Bước tới nội dung

Seongcheol

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Seongcheol
성철
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).
Tôn giáoThiền tông Đại Hàn
Cá nhân
SinhYi Yeongju
(1912-04-06)6 tháng 4, 1912
Triều Tiên thuộc Nhật Bản
Mất4 tháng 11, 1993(1993-11-04) (81 tuổi)
Sự nghiệp tôn giáo

Seongcheol (tiếng HànLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; HanjaLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; RomajaSeongcheol; MRSŏngch'ŏl; Hán-Việt: Tính Triệt; 6 tháng 4 năm 1912 – 4 tháng 11 năm 1993) là một thiền sư Triều Tiên.[1] Ông là một nhân vật then chốt trong Phật giáo Triều Tiên hiện đại, chịu trách nhiệm cho những thay đổi đáng kể đối với tôn giáo này từ những năm 1950 đến những năm 1990.[1]

Seongcheol được công nhận rộng rãi tại Triều Tiên là một vị Phật sống, nhờ vào lối sống khổ hạnh tột bậc của ông, thời gian và phương pháp rèn luyện thiền định, vai trò trung tâm của ông trong việc cải cách Phật giáo Triều Tiên thời kỳ hậu Thế chiến thứ II, cùng chất lượng các bài giảng nói và viết của ông.[1]

Tiểu sử

Thời thơ ấu

Sinh ngày 6 tháng 4 năm 1912 tại Triều Tiên, Đế quốc Nhật Bản với tên khai sinh là Yi Yeongju (이영주, 李英柱, Lý Anh Trụ), Seongcheol là con cả trong gia đình có bảy người con của một học giả Nho giáo. Ông được đồn đại là một đứa trẻ đặc biệt thông minh, đọc sách không ngừng nghỉ, biết đọc từ năm ba tuổi và thành thạo đến mức có thể đọc các tác phẩm kinh điển Trung Quốc như Tam quốc diễn nghĩaTây du ký khi mới mười tuổi. Sự nhiệt tình đọc sách của ông lớn đến mức khi còn ở tuổi thiếu niên, ông đã từng đổi một bao gạo để lấy cuốn Phê phán lý tính thuần túy của Immanuel Kant.[2]

Sau khi đọc vô số sách về triết học và tôn giáo, cả phương Tây lẫn phương Đông, ông được cho là cảm thấy không hài lòng vì tin rằng những cuốn sách này không thể dẫn mình đến chân lý. Một ngày nọ, một nhà sư Thiền tông đã tặng Seongcheol một bản Chứng đạo ca (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), một văn bản Thiền do Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺) viết vào thời nhà Đường. Seongcheol cảm thấy như thể "một luồng sáng chói lọi bỗng nhiên được thắp lên trong bóng tối hoàn toàn" và rằng cuối cùng ông đã tìm ra con đường dẫn đến chân lý tối thượng.[1]

Ngay lập tức, ông bắt đầu thiền định trên công án "Mu" (tiếng Nhật: koan) và bắt đầu phớt lờ tất cả các trách nhiệm ở nhà. Quyết định rằng nhà cha mẹ mình có quá nhiều phiền nhiễu, ông nhanh chóng thu dọn hành lý và đến chùa Daewonsa. Sau khi được phép ở lại chùa, Seongcheol trẻ tuổi bắt đầu thiền định một cách chuyên sâu. Về sau trong cuộc đời, ông nói rằng mình đã đạt được trạng thái Động Tịnh Nhất Như (xem phần Giáo lý bên dưới; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)..) ngay từ giai đoạn đầu đời này chỉ trong bốn mươi hai ngày.[1]

Tin đồn về một người tại gia thiền định một cách mãnh liệt tự nhiên lan đến chùa chính Haeinsa. Theo đề xuất của các Thiền sư nổi tiếng Gim Beomnin và Choe Beomsul, Seongcheol trẻ tuổi đã rời đi đến Haeinsa vào mùa đông năm 1936. Lúc đó, Thiền sư Dongsan là lãnh đạo tinh thần của Haeinsa, và nhận thấy tiềm năng lớn của Seongcheol, ông đã đề nghị anh trở thành một nhà sư. Nhưng Seongcheol từ chối, nói rằng ông hoàn toàn không có ý định trở thành nhà sư và chỉ thiền định chuyên sâu mới là điều quan trọng. Tuy nhiên, bài pháp thoại của Thiền sư Dongsan trong mùa an cư tiếp theo đã thay đổi suy nghĩ của ông:[1]

“Có một con đường. Không ai sẽ tiết lộ bí mật. Bạn phải tự mình bước vào cánh cửa đó. Nhưng không có cánh cửa nào cả. Cuối cùng, thậm chí không còn con đường nào.”

Vào tháng 3 năm 1937, Yi Yeongju nhận pháp danh là Seongcheol, từ bỏ mọi mối quan hệ với thế giới bên ngoài và xuất gia, viết bài thơ này:

Đại nghiệp ngập trời, tuyết tan lò đỏ,
Hùng cơ vượt biển, sương lộ giữa dương.
Ai cam chết mộng phù du chốc lát,
Một mình siêu thoát, chân thật muôn phương.[1][2]
彌天大業紅爐雪
跨海雄基赫日露
誰人甘死片時夢
超然獨步萬古眞[1][2]
Di thiên đại nghiệp hồng lô tuyết
Khoa hải hùng cơ hách nhật lộ
Thùy nhân cam tử phiến thời mộng
Siêu nhiên độc bộ vạn cổ chân

Thời kỳ Khai sáng

Theo truyền thống của các nhà sư Phật giáo Hàn Quốc, Seongcheol đã đi lang thang từ ngôi chùa này sang ngôi chùa khác sau mỗi kỳ thiền định. Vào mùa hè năm 1940, ông đã đi vào trạng thái thiền định sâu tại Trung tâm Thiền Geum Dang và đạt được giác ngộ. Trở thành nhà sư ở tuổi 25, ông đã đạt được bản tính chân thật của mình chỉ trong ba năm. Ông tiếp tục viết bài thơ giác ngộ của mình:

Sông Hoàng Hà chảy ngược về phía tây, lên tới đỉnh núi Côn Lôn,
Mặt trời và mặt trăng mất ánh sáng và mặt đất sụp đổ,
Mỉm cười một cái rồi quay đầu nhìn lại,
Ngọn núi xanh vẫn đứng giữa những đám mây trắng như xưa.[1][2]
黃河西流崑崙頂
日月無光大地沈
遽然一笑回首立
靑山依舊白雲中[1][2]
Hoàng Hà ngược chảy đỉnh Côn Luân,
Nhật nguyệt mờ tăm, đất lặng chìm.
Chợt nở một cười, quay đầu đứng,
Núi xanh vẫn giữa áng mây ngàn.

