 30 tháng 8 năm 2022 &000000000000005500000055 &000000000000002800000028 &000000000000001400000014 &000000000000001300000013 0&000000000000005089999950,9 [137]
Club Brugge 31 tháng 12 năm 2022 8 tháng 3 năm 2023 &000000000000001200000012 &00000000000000020000002 &00000000000000060000006 &00000000000000040000004 0&000000000000001669999916,7 [137]
Burnley 5 tháng 7 năm 2024 Hiện tại &000000000000008800000088 &000000000000003600000036 &000000000000002400000024 &000000000000002800000028 0&000000000000004089999940,9 [137]
Tổng cộng &0000000000000260000000260 &0000000000000103000000103 &000000000000006900000069 &000000000000008800000088 0&000000000000003960000039,6

Danh hiệu

Cầu thủ

Charlton Athletic

Newcastle United

Cá nhân

Huấn luyện viên

Fulham

Bournemouth

Burnley

Cá nhân

Tham khảo

  1. ^ "Scott Parker: Profile". worldfootball.net. HEIM:SPIEL. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2020.
  2. ^ a b Wallace, Sam (ngày 10 tháng 2 năm 2011). "Bent and Young deliver polished auditions for roles in England future". The Independent. London. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  3. ^ "Premier League clubs submit squad lists" (PDF). Premier League. ngày 4 tháng 2 năm 2014. tr. 14. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2016.
  4. ^ "Scott Parker". 11v11.com. AFS Enterprises. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2020.
  5. ^ a b c d e "Scott Parker factfile". West Ham United F.C. ngày 6 tháng 6 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2009.
  6. ^ "Scott Parker Biography". Flown From The Nest. ngày 6 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2007. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  7. ^ Jackson, Jamie (ngày 4 tháng 12 năm 2010). "Scott Parker is key to guiding West Ham away from the relegation zone". The Guardian. London. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  8. ^ "Sheff Wed 3–2 Norwich". BBC Sport. ngày 11 tháng 11 năm 2000. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  9. ^ "Kinsella joins Villa" (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2025. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  10. ^ UEFA.com (ngày 23 tháng 8 năm 2002). "Kinsella waves Charlton goodbye". UEFA.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2025.
  11. ^ "Scott Parker's wasted potential is a sorry tale of one poor career choice" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2025.
  12. ^ "Parker joins Chelsea". BBC Sport. ngày 30 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  13. ^ "Curbishley hits out at Parker". BBC Sport. ngày 29 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2007. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  14. ^ "Scott Parker - a career in pictures". www.telegraph.co.uk. ngày 22 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2025.
  15. ^ "Portsmouth 0–2 Chelsea". BBC Sport. ngày 11 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  16. ^ "Player's Player Awards: Young Player of the Year 1974–2007". Professional Footballers' Association. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2007. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  17. ^ "Chelsea 1–0 West Ham". BBC Sport. 27 tháng 10 năm 2004.
  18. ^ "Newcastle 0–2 Chelsea". BBC Sport. 10 tháng 11 năm 2004.
  19. ^ "Fulham 1–2 Chelsea". BBC Sport. 30 tháng 11 năm 2004.
  20. ^ "Parker blames injury on new pitch". BBC Sport. ngày 22 tháng 12 năm 2004. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  21. ^ "Newcastle seal £6.5m Parker deal". BBC Sport. 15 tháng 6 năm 2005. Retrieved 6 tháng 6 năm 2007.
  22. ^ "Charlton 3–1 Newcastle". BBC Sport. ngày 26 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2009. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  23. ^ "Fever brings end to Parker season". BBC Sport. ngày 31 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  24. ^ Staff (ngày 30 tháng 3 năm 2006). "Fever could force Parker out until August". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2025. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  25. ^ "Parker named as Newcastle captain". BBC Sport, 14 tháng 7 năm 2006. Retrieved 6 tháng 6 năm 2007.
  26. ^ Chowdhury, Saj (ngày 19 tháng 8 năm 2006). "Newcastle 2–1 Wigan". BBC Sport. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  27. ^ Sinnott, John (ngày 9 tháng 9 năm 2006). "Newcastle 1–2 Fulham". BBC Sport. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  28. ^ "Watford 2–2 Newcastle (aet)". BBC Sport. ngày 7 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  29. ^ Fletcher, Paul (ngày 23 tháng 12 năm 2006). "Newcastle 3–1 Tottenham". BBC Sport. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  30. ^ Bailey, Graeme. "Opta Player of the Month". Sky Sports.
  31. ^ Ryder, Lee (ngày 28 tháng 6 năm 2017). "The last man to lift a European 'trophy' for Newcastle United retires". Evening Chronicle. Newcastle upon Tyne. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  32. ^ "West Ham sign Parker in £7m deal". BBC Sport. ngày 6 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2008. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  33. ^ Dean Ashton applies killer touch for West Ham The Telegraph, 27 tháng 9 năm 2007
  34. ^ West Ham 0–1 Arsenal BBC Sport, 29 tháng 9 năm 2007
