Bước tới nội dung

Thoại Đầu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Thoại Đầu, Hua Tou (tiếng Trung: 話頭; giản thể: 话头; phồn thể: 話頭; bính âm: huà tóu; Hàn: hwadu; Nhật: watō) là một phần của phương pháp thiền định gọi là Công phu (工夫, không nên nhầm với công phu 功夫 trong võ thuật), phổ biến trong giáo pháp của Thiền tông Trung Hoa (Chan), Thiền tông Hàn Quốc (Seon) và Thiền Lâm Tế Nhật Bản (Rinzai Zen). Hua Tou có thể được dịch là "đầu lời", "đầu câu nói" hoặc "điểm vượt ngoài nơi ngôn ngữ chấm dứt".[1] Một Hua Tou có thể là một cụm từ ngắn được dùng làm đề mục thiền định nhằm tập trung tâm ý.

Nguồn gốc

Hua Tou được hình thành dựa trên các cơ duyên vấn đáp và công án ghi lại những cuộc đối thoại giữa các bậc thiền sư và đệ tử trong quá khứ, nhưng chỉ sử dụng những cụm từ ngắn gọn hơn công án.[2] Phương pháp Hua Tou được sáng lập[2] bởi Thiền sư Trung Hoa Đại Huệ Tông Cảo (1089–1163), một thành viên của tông Lâm Tế.[3] Đại Huệ đặc biệt quan tâm đến việc giáo hóa hàng cư sĩ, nhất là tầng lớp sĩ đại phu có học thức. Sự ủng hộ của giới văn nhân sĩ đại phu này có ý nghĩa thiết yếu đối với sự tồn tại của các dòng truyền thừa, bởi việc bổ nhiệm trụ trì các thiền viện công đều do giai tầng thống trị ấy quyết định.[2] Việc cung cấp những phương pháp tu tập dễ tiếp cận cho cư sĩ là một cách để thu hút sự hậu thuẫn cần thiết đó.[2] Pháp tu Hua Tou không sử dụng các buổi tham vấn chính thức và hình thức hỏi đáp thường xuyên giữa thầy và trò (dokusan).[4] Theo Đại Huệ, Hua Tou cũng là một pháp thiền có thể "được thực hành bởi cư sĩ ngay giữa các sinh hoạt hằng ngày của họ."[5]

Đại Huệ cũng phản đối khuynh hướng thiên về tri thức và bình giải văn chương đang dần thâm nhập vào việc tham cứu công án thông qua tác phẩm Bích Nham Lục (Blue Cliff Record) của thầy mình là Viên Ngộ Khắc Cần. Thực tế, Đại Huệ đã đốt bản Bích Nham Lục mà mình sở hữu.

Pháp tu Hua Tou được Thiền sư Trí Nột (Chinul) chính thức truyền bá tại Hàn Quốc. Ngài đã rất thành công trong việc phổ biến phương pháp Hua Tou. Theo Robert Buswell:[6]

Hwadu là phương pháp chủ đạo được tu tập trong các thiền đường [Hàn Quốc], và hầu như tất cả các thiền sư đều khuyến khích học trò ở mọi trình độ thực hành phương pháp này.

Theo Bhikkhu Analayo, một pháp tu tương tự cũng được tìm thấy trong các bản chú giải Pāli liên quan đến việc chánh niệm về các oai nghi của thân. Analayo viết rằng, theo Papañcasūdanī, "điểm khác biệt giữa việc đi bộ thông thường và thiền hành như một pháp quán niệm theo Tứ Niệm Xứ là hành giả luôn giữ trong tâm câu hỏi: 'Ai đang đi? Sự đi này là của ai?'" (Ps I 251).

Tu tập

Đại Huệ nhấn mạnh rằng sự kiến tánh ban đầu là điều thiết yếu đối với việc tu tập Thiền.[7] Ngài cũng khẳng định rằng ngay cả hàng cư sĩ cũng có thể đạt đến giác ngộ thông qua pháp tu này. Đại Huệ thường truyền dạy và hướng dẫn đệ tử của mình bằng thư từ.