Sau khi đạt được giác ngộ, Seongcheol bắt đầu các chuyến hành hương đến nhiều ngôi chùa khác nhau để kiểm chứng trải nghiệm của mình và xem xét các nhà sư khác cũng như trình độ tu chứng của họ. Nhưng ông thường xuyên thất vọng khi nhận thấy rằng inka (sự xác nhận về thành tựu của một nhà sư bởi một bậc thầy) được trao quá tùy tiện, từ đó công nhận sai lệch rằng nhiều nhà sư đã đạt được giác ngộ viên mãn.[1] Trong thời gian ẩn tu tại chùa Songgwangsa, ông cũng cảm thấy thất vọng trước lý thuyết Dono Jeomsu (đốn ngộ, tiệm tu (tu tập từ từ)) của Jinul, và việc đây là lý thuyết phổ biến vào thời bấy giờ. Sau này trong những năm 1980 và 1990, đóng góp của ông vào sự hồi sinh lý thuyết truyền thống Dono Donsu (đốn ngộ, đốn tu (tu tập nhanh chóng)) của Huệ Năng đã có ảnh hưởng đáng kể đến việc thực hành Thiền tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và các quốc gia khác nơi Thiền được thực hành.[1]

Danh tiếng và sự công nhận ngày càng tăng

Danh tiếng của Seongcheol chẳng bao lâu sau đã bắt đầu lan rộng. Nhiều yếu tố đã góp phần vào sự công nhận ngày càng tăng đối với ông.

Một trong những giai thoại nổi tiếng là kỹ thuật Jangjwa Bulwa (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Hán-Việt: Trường tọa bất ngọa) của Seongcheol). Dịch theo nghĩa đen là 'ngồi lâu, không nằm', đây là một kỹ thuật thiền định mà một số nhà sư sử dụng để tăng cường việc tu tập của họ. Thiền ngồi tương đương với hầu hết các phương pháp thực hành khác, ngoại trừ việc người thực hành không nằm xuống để ngủ mà vẫn ở tư thế hoa sen ngay cả trong khi ngủ, với ý định giảm thiểu giấc ngủ thông qua tư thế đó. Seongcheol được biết đến là đã thực hành điều này trong tám năm sau khi giác ngộ. Theo báo cáo, ông chưa bao giờ nằm xuống và hoàn toàn phủ nhận việc ngủ.[1]

Một giai thoại khác kể rằng khi Seongcheol đang ở chùa Mangwolsa trên núi Dobong, một nhà sư già tên là Chunseong không tin vào điều này. Ông muốn bắt quả tang Seongcheol đang ngủ gật nên đã lén theo dõi ông suốt một đêm. Nhưng sau khi chứng kiến sự thật của tin đồn, Chunseong đã kinh ngạc và tự mình bắt đầu áp dụng kỹ thuật này. Người ta nói rằng do áp lực của việc thực hành và tuổi già khi bắt đầu kỹ thuật, tất cả răng của Chunseong đã rụng hết về sau.[1]

Danh tiếng của Seongcheol về việc tu tập chuyên sâu không chỉ giới hạn ở thiền định của ông. Ông còn được biết đến là hoàn toàn thờ ơ với thế giới bên ngoài, chỉ tập trung mãnh liệt vào thiền định và hướng dẫn các nhà sư khác đến giác ngộ. Sự thờ ơ của ông đến mức ông thậm chí từ chối gặp mẹ khi bà đến thăm ông tại chùa Mahayunsa trên núi Kumgang. "Không cần gặp bà ấy." được cho là câu trả lời của ông khi mẹ đến thăm, khiến các nhà sư đồng tu nổi giận, cho rằng dù họ là những nhà sư tận tụy với khổ hạnh và thiền định, việc từ chối gặp mẹ ruột là hành động quá cực đoan. Sau đó, Seongcheol đã đi cùng mẹ, dẫn bà tham quan các cảnh đẹp của núi Kumgang.[1]

Cải cách Phật giáo Hàn Quốc

Bong Am Sa

Vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện, qua đó chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai và sự chiếm đóng Triều Tiên. Những sự kiện này đã mang lại cơ hội vô giá cho việc cải cách Phật giáo Triều Tiên, vốn đã bị đàn áp nặng nề trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng. Với tư cách là một nhà lãnh đạo mới nổi của Phật giáo Triều Tiên, Seongcheol đã tham gia vào các cuộc thảo luận sơ khởi về những kế hoạch đang hình thành nhằm cải cách tôn giáo này. Thiết lập mối quan hệ đối tác với Jawoon, Cheongdam và Hyanggok, những nhà lãnh đạo tương lai của Phật giáo Triều Tiên đã chọn chùa Bong Am Sa trên núi Heui Yang. Tại đó, họ đã lập lời thề sống nghiêm ngặt theo Luật tạng (Vinaya), bộ quy tắc đạo đức Phật giáo. Các thành viên đã nhất trí về các quy tắc ứng xử (tiếng HànLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; HanjaLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; RomajaGongjugyuyag; Hán-Việt: Cộng Trụ Quy Ước) và yêu cầu sự tuân thủ nghiêm ngặt giữa những người trong nhóm:[1]

