Bước tới nội dung

Địa lý Angola

12°30′N 18°30′Đ / 12,5°N 18,5°Đ / -12.500; 18.500
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Địa lý Angola
Lục địaChâu Phi
VùngNam phần châu Phi
Tọa độ12°30′N 18°30′Đ / 12,5°N 18,5°Đ / -12.500; 18.500
Biên giớiTổng chiều dài: 5.369 km
CHDC Congo: 2.646 km
Namibia: 1.427 km
Zambia: 1.065 km
CH Congo: 231 km
Địa hìnhĐồng bằng duyên hải hẹp, dốc ngược lên cao nguyên nội địa rộng lớn

Địa lý Angola đặc trưng bởi sự đa dạng về cảnh quan, nằm ở bờ biển phía tây Đại Tây Dương thuộc khu vực miền Nam Phi. Quốc gia này bị kẹp giữa Namibia ở phía nam và Cộng hòa Congo ở phía bắc. Về mạn đông, lãnh thổ Angola trải dài và tiếp giáp với Cộng hòa Dân chủ Congo cùng Zambia.

Cấu trúc địa hình của quốc gia này bao gồm một dải đồng bằng duyên hải cằn cỗi và khan hiếm nguồn nước, rộng từ 50 đến 160 km kéo dài vào trong đất liền. Càng đi sâu vào nội địa, cảnh quan chuyển sang một vành đai đồi núi chạy song song với đường bờ biển, và cuối cùng nhường chỗ cho một vùng cao nguyên vô cùng rộng lớn. Tổng diện tích đất liền của Angola là 1.246.700 km2 (481.400 dặm vuông Anh). Nước này cũng nắm giữ vùng đặc quyền kinh tế biển rộng 518.433 km2 (200.168 dặm vuông Anh).

Diện tích

  • Tổng diện tích: 1.246.700 km2 (481.400 dặm vuông Anh) (diện tích mặt nước không đáng kể).[1] Đứng thứ 22 trên thế giới về quy mô quốc gia.
  • Chiều dài đường bờ biển: 1.600 km (990 mi).[1]
  • Đường biên giới trên bộ: Angola có tổng cộng 5.369 km đường biên giới. Trong đó, đoạn biên giới chung với CHDC Congo dài nhất (2.646 km, bao gồm cả 225 km đường bao quanh tỉnh Cabinda - một lãnh thổ tách rời của Angola). Các quốc gia láng giềng khác bao gồm Namibia (1.427 km), Zambia (1.065 km) và CH Congo (231 km).[1]
  • Tuyên bố hàng hải: Lãnh hải 22 km (12 nmi), vùng tiếp giáp 44 km (24 nmi) và vùng đặc quyền kinh tế 370 km (200 nmi).[1]

Địa chất

Bản đồ địa hình của Angola.

Lãnh thổ Angola được phân chia thành ba khu vực địa chất chính: đới duyên hải (littoral zone), đới trung tâm (median zone) bao gồm dải đồi chạy dọc bờ biển, và vùng cao nguyên nội địa.[2]

Vùng cao nguyên trung tâm được cấu tạo bởi lớp đá kết tinh cổ xưa với đá hoa cương (granite), bao phủ bên trên là sa thạch không chứa hóa thạchđá cuội kết thuộc Đại Cổ sinh. Lớp đất đá ong (laterit) gần như che khuất các phần đá lộ thiên. Đới trung tâm cũng chứa chủ yếu đá hoa cương và đá vô sinh Cổ sinh. Ngược lại, chỉ có đới duyên hải mới chứa các tầng địa chất sinh hóa thạch, thuộc Kỷ Đệ TamKỷ Phấn trắng. Điển hình là các lớp đá thuộc Kỷ Phấn trắng gần vùng Dombe Grande (sát Benguela) có niên đại từ Kỳ Alba và thuộc đới sinh học chứa hóa thạch lớp cúc đá Acanthoceras mamillari. Các tầng chứa Schloenbachia inflata được cho là thuộc Kỳ Gault.

Các rặng đá có tuổi đời Kỷ Đệ Tam được bắt gặp ở Dombe Grande, Moçâmedes và sát thủ đô Luanda. Các lớp sa thạch hòa lẫn thạch cao, đồnglưu huỳnh ở Dombe được dự đoán (dù chưa chắc chắn) là thuộc Kỷ Trias. Các dạng đá phun trào gần đây, chủ yếu là đá bazan, đã tạo nên một vành đai đồi trọc thiếu vắng thảm thực vật nằm giữa Benguela và Moçâmedes. Đá bazan nephelineđá liparit cũng xuất hiện tại Dombe Grande. Sự hiện diện của mủ hổ phách (gum copal) với trữ lượng lớn trên bề mặt đá là đặc tính tiêu biểu của một vài phân vùng tại đây.[2]