  35. ^ Shea, Julian (ngày 22 tháng 12 năm 2007). "Middlesbrough 1–2 West Ham". BBC Sport. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  36. ^ Parker named Hammer of the Year Lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2012 tại Wayback Machine West Ham United F.C. 24 tháng 5 năm 2009.
  37. ^ "Peerless Parker". West Ham United F.C. ngày 4 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2010.
  38. ^ Bevan, Chris (ngày 24 tháng 4 năm 2010). "West Ham 3–2 Wigan". BBC Sport. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  39. ^ "David Sullivan rejects Tottenham offer for West Ham's Scott Parker". The Guardian. Location. Press Association. ngày 28 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  40. ^ "David Sullivan tells Aston Villa to forget about a move for Scott Parker". London Evening Standard. ngày 21 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  41. ^ "Scott Parker signs new West Ham United deal". ESPN. ngày 9 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010.
  42. ^ "West Ham 1–0 Oxford Utd". BBC Sport. ngày 24 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  43. ^ "West Ham 1–3 Chelsea". BBC Sport. ngày 11 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  44. ^ "Stoke 1–1 West Ham". BBC Sport. ngày 18 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  45. ^ a b Jackson, Jamie (ngày 4 tháng 12 năm 2010). "Scott Parker is key to guiding West Ham away from the relegation zone". The Guardian. London. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  46. ^ Wilson, Jeremy (ngày 15 tháng 11 năm 2010). "West Ham find hope in character of Scott Parker and Mark Noble despite being held by Blackpool". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2022. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  47. ^ "Manager on Monday". West Ham United F.C. ngày 15 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  48. ^ "Cole hails 'inspirational' Scott Parker team-talk". BBC Sport. ngày 12 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  49. ^ "Wenger & Parker win Premier League awards for February". BBC Sport. ngày 4 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  50. ^ a b "West Ham's Scott Parker wins Football Writers' award". BBC Sport. ngày 23 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  51. ^ "Hornets suffer heavy Hammers defeat". Watford Observer. ngày 16 tháng 8 năm 2011.
  52. ^ "Scott Parker on verge of joining Spurs after handing in transfer request". Metro. ngày 30 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  53. ^ Hytner, David (ngày 31 tháng 8 năm 2011). "Scott Parker completes £5.5m switch to Tottenham from West Ham". The Guardian. London. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  54. ^ "Scott Parker completes Tottenham move". BBC Sport. ngày 31 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  55. ^ "Parker completes move". Tottenham Hotspur F.C. ngày 31 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  56. ^ " BBC Sport – Scott Parker completes Tottenham move.
  57. ^ "Wolverhampton 0–2 Tottenham". BBC Sport. ngày 10 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  58. ^ "Tottenham 4–0 Liverpool". BBC Sport. ngày 18 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  59. ^ "Scott Parker - Football Stats - No Club - Season 2011/2012 - 1996-2017". Soccer Base. ngày 13 tháng 10 năm 1980. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2023.
  60. ^ "Blackburn Rovers 1-2 Tottenham". RTE. ngày 23 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2022.
  61. ^ "Tottenham Hotspur Player of the Year Award Winners". www.myfootballfacts.com. ngày 25 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2023.
  62. ^ Kelly, Ciaran (ngày 19 tháng 12 năm 2012). "Far from making up the numbers: The return of Scott Parker".
  63. ^ Saletan, William (ngày 3 tháng 11 năm 2011). "Guts, No Glory". Slate. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  64. ^ "Scott Parker signs". Fulham F.C. ngày 19 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2013. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  65. ^ "Fulham 1–2 Swansea". BBC Sport. ngày 23 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2014. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  66. ^ "Fulham's relegation and the curse of Michael Jackson's statue". BBC News. ngày 7 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  67. ^ "Scott Parker: Fulham and former England midfielder retires from football". BBC Sport. ngày 28 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  68. ^ "England Scott Parker". The Football Association. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  69. ^ "Scott Parker". The Football Association. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  70. ^ McNulty, Phil (ngày 11 tháng 10 năm 2006). "Croatia 2–0 England". BBC Sport. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2014. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  71. ^ "Fabio Capello makes surprise England World Cup choices". BBC Sport. ngày 11 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  72. ^ David Hynter and Dominic Filfield (ngày 1 tháng 6 năm 2010). "Theo Walcott left out of final England World Cup squad for South Africa". The Guardian. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2022.
  73. ^ Winter, Henry (ngày 26 tháng 3 năm 2011). "Wales v England: The Impressive Scott Parker showed in Cardiff he is central to Fabio Capello's fresh start". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  74. ^ Stone, Simon (ngày 12 tháng 11 năm 2011). "Parker leads England to first Spain victory at Wembley since 1968". The Independent. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  75. ^ "England 2–3 Netherlands". BBC Sport. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  76. ^ "England confirm final Euro squad". BBC Sport.