  1. Tuân theo Luật Tạng và thực hành giáo pháp của các bậc tổ sư để đạt được sự giác ngộ viên mãn.
  2. Ngoại trừ giáo pháp của Đức Phật, không một ý kiến cá nhân hay triết lý nào được dung thứ.
  3. Các vật dụng cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày phải tự mình tìm kiếm, không dựa dẫm vào cư sĩ, bao gồm cả các công việc đồng áng, kiếm củi, v.v.
  4. Tuyệt đối không nhận sự hỗ trợ từ cư sĩ về việc nấu nướng, y phục, khất thực hoặc quà cáp.
  5. Chỉ ăn cháo vào buổi sáng và không ăn bất cứ thứ gì sau buổi trưa.
  6. Thứ tự ngồi của các nhà sư tuân theo ngày thụ giới.
  7. Chỉ ngồi thiền và giữ im lặng trong phòng.[1]

Phong trào cải cách bắt đầu từ một nhóm nhỏ các nhà sư xoay quanh Seongcheol, nhưng nhanh chóng phát triển nhờ danh tiếng, thu hút các nhà sư trên khắp cả nước, những người cũng có ý định khôi phục truyền thống Hàn Quốc về thiền định chuyên sâu, sống độc thân nghiêm ngặt và nghiên cứu kinh điển. Trong số những thế hệ trẻ này có Weolsan (Nguyệt Sơn), Ubong (Ưu Phong), Bomun (Phổ Văn), Seongsu (Thánh Thủ), Dou (Đạo Ưu), Hyeam (Huệ Am), Beopjeon (Pháp Truyền), v.v. Nhóm này không chỉ trở thành những nhà lãnh đạo tương lai của Phật giáo Hàn Quốc mà còn sản sinh ra hai vị Tăng thống (Hyeam, Beopjeon) và ba vị quản trị cấp cao của tông phái Tào Khê.

Hậu Bong-amsa

Thật không may, cuộc thử nghiệm tại chùa Bong Am Sa đã kết thúc sớm vào năm 1950 khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ trên bán đảo. Với các cuộc không kích liên tục và sự hiện diện của binh lính hai bên xung quanh ngôi chùa, việc duy trì cuộc sống tu viện nghiêm ngặt tại Bong Am Sa trở nên không thể thực hiện được.[1]

Một số cải cách đã diễn ra trong giai đoạn này là:[1]

  • Thống nhất y phục, bao gồm màu sắc (chủ yếu là màu xám), kiểu dáng và các biến thể theo mùa
  • Sửa đổi quy chế của tông phái Tào Khê (Jogye)
  • Thống nhất các nghi lễ Phật giáo
  • Thiết lập chương trình giáo dục tu viện

Sau chiến tranh, phong trào cải cách đã tăng tốc và những thay đổi đáng kể bắt đầu được thực hiện, mặc dù phải mất nhiều năm để chúng được củng cố vững chắc. Trung tâm của cuộc cải cách là vấn đề độc thân tu hành. Mặc dù tất cả các kinh điển Phật giáo đều nhấn mạnh việc các nhà sư phải giữ độc thân, Phật giáo Nhật Bản đã trải qua những thay đổi lớn trong thời kỳ Minh Trị Duy Tân, nổi bật nhất là việc chấm dứt chế độ độc thân của nhà sư. Trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng, Phật giáo Triều Tiên bị đàn áp nghiêm trọng và phong cách Nhật Bản được ủng hộ, biến hầu hết các nhà sư Triều Tiên thành những cư sĩ tu viện chỉ làm lễ nghi, kết hôn, có kinh doanh và thu nhập. Seongcheol và các nhà lãnh đạo mới rất phê phán phong cách Phật giáo Nhật Bản, khẳng định rằng truyền thống độc thân, ẩn cư, nghèo khó và thiền định chuyên sâu không chỉ là cốt lõi của Phật giáo Triều Tiên mà còn là tinh thần chân chính của Phật giáo nói chung. Tình cảm chống Nhật của người Hàn Quốc sau chiến tranh lúc đó rất mạnh mẽ, và với sự giúp đỡ của dân chúng cùng tổng thống Syngman Rhee, phong cách truyền thống của Hàn Quốc bắt đầu được khôi phục và trở thành hình thức Phật giáo chiếm ưu thế vào những năm 1970.[1]

Seongcheol kiên quyết cho rằng nên từ bỏ toàn bộ tài sản tu viện để trao lại cho công chúng và quay trở lại con đường Phật giáo nguyên thủy là đi lang thang và khất thực, đồng thời dồn toàn bộ năng lượng vào thiền định. Ông cho rằng đây là cách duy nhất chắc chắn để các cuộc cải cách thực sự diễn ra, đồng thời cảnh báo rằng nếu không làm như vậy, có thể xảy ra xung đột quy mô lớn giữa các tăng sĩ và các nhà sư đã kết hôn tranh giành quyền kiểm soát các ngôi chùa. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo phong trào cải cách đã từ chối theo, cho rằng những khẳng định của ông quá cực đoan.

Dự đoán của Seongcheol cuối cùng đã trở thành sự thật khi Phật giáo Hàn Quốc từ đó đến nay đã trải qua nhiều cuộc xung đột giữa các nhà sư về quyền quản lý chùa, nhiều cuộc xung đột leo thang đến mức bạo lực giữa hai bên (ví dụ như thuê xã hội đen để gây hấn đối thủ). Nhiều quy định về thụ giới đã được các tăng sĩ nới lỏng nhằm tăng số lượng để giành quyền kiểm soát các ngôi chùa, dẫn đến việc những người có địa vị xã hội đáng ngờ (ví dụ như cựu tù nhân và tội phạm) được thụ giới làm tăng sự tranh chấp bạo lực giữa các nhà sư. Một chương đặc biệt đáng xấu hổ trong lịch sử Phật giáo Hàn Quốc là vào cuối những năm 1990 khi các nhà sư tranh giành chùa Jogyesa, ngôi chùa hành chính chính ở Seoul, không chỉ thuê xã hội đen mà còn trực tiếp tham gia vào các cuộc đánh nhau bằng vũ khí, bao gồm cả bom xăng, để đàn áp lẫn nhau một cách bạo lực.[1]

Mười năm tu hành ẩn dật ở Seongjeonam.