Lịch sử kiến tạo địa chất và hình thái bờ biển phía tây Angola gắn liền trực tiếp với sự tách giãn của Nam Đại Tây Dương, khởi nguồn từ đầu Kỷ Phấn trắng và tiếp diễn đến Thế Eocen. Dấu vết kiến tạo này được phản ánh sinh động qua quần thể hóa thạch động vật không xương sốngcó xương sống tại khu vực bờ Tây.[3] Đặc biệt, mỏ kim cương Catoca từng gây chấn động giới cổ sinh vật học khi lưu giữ được các dấu chân 128 triệu năm tuổi của khủng long, động vật có vú cổ đại và tổ tiên của loài cá sấu.[4]

Địa hình

Cấu trúc bề mặt địa hình của Angola cực kỳ ấn tượng, chuyển tiếp gắt gao từ tây sang đông:

  • Đồng bằng ven biển: Là một dải đất hẹp và thấp, chạy sát mép nước Đại Tây Dương.
  • Vùng đồi núi trung chuyển: Từ dải đồng bằng, địa hình bất ngờ dốc ngược lên tạo thành những dãy đồi và vùng núi non hiểm trở.
  • Cao nguyên nội địa: Chiếm phần lớn diện tích đất liền, đây là vùng bình nguyên mênh mông trải dài về mạn đông và nam. Điểm nhô cao nhất toàn quốc là đỉnh Núi Moco (2.620 m).

Khí hậu

Bản đồ Angola theo phân loại khí hậu Köppen.

Tương tự phần lớn khu vực châu Phi nhiệt đới, Angola có khí hậu phân thành hai mùa luân phiên: mùa mưamùa khô. Ở mạn Bắc, mùa mưa thường kéo dài tới bảy tháng, bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 4 (đôi khi giảm nhẹ vào tháng 1 hoặc tháng 2). Về phía Nam, mùa mưa đến muộn hơn (vào tháng 11) và chỉ kết thúc vào khoảng tháng 2. Mùa khô (được người địa phương gọi là cacimbo) thường xuyên xuất hiện những lớp sương mù dày đặc vào sáng sớm.

Nhìn chung, lượng mưa dồi dào hơn ở miền Bắc và tăng dần khi đi sâu vào vùng cao nguyên nội địa. Nhiệt độ hạ thấp dần theo độ cao và theo khoảng cách so với đường Xích đạo, đồng thời có xu hướng ấm hơn nếu tiến sát về phía Đại Tây Dương. Ví dụ, tại thành phố Soyo ngay cửa Sông Congo, nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 26 °C; tuy nhiên con số này chỉ còn dưới 16 °C tại Huambo (vùng cao nguyên trung tâm mang khí hậu ôn đới). Thời điểm mát mẻ nhất rơi vào tháng 7 và tháng 8 (giữa mùa khô), khi đó các khu vực đỉnh núi cao có thể xuất hiện sương giá.[5]

Biểu đồ khí hậu các thành phố tiêu biểu

Luanda
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
 1 2 3 4 5 6 7 8 9101112
 
 
30
 
 
30
24
 
 
36
 
 
31
25
 
 
114
 
 
31
25
 
 
136
 
 
30
24
 
 
16
 
 
29
23
 
 
0
 
 
26
20
 
 
0
 
 
24
19
 
 
1
 
 
24
19
 
 
2
 
 
25
20
 
 
7
 
 
27
22
 
 
32
 
 
28
23
 
 
31
 
 
29
24
Trung bình tối đa và tối thiểu (°C)
Tổng lượng giáng thủy (mm)
Nguồn: Deutscher Wetterdienst[6] & Meteo Climat[7]
Huambo
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
 1 2 3 4 5 6 7 8 9101112
 
 
220
 
 
25
14
 
 
179
 
 
25
14
 
 
239
 
 
25
14
 
 
146
 
 
26
14
 
 
14
 
 
25
11
 
 
0
 
 
25
8
 
 
0
 
 
25
8
 
 
1
 
 
27
10
 
 
19
 
 
29
13
 
 
119
 
 
27
14
 
 
227
 
 
25
14
 
 
234
 
 
25
14
Trung bình tối đa và tối thiểu (°C)
Tổng lượng giáng thủy (mm)
Nguồn: Deutscher Wetterdienst[8]

Môi trường và sử dụng đất

Angola sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng trù phú, đóng vai trò sống còn đối với nền kinh tế. Các mỏ khoáng sản quan trọng nhất bao gồm dầu mỏ, kim cương, quặng sắt, phosphat, đồng, feldspar, vàng, bauxiteuranium.[1] Tuy nhiên, hệ sinh thái tại Angola đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường nan giải. Sự mở rộng của hoạt động khai khoáng và nạn phá rừng bừa bãi đã làm sụt giảm nghiêm trọng độ che phủ cây xanh. Hoạt động chăn thả gia súc quá mức làm cằn cỗi nhiều vùng đồng cỏ bản địa. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm không khí và sự yếu kém trong khâu quản lý chất thải cũng là điểm nóng tại nhiều khu đô thị đang phát triển. Thỉnh thoảng, quốc gia này còn phải hứng chịu những trận mưa trút nước bất thường, kéo theo các đợt lũ lụt tàn phá nghiêm trọng.