  77. ^ "England at Euro 2012 in numbers". BBC Sport.
  78. ^ "World Cup Euro Qual (Sky Sports)". Sky Sports.
  79. ^ "Scott Parker – a career in pictures". The Daily Telegraph. London. ngày 22 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2011. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  80. ^ "Scott Parker shows qualities that earned him England captain's armband against Holland". The Daily Telegraph. London. ngày 1 tháng 3 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2022. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  81. ^ Hayward, Paul (ngày 12 tháng 6 năm 2012). "Euro 2012: England midfielders Steven Gerrard and Scott Parker prove their strength under pressure". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2022. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  82. ^ "Scott Parker Returns". Tottenham Hotspur F.C. ngày 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2017.
  83. ^ "Parker Appointed". Fulham F.C. ngày 4 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.
  84. ^ "Fulham sack Slavisa Jokanovic and appoint Claudio Ranieri". BBC Sport. ngày 14 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  85. ^ "Claudio Ranieri: Fulham sack manager with club 19th in Premier League". BBC Sport. ngày 28 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  86. ^ "Parker appointed caretaker manager". Fulham F.C. ngày 28 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019.
  87. ^ "Fulham v Chelsea, 2018/19". Giải bóng đá Ngoại hạng Anh. ngày 4 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2021.
  88. ^ "Watford 4–1 Fulham: Cottagers relegated from Premier League with five games still to play". BBC Sport. ngày 2 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2021.
  89. ^ "Scott Parker: Fulham appoint ex-captain as permanent manager". BBC Sport. ngày 10 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2019. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  90. ^ "Aleksandar Mitrovic: Fulham striker agrees new five-year contract at club". BBC Sport. ngày 7 tháng 7 năm 2019.
  91. ^ "Fulham promoted to Premier League: Scott Parker says club will 'learn lessons' from 2018–19". BBC Sport. ngày 5 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2020.
  92. ^ "Fulham v West Brom, 2020/21". Giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2021.
  93. ^ "Scott Parker emerges as shock favourite for Tottenham job". Chronicle Live. ngày 6 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2021.
  94. ^ "Fulham v Burnley, 2020/21". Premier League. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2021.
  95. ^ "Can Fulham immediately bounce back again?". BBC Sport.
  96. ^ "Scott Parker: Fulham head coach departs club after relegation to Championship". Sky Sports.
  97. ^ "Parker unveiled as Head Coach". AFC Bournemouth. ngày 28 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2021.
  98. ^ a b "Sky Bet EFL September Manager of the Month winners". www.efl.com. ngày 8 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2021.
  99. ^ a b "PARKER RECEIVES SECOND SUCCESSIVE MANAGER OF THE MONTH AWARD". www.afcb.co.uk. ngày 12 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2021.
  100. ^ a b "Bournemouth beat Forest to seal promotion". BBC Sport. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  101. ^ "Liverpool hit nine past Cherries to equal record". BBC Sport. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2022. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  102. ^ "Jurgen Klopp hails Liverpool's perfect, record-equalling demolition of Bournemouth". Sky Sports.
  103. ^ "Bournemouth sack head coach Scott Parker after just four Premier League games". ngày 30 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2023.
  104. ^ "Scott Parker appointed Club Brugge manager for first job outside England". Yahoo! Sports. ngày 31 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2022.
  105. ^ "Scott Parker Club Brugge's new head coach". club (bằng tiếng Anh). ngày 2 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2023.
  106. ^ Gleeson, Mark (ngày 8 tháng 1 năm 2023). "Soccer-Parker loses first game in charge of Belgium's Club Brugge". Reuters. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2023. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  107. ^ "Scott Parker sacked by Club Bruges after Champions League exit". BBC Sport. ngày 8 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2023. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  108. ^ Hafeez, Shamoon (ngày 5 tháng 7 năm 2024). "Burnley appoint Parker as new head coach". BBC Sport. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2024. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  109. ^ Brennan, Stuart (ngày 21 tháng 4 năm 2025). "Burnley 2–1 Sheffield United". BBC Sport.
  110. ^ "How will Leeds United and Burnley fare back in Premier League?". BBC Sport. ngày 22 tháng 4 năm 2025.
  111. ^ a b "Sky Bet Championship: Manager and Player of the Month April Winners". www.efl.com. ngày 9 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2025.
  112. ^ a b "Harry Arter on how Scott Parker's advice helped him make it to the top". Sky Sports.