Năm 1955, Seongcheol được bổ nhiệm làm Tăng thống của chùa Haeinsa, nhưng thất vọng trước hướng đi mà phong trào cải cách đang theo đuổi, ông đã từ chối, rút lui khỏi vị trí hàng đầu và chuyển đến một am tu hành gần chùa Pagyesa ở núi Palgong gần Daegu để đào sâu hơn vào giai đoạn thiền định và giác ngộ mà ông đã đạt được. Am tu hành này được đặt tên là Seongjeonam và chính tại đây Seongcheol bắt đầu xây dựng nền tảng học thuật mà sau này sẽ hỗ trợ cho các giáo lý tâm linh của ông. Ông đã bao quanh am tu hành bằng dây thép gai nhằm ngăn người ngoài vào (ngoại trừ một vài trợ lý) và giữ bản thân mình trong phạm vi đó. Trong suốt mười năm đáng kinh ngạc, ông không rời khỏi giới hạn của am tu hành nhỏ bé này, tập trung sâu sắc vào thiền định và nghiên cứu các kinh điển Phật giáo cổ xưa, các văn bản Thiền, kinh điển, toán học hiện đại, vật lý, hóa học, sinh học, thậm chí tự học tiếng Anh để cập nhật các vấn đề quốc tế. Thập kỷ tự học này đã ảnh hưởng sâu sắc đến các giáo lý tương lai của ông.[1]

Haeinsa và Cuộc đàm thoại trăm ngày

Cuối cùng Seongcheol cũng mở cánh cửa am Seong Juhn Am vào năm 1965. Ngôi chùa ông ghé thăm là Gimyongsa, nơi ông đã có bài thuyết pháp đầu tiên sau một thập kỷ. Năm 1967, trước sự khẩn cầu của Jawoon, Seongcheol trở thành thiền sư trụ trì chùa Haeinsa. Mùa đông năm đó, ông bắt đầu các buổi thuyết pháp hàng ngày kéo dài hai giờ cho các nhà sư và cư sĩ, từ đó khởi đầu cho chuỗi "Bách nhật pháp môn" (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) nổi tiếng của mình. Vận dụng một thập kỷ nghiên cứu học thuật, ông bắt đầu phá vỡ khuôn mẫu về những bài thuyết pháp "nhàm chán và giáo điều", biến chúng thành sự kết hợp đầy chấn động giữa Phật giáo, thuyết tâm linh, cơ học lượng tử, thuyết tương đối tổng quát và các vấn đề thời sự, mở ra một loại hình thuyết pháp mới nhắm đến đối tượng khán giả hiện đại đang sống trong thời đại toàn cầu hóa và đa dạng trí tuệ.[1]

Đức Pháp chủ của tông phái Tào Khê

Mở đầu cho sự hồi sinh truyền thống Thiền tông với lối hành thiền chuyên sâu và nếp sống tu hành nghiêm ngặt, Seongcheol đã đi đầu trong công cuộc cải cách Phật giáo Hàn Quốc hiện đại, từ đống đổ nát của chế độ thực dân Nhật Bản trở thành trung tâm đào tạo thiền định. Trong nhiệm kỳ làm trụ trì chùa Haeinsa, ngôi chùa đã chuyển mình thành nơi rèn luyện thiền định, nghiên cứu kinh điển và luật tạng, thu hút các nhà sư từ khắp nơi trên cả nước. Trung tâm thiền định này thu hút trung bình khoảng 500 nhà sư mỗi khóa tu diễn ra hai lần một năm, một con số chưa từng có kể từ thời Huệ NăngMã Tổ.

Trong những năm 1970, bối cảnh chính trị trở nên ngày càng quân phiệt và độc tài hơn, cuối cùng dẫn đến việc thanh trừng nhiều nhà sư Phật giáo bị nghi ngờ có liên quan đến chính trị. Với danh tiếng ngày càng tăng như một vị Phật sống cả trong mắt cư sĩ lẫn tăng sĩ, tông phái Tào Khê đã hướng về Seongcheol và đề cử ông làm Đức Pháp chủ tiếp theo của tông phái. "Nếu tôi có thể giúp cải cách và nâng cao Phật giáo Hàn Quốc, tôi sẽ khiêm tốn nhận lời" là câu trả lời mà ông đưa ra.[1]

Bài diễn văn nhậm chức của ông đã đưa ông từ một nhà sư ít được biết đến, chỉ được biết đến trong giới tăng sĩ và cư sĩ thuần thành, trở thành người đứng đầu chính thức của Phật giáo Hàn Quốc, mang giáo lý của ông đến toàn quốc:

Giác ngộ viên mãn lan tỏa khắp nơi, an nhiên và diệt vong không phải hai điều riêng biệt
Tất cả những gì thấy là Quan Âm, tất cả những gì nghe là âm thanh huyền diệu
Không có chân lý nào khác ngoài việc thấy và nghe
Bạn có hiểu không?
Núi là núi, nước là nước.[1][2]
원각이 보조하니 적과 멸이 둘이 아니라.
보이는 만물은 관음이요 들리는 소리는 묘음이라.
보고 듣는 이 밖에 진리가 따로 없으니
시회대중은 알겠는가?
산은 산이요 물은 물이로다.[1][2]

Từ chối mọi nghi lễ chính thức với tư cách là Tăng thống từ khi nhậm chức cho đến khi qua đời, Seongcheol không bao giờ rời khỏi vùng núi, với quan điểm rằng nơi thực sự của một nhà sư là ở trong chùa. Ban đầu, đã có một sự phản đối kịch liệt đối với chính sách bán ẩn tu của ông, nhưng điều này cuối cùng đã được thay thế bằng sự tôn trọng vốn đã thiếu vắng kể từ thời Joseon, và giúp cải thiện đáng kể hình ảnh cũng như sự đối đãi dành cho các nhà sư ở Hàn Quốc.[1]

Trong những năm làm trụ trì chùa Haeinsa và Tăng thống của tông phái Tào Khê, danh tiếng của Seongcheol ngày càng lớn mạnh. Trong giới tăng lữ, ông nổi tiếng là một người thầy vô cùng nghiêm khắc, được gọi là "con hổ của núi Kaya". Khi các nhà sư gật gù buồn ngủ trong lúc thiền định, ông sẽ đánh họ bằng gậy gỗ trong khi quát lớn: "Kẻ trộm, hãy trả tiền cơm của ngươi!" (ám chỉ những khoản đóng góp của giáo dân, và nợ của các nhà sư đối với xã hội, do đó là bổn phận của ông phải tu tập hết khả năng của mình).[1]