Trí Nột mô tả Hwadu (Hua Tou) trong trước tác Pháp tập biệt hạnh lục tiết yếu tư ký (tiếng HànLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; HanjaLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Hán-Việt: Pháp tập biệt hạnh tiết yếu tư ký giải) như một pháp tu đưa hành giả đến giới hạn tận cùng của ngôn ngữ và đóng vai trò như một phương tiện thanh lọc tâm thức.[6] Vì pháp tu này đưa người thực hành vượt khỏi sự hiểu biết mang tính khái niệm, Trí Nột cho rằng đây là một pháp môn cao cấp, thích hợp với những người có căn cơ đặc biệt hoặc những người đã đạt được một mức độ tiến bộ nhất định qua các pháp tu khác.

Để thực hành Hua Tou, hành giả tập trung vào câu thoại đầu, ban đầu âm thầm lặp lại câu ấy với một tâm thái nghi vấn và cởi mở, rồi tiếp tục quán chiếu xem "Ai" hoặc "Cái gì" đang khởi lên thoại đầu ấy; từ đó phát sinh Đại Nghi (Great Doubt).[8] Pháp tu Hua Tou có thể được thực hành trong lúc thiền tọa, sau khi tâm đã được an tĩnh nhờ một giai đoạn đầu thực hành quán niệm hơi thở.[9]

Hsu Yun (Hư Vân) nói về việc tu tập Thoại Đầu:

Điều quan trọng là phải luôn giữ thoại đầu trong tâm, bất kể khi đi, đứng, nằm hay ngồi. Từ sáng đến tối, hãy quán chiếu thoại đầu một cách rõ ràng và sống động, cho đến khi nó hiện rõ trong tâm như vầng trăng mùa thu phản chiếu trên mặt nước lặng trong. Nếu thực hành như vậy, bạn có thể tin chắc rằng mình sẽ đạt đến trạng thái giác ngộ.

Trong lúc thiền tọa, nếu cảm thấy buồn ngủ, bạn có thể mở to mắt và giữ lưng thẳng. Khi ấy, bạn sẽ cảm thấy tỉnh táo và minh mẫn hơn trước.

Khi tham cứu thoại đầu, không nên quá căng cũng không nên quá lơi lỏng. Nếu quá căng, tuy có thể cảm thấy rất yên tĩnh và dễ chịu, nhưng lại dễ đánh mất thoại đầu. Hậu quả là bạn sẽ rơi vào trạng thái "không tịch chết cứng" (dead emptiness). Ngay trong trạng thái an tĩnh ấy, nếu không đánh mất thoại đầu, bạn sẽ có thể tiến xa hơn cả đầu cây sào trăm trượng mà mình đã leo lên. Ngược lại, nếu quá lơi lỏng, vô số vọng tưởng sẽ khởi lên quấy nhiễu, khiến bạn khó có thể chế ngự được chúng. Tóm lại, người tu Thiền phải giữ được sự điều hòa thích đáng, không quá căng cũng không quá lỏng; trong sự lỏng phải có sự căng, và trong sự căng phải có sự lỏng.[10]

Theo Thiền sư Sheng Yen, việc thực hành Hua Tou gồm ba giai đoạn: trì niệm thoại đầu, khởi nghi với thoại đầu và tham cứu thoại đầu.[11] Trong suốt ba giai đoạn này, điều quan trọng là không cố gắng dùng suy luận để trả lời thoại đầu, mà phải kiên trì đặt câu hỏi với chánh niệm, bằng sự quan tâm chân thành và khát vọng thực sự muốn biết.[12] Chính nhờ sự thực hành liên tục ấy mà Đại Nghi phát sinh, rồi từ đó dẫn đến sự khai ngộ.