  113. ^ Burton, Andy (ngày 6 tháng 8 năm 2019). "Harry Arter on how Scott Parker's advice helped him make it to the top". Sky Sports. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2023. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  114. ^ "AFC Bournemouth: Harry Arter ready for Scott Parker battle". BBC Sport. ngày 23 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  115. ^ "Harry Arter joins brother-in-law Scott Parker at Fulham". FourFourTwo. ngày 6 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2023. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  116. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 1997/1998". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  117. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 1998/1999". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  118. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 1999/2000". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  119. ^ a b "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2000/2001". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  120. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2001/2002". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  121. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2002/2003". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  122. ^ a b "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2003/2004". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  123. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2004/2005". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  124. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2005/2006". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  125. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2006/2007". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  126. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2007/2008". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  127. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2008/2009". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  128. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2009/2010". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  129. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2010/2011". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  130. ^ a b "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2011/2012". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  131. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2012/2013". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  132. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2013/2014". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  133. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2014/2015". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  134. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2015/2016". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016.
  135. ^ "Trận thi đấu của Scott Parker trong 2016/2017". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2017.
  136. ^ "Scott Parker: Internationals". worldfootball.net. HEIM:SPIEL. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2024.
  137. ^ a b c d "Huấn luyện viên: Scott Parker". Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2026.
  138. ^ Rollin, Glenda; Rollin, Jack, biên tập (2000). Rothmans Football Yearbook 2000–2001. London: Headline Publishing Group. tr. 32, 120–121. ISBN 978-0-7472-7232-8.
  139. ^ "Newcastle 1–1 Lillestrom". BBC Sport. ngày 15 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2019. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
    "L'strom 0–3 Newcastle (agg 1–4)". BBC Sport. ngày 22 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2019. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
    "Newcastle to lift Intertoto Cup". BBC Sport. ngày 16 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2019. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  140. ^ a b "Charlton players of the year". Charlton Athletic F.C. ngày 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
  141. ^ "Henry retains PFA crown". BBC Sport. ngày 25 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  142. ^ "Records and honours: Awards". West Ham United F.C. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
  143. ^ "Scott Parker: Overview". Premier League. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017.
  144. ^ "Scott Parker named England Player of the Year by fans". BBC Sport. ngày 28 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  145. ^ "Spurs defender Kyle Walker wins PFA Young Player award". BBC Sport. ngày 22 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2017. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  146. ^ Stevens, Rob (ngày 4 tháng 8 năm 2020). "Brentford 1–2 Fulham". BBC Sport. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2020. {{Chú thích báo}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  147. ^ "Burnley 3–1 Millwall: Burnley beat Millwall but miss out on title". ngày 3 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2025.
  148. ^ "Scott Parker, Chris Davies and Graham Alexandar take home Manager of the Season award". EFL. ngày 27 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2025.

Liên kết ngoài

  • Profile tại website Burnley F.C.
  • Scott Parker – Thành tích thi đấu tại UEFALỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).