Ông cũng nổi tiếng với việc thực hành ba nghìn lễ lạy độc đáo của mình.[1][3][4]

Sau Chiến tranh Triều Tiên, Seongcheol đã xây dựng một am tu nhỏ gần chùa Anjungsa và đặt tên là Cheonjegul. Vào thời điểm này, nhiều người đến để bày tỏ lòng kính trọng với ông, và để hướng dẫn thêm cho những người hành hương trong việc tu tập, Seongcheol bắt đầu sử dụng bài thực hành ba nghìn lễ lạy nổi tiếng của mình. Không ai có thể gặp ông trừ khi hoàn thành ba nghìn lễ lạy trước tượng Phật trong đại điện chính. Về sau, một số cư sĩ đã cáo buộc Seongcheol kiêu ngạo, nhưng ông khẳng định rằng thực hành này nhằm giúp người tu tập phá bỏ cái tôi và dễ dàng đạt được sự nhất tâm (Lưu ý: ba nghìn lễ lạy đầy đủ thực ra là một phần không thể thiếu trong chương trình tu tập Phật giáo Hàn Quốc, được thực hiện tại hầu hết các chùa ở Hàn Quốc hàng tháng. Thời gian thực hiện khoảng từ tám đến mười hai giờ, tùy theo kinh nghiệm của người tu, và kỹ thuật này thường được dùng để "làm sạch tâm trí," gieo rắc sự khiêm tốn, và tăng cường nhận thức cũng như khả năng tập trung của người tu). Khi danh tiếng và tiếng tăm của ông ngày càng lan rộng, việc thực hành lễ lạy trở nên cần thiết hơn khi ngày càng nhiều người muốn gặp ông. Điều đặc biệt là yêu cầu này được áp dụng đồng đều, tức là ông không bao giờ ngoại lệ dù người đó giàu có, nổi tiếng hay quyền lực.

Một giai thoại nổi tiếng minh họa cho thử thách khó khăn của ba nghìn lễ lạy và sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc của Seongcheol. Khi Park Chung Hee, tổng thống Hàn Quốc, đang khánh thành con đường cao tốc mới nối SeoulPusan, ông tình cờ đến thăm chùa Haeinsa. Nghe tin tổng thống đến, trưởng tăng hành chính nhanh chóng báo cho Seongcheol xuống am để đón tiếp tổng thống. Nhưng đúng với phong cách của mình, Seongcheol yêu cầu tổng thống phải đến đại điện Phật và thực hiện ba nghìn lễ lạy trước khi gặp ông. Park từ chối và hai người không bao giờ gặp nhau.[1]

Ấn phẩm

Trong những năm cuối đời, Seongcheol đã chủ trì nhiều ấn phẩm, bao gồm mười một cuốn sách về các bài giảng của ông và 37 cuốn sách dịch nhiều tác phẩm kinh điển Thiền tông vốn không được công chúng biết đến rộng rãi.

Nhóm thứ nhất bao gồm bản chép lại đầy đủ của kinh Pháp bảo đàn, các bài giảng về Kinh Huệ Năng, Tín Tâm Minh (Shin Sim Myung; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). ), Chứng Đạo Ca (Jeung Do Ga; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).), Đốn ngộ nhập đạo yếu môn luận (Sự giác ngộ đột ngột; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). ), và các bài giảng Phật pháp của ông.

Nhóm thứ hai được gọi là Thiền lâm cổ kính tùng thư (Seon Lim Go Gyung Chong Suh; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) là tập hợp các tác phẩm kinh điển Thiền tông Trung Quốc và Hàn Quốc mà cho đến khi được xuất bản, hầu hết chỉ được các nhà sư biết đến.[1] Những ấn phẩm này đã giúp truyền bá giáo lý của ông đến công chúng và nâng cao nhận thức cũng như kiến thức chung về Phật giáo.

Các bản dịch tiếng Anh các tác phẩm của Đại sư Seongcheol bao gồm "Echoes from Mt. Kaya" (Tiếng vọng từ núi Kaya), Nhà xuất bản Changgyonggak, Seoul, 1988 (hiện đã ngừng xuất bản), và "Opening the Eye" (Khai nhãn), Công ty Quốc tế Gimmyeong, Seoul, 2002. Cả hai đều là bản dịch từ tiếng Hàn của Brian Barry.

Viên tịch

Vào ngày 4 tháng 11 năm 1993, Seongcheol qua đời tại Toesoeldang thuộc chùa Haeinsa, chính căn phòng nơi ông bắt đầu thụ giới làm tu sĩ.[1] Những lời cuối cùng ông dành cho các đệ tử của mình là: "Hãy thiền định cho tốt".[1] Bài thơ nhập niết bàn của ông là:

Lừa dối người đời suốt cả cuộc đời, tội lỗi của ta nặng hơn cả núi Tu Di. Sống rơi vào địa ngục, nỗi đau của ta chia làm muôn mảnh. Phun ra một bánh xe đỏ, Nó treo trên ngọn núi xanh.[1][2]
生平欺狂男女群
彌天罪業過須彌
活陷阿鼻恨萬端
一輪吐紅掛碧山[1][2]
Sinh bình khi cuồng nam nữ quần
Di thiên tội nghiệp quá Tu Di
Hoạt hãm A Tỳ hận vạn đoan
Nhất luân thổ hồng quải bích sơn

Seongcheol đã đưa ra lời giải thích này cho bài thơ bí ẩn:[1]

Tôi đã sống cả đời mình như một người tu hành, và mọi người luôn đòi hỏi tôi điều gì đó. Tất cả mọi người đều đã là Phật, nhưng họ không cố gắng nhận ra sự thật đó mà chỉ hướng về phía tôi. Vì vậy, theo một cách nào đó, có thể nói tôi đã lừa dối mọi người suốt cả cuộc đời mình. Tôi đã không thể truyền tải thông điệp này đến với tất cả mọi người nên tôi đang phải chịu khổ trong một kiểu địa ngục.