Các vùng sinh thái

Ảnh vệ tinh của Angola, 2022.

Hệ sinh thái của Angola được phân chia thành các vùng sinh thái (ecoregion) vô cùng đa dạng, tiêu biểu có thể kể đến:

  • Xavan và rừng thưa sườn dốc Angolan (Angolan Scarp savanna and woodlands): Bao phủ dải vách núi dốc đứng nằm sát bờ biển.
  • Khảm rừng-đồng cỏ ngập nước Angolan (Angolan montane forest-grassland mosaic): Nằm ở khu vực sườn đồi sâu trong cao nguyên trung tâm, nơi những thảo nguyên cỏ bao phủ đan xen với các mảng rừng trên núi hiếm hoi.
  • Rừng Miombo Angolan (Angolan miombo woodlands): Chiếm gần như toàn bộ bình nguyên nội địa rộng lớn và khu vực miền trung Angola.
  • Rừng Mopane Angolan (Angolan mopane woodlands): Trải rộng khắp khu vực mạn nam, chủ yếu tập trung tại tỉnh Cunene và vươn dài xuyên qua đường biên giới với Namibia.

Điểm cực

Dưới đây là các vị trí vươn xa nhất về 4 hướng địa lý trên bản đồ Angola: Toàn bộ lãnh thổ (bao gồm cả tỉnh tách rời):

  • Cực Bắc: Một điểm không tên trên đường biên giới với Cộng hòa Congo, nằm ở phía bắc thị trấn Caio Bemba, thuộc tỉnh Cabinda (vùng lãnh thổ tách rời của Angola).
  • Cực Đông: Một địa điểm không tên nằm trên một khúc sông phân định biên giới với Zambia (phía bắc thị trấn Sapeta của Zambia), thuộc tỉnh Moxico.
  • Cực Nam: Giao điểm nơi Sông Cunene (đoạn đóng vai trò là biên giới tự nhiên với Namibia) kết thúc tại Dải Caprivi (nằm ngay phía bắc thị trấn Andara, Namibia), thuộc tỉnh Cuando Cubango.
  • Cực Tây: Hòn đảo Baía dos Tigres, thuộc tỉnh Namibe.

Chỉ tính phần lãnh thổ chính (lục địa):

  • Cực Bắc: Điểm nằm trên đường biên giới với Cộng hòa Dân chủ Congo, ngay sát phía tây bắc của thị trấn Luvo, tỉnh Zaire.
  • Cực Đông: Giống cực đông của toàn lãnh thổ (thuộc tỉnh Moxico).
  • Cực Nam: Giống cực nam của toàn lãnh thổ (thuộc tỉnh Cuando Cubango).
  • Cực Tây: Mũi đất không tên nằm về phía tây thị trấn Tombua (Porto Alexandre), tỉnh Namibe.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a b c d e "Angola". The World Factbook. Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA). ngày 16 tháng 11 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2021.
  2. ^ a b Chisholm, Hugh (1911). Encyclopædia Britannica (11th ed.): Angola. Quyển 2. Cambridge University Press. tr. 38–40.
  3. ^ Jacobs, L. L.; Polcyn, M. J.; Mateus, O.; Schulp, A. S.; Gonçalves, A. O.; Morais, M. L. (2016). "Post-Gondwana Africa and the vertebrate history of the Angolan Atlantic Coast". Memoirs of Museum Victoria. Quyển 74. tr. 343–362.
  4. ^ Mateus, O.; Marzola, M.; Schulp, A.S.; Jacobs, L.L.; Polcyn, M.J.; Pervov, V.; Gonçalves, A.O.; Machado, M. (2011). "First dinosaur tracks from Angola". Journal of Vertebrate Paleontology. Quyển 31 số Supplement 2. tr. 154.
  5. ^ Chisholm, Hugh (1911). Encyclopædia Britannica (11th ed.): Angola. Quyển 2. Cambridge University Press. tr. 39.
  6. ^ "Klimatafel von Luanda, Prov. Luanda / Angola" (PDF). Baseline climate means (1961-1990) from stations all over the world. Deutscher Wetterdienst. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2016.
  7. ^ "Station Luanda". Meteo Climat. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2016.
  8. ^ "Klimatafel von Huambo (Nova Lisboa), Prov. Huambo / Angola" (PDF). Baseline climate means (1961-1990) from stations all over the world. Deutscher Wetterdienst. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2016.

Liên kết ngoài