Theo Mario Poceski, mặc dù pháp khán thoại Thiền (kanhua Chan), trong đó hành giả tập trung vào một thoại đầu (huatou), được trình bày như một pháp môn đốn ngộ, nhưng trên thực tế, nó chủ yếu bao gồm một quá trình từng bước hoàn thiện năng lực định tâm. Poceski cũng chỉ ra vai trò của kỹ thuật khán thoại trong việc chuẩn hóa phương pháp tu tập của Thiền tông. Ông cho rằng điều này đã góp phần khiến truyền thống Thiền trở nên khuôn mẫu hóa hơn, đồng thời làm mất đi một phần tính cởi mở và sáng tạo vốn là đặc điểm của Thiền tông thời kỳ đầu.

Ví dụ về Thoại Đầu

Theo Stuart Lachs, có nhiều Hua Tou phổ biến như:

  • "Là cái gì?" (What is it?) – rất phổ biến trong Thiền tông Hàn Quốc (Seon).
  • "Đây là cái gì?" (What is this?).
  • "Ai là người đang niệm danh hiệu Phật?" (Who is repeating the Buddha's name?) – phổ biến trong giới Phật tử Trung Quốc vừa thực hành niệm Phật (nianfo). Thoại đầu này chuyển pháp niệm Phật thành một pháp tu của Thiền tông.
  • "Ai đang kéo lê cái xác này?" (Who is dragging this corpse around?) – được Thiền sư Hư Vân phổ biến rộng rãi và thường được Ngài khuyến nghị như pháp tu khởi đầu; chính Ngài đã được Thiền sư Vĩnh Kính (Yong-jing) thuộc tông Thiên Thai truyền dạy thoại đầu này.
  • "Ta là ai?" (Who am I?).
  • "Trước khi cha mẹ sinh ra, bản lai diện mục của ta là gì?" (What was my Original Face before my father and mother were born?) – xuất phát từ lời dạy của Huineng và cũng là công án thứ 23 trong tập công án nổi tiếng Mumonkan.
  • "Vô là gì?" [note 1] - Câu này được trích từ câu chuyện thiền nổi tiếng "Vô của Joshu" như sau: "Một nhà sư hỏi Triệu Châu : 'Chó có Phật tính hay không?' Joshu trả lời: 'Vô.'."

Ghi chú

  1. ^ Favored by Sheng Yen[9]

Tài liệu tham khảo

  1. ^ Lachs 2012, tr. 2.
  2. ^ a b c d Schlütter 2008.
  3. ^ Lachs 2012, tr. 1.
  4. ^ Lachs 2012, tr. 3.
  5. ^ Lachs2012, tr. 4.
  6. ^ a b Buswell, Robert E. (1991). Tracing Back the Radiance: Chinul's Korean Way of Zen (Classics in East Asian Buddhism). University of Hawaii Press. tr. 68–69. ISBN 0824814274.
  7. ^ Schlütter 2008, tr. 107.
  8. ^ Lachs 2012, tr. 10.
  9. ^ a b Yen 2009.
  10. ^ Yun 1970.
  11. ^ Yen 2009, tr. 13.
  12. ^ Yen 2009, tr. 16.

Nguồn

  • Lachs, Stuart (2012), Hua-t'ou : A Method of Zen Meditation (PDF)
  • Schlütter, Morten (2008), How Zen became Zen. The Dispute over Enlightenment and the Formation of Chan Buddhism in Song-Dynasty China, Honolulu: University of Hawai'i Press, ISBN 978-0-8248-3508-8
  • Yun, Hsu (1970), Practice of Zen, Translated by Garma C. C. Chang, Perennial Library / Harper & Row
  • Yen, Sheng (2009), Shattering the Great Doubt: The Chan Practice of Huatou, Translated by, Dharma Drum publications

Đọc thêm

  • Cleary, JC. Hoa đầm lầy: Thư từ và bài giảng của Thiền sư Ta Hui (1977) Shambhala.
  • Luk, Charles. 'Mây Trống: Tự truyện của một Thiền sư Trung Quốc' (1988) Element.
  • Broughton, Jeffrey. Những bức thư của thiền sư Dahui Pujue.
  • Broughton, Jeffrey. Tuyển tập Thiền Roi: Cẩm nang thực hành Thiền

Liên kết ngoài