Sau khi ông qua đời, một đám tang lớn nhất từ trước đến nay trong lịch sử Hàn Quốc dành cho một vị tăng đã diễn ra, với hơn 100.000 người tham dự. Lễ hỏa táng của ông kéo dài hơn ba mươi giờ và xá lợi của ông thu được hơn một trăm viên.[1]

Những lời dạy

Những lời dạy của Seongcheol có thể được tóm tắt thành năm nhóm lớn:

Giác ngộ đốn ngộ, tu hành đốn tu

Viện dẫn Taego Bou (太古普愚: 1301–1382) là người kế thừa thực sự của dòng tổ sư Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨済義玄) thay vì Jinul (知訥: 1158–1210), ông ủng hộ lập trường ban đầu của Huệ Năng về 'đốn ngộ, đốn tu' (tiếng HànLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; HanjaLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).) trái ngược với lập trường của Jinul về 'đốn ngộ, tiệm tu' (tiếng HànLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; HanjaLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).).[5] Trong khi Jinul ban đầu khẳng định rằng khi giác ngộ cần phải thúc đẩy sự thực hành của một người bằng cách dần dần tiêu diệt những dấu vết nghiệp chướng đạt được qua hàng triệu lần tái sinh, thì Huệ Năng và Seongcheol duy trì quan điểm rằng với sự giác ngộ hoàn hảo, mọi tàn dư nghiệp chướng đều biến mất và một người trở thành Phật ngay lập tức.[3][4][6][7]

Con đường Trung đạo

Ông cũng giải thích về định nghĩa thực sự của Trung Đạo (tiếng HànLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; HanjaLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). ), khẳng định rằng Trung Đạo không chỉ giới hạn trong việc tránh hai cực đoan là hưởng thụ giác quankhổ hạnh như nhiều người hiểu, mà còn là sự giải thích về trạng thái niết bàn, nơi tất cả các cặp đối lập hòa hợp và không còn tồn tại như những thực thể riêng biệt, nơi thiện và ác, tự ngã và vô ngã trở nên vô nghĩa. Ông so sánh điều này với quan niệm sai lầm phổ biến từng chi phối vật lý trước thời Einstein, rằng năng lượng và khối lượng là hai thực thể riêng biệt, nhưng Einstein đã làm sáng tỏ rằng chúng là hai dạng kép có thể hoán đổi cho nhau với mối quan hệ được mô tả bằng công thức E=mc², qua đó chứng minh sự tương đương của chúng. Ông cũng so sánh điều này với sự hợp nhất của không gian và thời gian thành không-thời gian, và đưa ra phép ẩn dụ về băngnước. Trung Đạo không phải là "giữa" hay "trung bình" của băng và nước, mà là dạng thực sự của mỗi thứ, H2O, và ông khẳng định rằng trạng thái niết bàn cũng tương tự như vậy, là trạng thái mà dạng thực sự của tất cả các cặp đối lập được tiết lộ là tương đương.[3][7]

Thực hành công án

Seongcheol ủng hộ mạnh mẽ gong'an ( tiếng HànLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; HanjaLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). ) khẳng định đó là con đường nhanh nhất và an toàn nhất để đạt đến giác ngộ.[1][3][6][7] Những công án phổ biến nhất mà ông thường đưa ra cho các cư sĩ và đệ tử của mình là:

  1. Không phải tâm, không phải vật, không phải Phật, cái này là gì?[7] (Hangul: 마음도 아니고, 물건도 아니고, 부처도 아닌 것, 이것이 무엇인고?, Hanja: 不是心, 不是物, 不是佛, 是什麼?)
  2. Một vị tăng từng hỏi Thiền sư Động Sơn: "Phật là gì?" Động Sơn đáp: "Ba cân gai" (ma tam cân; tiếng HànLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; HanjaLỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value). ).[1][4][7]

Trong giấc ngủ sâu, một tâm trí duy nhất

Seongcheol cũng đã đặt ra một tiêu chuẩn rõ ràng mà người tu hành có thể áp dụng để đánh giá mức độ tu tập của mình. Suốt cuộc đời, nhiều đệ tử đã đến gặp ông để được công nhận về sự giác ngộ của họ. Ông rất thất vọng trước số lượng người nghĩ rằng họ đã đạt được giác ngộ hoàn hảo chỉ bằng cách trải nghiệm một số hiện tượng tâm lý trong quá trình tu tập. Vì vậy, ông đã nhấn mạnh lại rằng mọi người giác ngộ từ thời Đức Phật trở đi đều khẳng định cùng một định nghĩa về giác ngộ là gì. Theo ông, sự đạt được chân thật chỉ đến sau khi vượt qua mức có thể thiền định trong trạng thái ngủ sâu. Chỉ khi có thể thiền định liên tục trên một công án, không gián đoạn, trong suốt trạng thái tỉnh thức, sau đó là trạng thái mơ, và cuối cùng là trạng thái ngủ sâu, thì người đó mới đạt đến trạng thái mà giác ngộ có thể xảy ra. Trước khi đạt được điều này, người ta không nên tự nhận mình đã giác ngộ, dù có thể có nhiều hiện tượng tâm lý kỳ lạ xảy ra trong quá trình tu tập. Các cấp độ mà ông xác định bao gồm:[3][4][6][7]

  1. Trong trạng thái tỉnh thức, tâm trí nhất thể (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Hán-Việt: Động tĩnh nhất như): trạng thái mà người tu có thể thiền định trên một công án liên tục suốt cả ngày mà không bị gián đoạn, ngay cả khi nói chuyện và suy nghĩ.
  2. Trong trạng thái mơ, tâm trí nhất thể (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Hán-Việt: Mộng trung nhất như): trạng thái mà người tu có thể thiền định trên một công án liên tục trong trạng thái mơ.
  3. Trong giấc ngủ sâu, tâm trí nhất thể (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Hán-Việt: Thục miên nhất như): trạng thái như đã mô tả ở trên, nơi người tu có thể thiền định trên một công án liên tục ngay cả trong giấc ngủ sâu nhất.
  4. Trong cái chết, đạt được sự sống (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Hán-Việt: Tử trung đắc hoạt): từ trạng thái trước đó, khi mọi suy nghĩ bị công án chiếm lĩnh (do đó người tu được xem như "chết" về mặt tinh thần), khoảnh khắc đạt được giác ngộ, tức là "sự sống."
  5. Trí tuệ viên mãn, sáng như gương lớn (Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value).; Hán-Việt: Đại viên kính trí): trạng thái giác ngộ hoàn hảo, dùng phép ẩn dụ chiếc gương sáng để chỉ trí tuệ nội tại lớn lao phát sinh trong lúc giác ngộ. Trạng thái cuối cùng mà người tu mất đi cảm giác về cái tôi, được giải thoát khỏi nghiệp lực, và do đó không còn tái sinh trong tương lai.

Phê bình về phong cách thiền định của Nhật Bản

Seongcheol rất phê phán phong cách thiền Zen của Nhật Bản.[3][4][6][7][8] Phong cách Nhật Bản ưu tiên việc học dần dần nhiều công án, tương tự như một chương trình học, trong đó người tu sẽ tiến bộ từ công án dễ đến công án khó hơn khi họ làm chủ từng công án theo thời gian. Seongcheol và nhiều vị thiền sư khác cho rằng cách làm này không đạt được gì vì mục đích chính của thiền là loại bỏ tất cả các suy nghĩ phân tán trong tâm, nguyên nhân gây ra luân hồi nghiệp báo và khổ đau kèm theo, bằng cách tập trung sâu sắc vào chỉ một công án duy nhất cho đến khi nó phá hủy mọi suy nghĩ khác. Việc học công án như một chương trình học chỉ làm cho tâm trí càng hoạt động nhiều hơn, điều này hoàn toàn trái ngược với mục tiêu ban đầu là dập tắt tâm trí. Do đó, phong cách thiền dần dần này không chỉ giống với quan điểm tu tập tiệm tiến của Jinul mà còn là sự lãng phí thời gian hoàn toàn đối với người tu, khiến thiền trở thành một trò chơi ngôn từ, trong đó những người giải được nhiều câu đố hơn sẽ được đánh giá cao hơn. Công án không bao giờ có thể được giải bằng các phương pháp lý trí hay trực giác như vậy, và chỉ có giác ngộ hoàn hảo mới có thể giải đáp được công án, đồng thời giải quyết tất cả các công án.[3][4][6][7] Vì vậy, Seongcheol nhiều lần khẳng định việc học nhiều công án là điều trái ngược với thiền định chân chính. Ông nói rằng đạt được giác ngộ hoàn hảo đồng nghĩa với việc trở thành Phật, và điều này cũng đồng nghĩa với việc giải quyết dứt điểm công án, đồng thời nhấn mạnh đây không phải là giáo lý độc đáo của riêng ông mà là của nhiều vị thiền sư, bao gồm Huệ Năng, Mã Tổ, cho đến các thiền sư hiện đại.[1][3][4][6][7][8] Việc có thể giải nhiều công án chỉ là ảo tưởng thuần túy mà nhiều người tu tập tin tưởng, và Seongcheol đã dành phần lớn giáo lý của mình để làm sáng tỏ điểm này.

Các trích dẫn

Đức Phật đã nói: "Ta đã đạt được niết bàn bằng cách từ bỏ mọi tính nhị nguyên. Ta đã từ bỏ sự sinh và diệt, sống và chết, tồn tại và không tồn tại, thiện và ác, đúng và sai, qua đó đạt được cái Tuyệt đối. Đây là sự giải thoát, đây là niết bàn. Các ngươi [năm vị tỳ kheo đầu tiên] thực hành khổ hạnh và thế gian đắm chìm trong dục lạc. Do đó các ngươi nghĩ mình là cao cả và thánh thiện, nhưng cả hai cực đoan đó đều như nhau. Để thực sự được tự do, các ngươi phải từ bỏ cả hai, các ngươi phải từ bỏ mọi tính nhị nguyên..."

— Seongcheol, [2]

Đây là thời đại khoa học, vì vậy hãy nói bằng ngôn ngữ của khoa học. Thuyết tương đối tổng quát của Einstein chứng minh rằng năng lượng và khối lượng, trước đây được coi là riêng biệt, thực chất là một và giống nhau. Năng lượng là khối lượng, và khối lượng là năng lượng. Năng lượng và khối lượng là một.

— Seongcheol, [2]

Việc năng lượng và khối lượng tương đương nhau có nghĩa là không có gì thực sự được tạo ra hay bị hủy diệt. Đây là điều Đức Phật đã nói đến khi Ngài từ bỏ cả sự tạo thành lẫn sự hủy diệt. Nó giống như nước và băng (nước đá) vậy. Việc nước chuyển thành băng và ngược lại không có nghĩa là một trong hai bị hủy diệt. Đó chỉ là sự thay đổi hình thái của H2O, bản thân nó không bao giờ thay đổi, cũng giống như năng lượng và khối lượng. Nếu chúng ta so sánh khối lượng với "sắc" và năng lượng với "vô tướng", thì Bát Nhã Tâm Kinh cũng nói điều tương tự như thuyết tương đối tổng quát. Sắc chính là vô tướng và vô tướng chính là sắc. Không chỉ bằng lời nói, không chỉ trong lĩnh vực triết học, mà còn trong sự thật, trong tự nhiên, có thể đo lường được bằng các phương pháp khoa học. Đây chính là Trung Đạo!

— Seongcheol, [2]

Ba thứ thuốc độc ngăn cản chúng ta nhận ra bản ngã thực sự của mình là tham, sânsi. Trong đó, tham là gốc rễ của hai độc còn lại, và tham xuất phát từ "cái tôi". Sự chấp vào "cái tôi", bản ngã và thái độ thờ ơ với người khác chính là nền tảng của mọi khổ đau. Một khi bạn nhận ra rằng thực sự không có bạn hay tôi, không có cái tôi hay cái không phải tôi, bạn sẽ hiểu rằng vạn vật đều có mối liên hệ mật thiết với nhau; do đó, giúp đỡ người khác chính là giúp đỡ chính mình, và làm hại người khác chính là làm hại chính mình. Đây là đạo của vũ trụ, là Trung Đạo, là duyên khởi và là nghiệp báo.

— Seongcheol, [2]

Bằng cách loại bỏ những đám mây đang che khuất ánh sáng trí tuệ thuần khiết của chúng ta, chúng ta có thể được giải thoát khỏi những xiềng xích của nghiệp báo, nhờ đó mà trở nên thực sự tự do. Nhưng làm thế nào để thực hiện điều này? Có rất nhiều phương pháp, nhưng nhanh nhất là thiền định và phương pháp nhanh nhất trong số đó là thoại đầu, hay công án. Bằng cách vượt ra ngoài mức độ có thể thiền định trong giấc ngủ sâu, bạn sẽ đạt đến một nơi có sự thanh tịnh tuyệt đối, tấm gương sáng ngời, nguyên thủy của bạn sẽ không còn vương chút bụi trần nào đã từng bám trên đó. Bạn sẽ thấy được bộ mặt nguyên thủy của mình, bản tính chân thật của mình, bản tính của toàn bộ vũ trụ, và nhận ra rằng bạn đã luôn luôn và vốn dĩ là một vị Phật. Đây chính là niết bàn.

— Seongcheol, [2][4][7]

Không ai có thể giúp bạn trong nỗ lực này. Không sách vở, không thầy dạy, ngay cả Đức Phật cũng không. Bạn phải tự mình bước đi trên con đường này.

  1. Đừng ngủ quá bốn tiếng.
  2. Đừng nói chuyện nhiều hơn mức cần thiết.
  3. Đừng đọc sách.
  4. Đừng ăn vặt.
  5. Đừng lang thang hay đi lại thường xuyên.
    — Seongcheol, [2][4][7]

Nhiều hành giả tin rằng họ đã đạt được giác ngộ. Một số người nói rằng họ đã đạt được nó nhiều lần. Đây là một ảo tưởng lớn. Chỉ có một sự giác ngộ chân thật duy nhất, trong đó trạng thái đạt được không bao giờ biến mất rồi xuất hiện trở lại, mà hiện hữu thường hằng ngay cả trong giấc ngủ sâu nhất. Như Mã Tổ đã nói: "đạt được một lần, đạt được mãi mãi". Bất kỳ sự giác ngộ nào đến rồi đi hoặc có các cấp độ đều không hơn gì ảo tưởng.

— Seongcheol, [2][4][7]

Di sản

Seongcheol đóng vai trò chủ chốt trong việc chấn hưng Phật giáo Hàn Quốc, vốn đã rơi vào tình trạng hỗn loạn trầm trọng sau thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng.[1] Ông là một trong những nhà lãnh đạo công cuộc cải cách, khôi phục lối sống độc thân, tu tập nghiêm ngặt, đời sống tu viện và hạnh khất thực cho Phật giáo Hàn Quốc. Sau này, với danh tiếng ngày càng lan rộng, ông đã giúp cải thiện hình ảnh Phật giáo vốn bị mất uy tín trong mắt công chúng, chuyển từ hình ảnh một nhóm các nhà sư danh nghĩa kết hôn, sở hữu doanh nghiệp và thường xuyên thông đồng với quân chiếm đóng Nhật Bản, sang hình ảnh những hành giả nghiêm túc, không bao giờ kết hôn và không sở hữu bất kỳ tài sản nào. Seongcheol cũng đóng góp đáng kể vào việc khôi phục tư tưởng "đốn ngộ, đốn tu" của Huệ Năng, đồng thời làm sáng tỏ các khái niệm về thực hành công án, thiền định, đời sống tu viện và giác ngộ. Hơn một thập kỷ sau khi ông qua đời, các tác phẩm của ông vẫn được đọc và tôn trọng rộng rãi, và các cuộc hành hương đến chùa Haeinsa vẫn là một hoạt động trụ cột đối với các Phật tử.

Tài liệu tham khảo

  1. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z aa ab ac ad ae af ag ah ai aj ak al am an ao 원택. (2001). 성철스님 시봉이야기. Seoul: 김영사. (Wontek. (2001). Seongcheol Seunim Sibong Iyagi. Seoul: Kimyoungsa.) ISBN 89-349-0847-5
  2. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p 인터넷 사바세계와 함께 하는 성철큰스님
  3. ^ a b c d e f g h 퇴옹 성철. (1987). 자기를 바로 봅시다. 해인사 백련암 (Korea): 장경각. (Toeng Seongcheol. (1987). Jaghireul Baro Bopshida. Haeinsa Baekryun'am (Korea): Jang'gyung'gak.) ISBN 89-85244-11-6
  4. ^ a b c d e f g h i j 퇴옹 성철. (1988). 영원한 자유. 해인사 백련암 (Korea): 장경각. (Toeng Seongcheol. (1988). Yongwonhan Jayou. Haeinsa Baekryun'am (Korea): Jang'gyung'gak.) ISBN 89-85244-10-8ISBN 89-85244-10-8
  5. ^ 퇴옹 성철. (1976). 한국불교의 법맥. 해인사 백련암 (Korea): 장경각. (Toeng Seongcheol. (1976). Hanguk Bulgyo Ei Bupmaek. Haeinsa Baekryun'am (Korea): Jang'gyung'gak.) ISBN 89-85244-16-7
  6. ^ a b c d e f 퇴옹 성철. (1987). 선문정로. 해인사 백련암 (Korea): 장경각. (Toeng Seongcheol. (1987). Seon Mun Jung Ro. Haeinsa Baekryun'am (Korea): Jang'gyung'gak.) ISBN 89-85244-14-0
  7. ^ a b c d e f g h i j k l 퇴옹 성철. (1992). 백일법문. 해인사 백련암 (Korea): 장경각. (Toeng Seongcheol. (1992). Baek Il Bupmun. Haeinsa Baekryun'am (Korea): Jang'gyung'gak.) ISBN 89-85244-05-1, ISBN 89-85244-06-X
  8. ^ a b 용화선원

Liên kết ngoài

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).