Địa lý Uganda
| Tập tin:Uganda (orthographic projection).svg | |
| Vùng | Đông Phi |
|---|---|
| Tọa độ | 1°00′B 32°00′Đ / 1°B 32°Đ |
| Diện tích | |
| • Đất | 81.77% |
| • Nước | 18.23% |
| Biên giới | Tổng cộng: 2.729 km (1.696 dặm) Cộng hòa Dân chủ Congo: 877 km (545 dặm) Kenya: 814 km (506 dặm) Nam Sudan: 475 km (295 dặm) Tanzania: 391 km (243 dặm) Rwanda: 172 km (107 dặm) |
| Điểm cao nhất | Đỉnh Margherita (Núi Stanley), 5.109 m (16.762 ft) |
| Điểm thấp nhất | Sông Albert Nile (Biên giới Nam Sudan), 621 m (2.037 ft) |
| Sông dài nhất | Sông Nile (Nile Trắng), 4.130 km (2.566 dặm) (tổng chiều dài hệ thống) |
| Hồ lớn nhất | Hồ Victoria (Phần thuộc Uganda: 31.000 km²) |
| Địa hình | Phần lớn là một cao nguyên rộng lớn bao la thoải dốc nhẹ về phía bắc; được bao bọc bởi các rặng núi lửa cổ cao ngất và các thung lũng đứt gãy Đông Phi sừng sững ở phía tây và đông; hệ thống hồ nước ngọt và đầm lầy trù phú chiếm diện tích lớn ở trung tâm. |
Địa lý Uganda mô tả các đặc điểm tự nhiên, địa hình, địa chất, hệ thống thủy văn trù phú và tài nguyên sinh thái của Uganda (tên gọi chính thức là Cộng hòa Uganda), một quốc gia hoàn toàn nằm trong nội địa (quốc gia nội lục) thuộc khu vực Đông Phi.[1] Được thủ tướng Anh Winston Churchill mệnh danh là "Viên ngọc của châu Phi" (Pearl of Africa), Uganda tọa lạc ngay trên đường Xích đạo, tại vùng giao thoa sinh thái chiến lược giữa vùng thảo nguyên Đông Phi bao la và vùng rừng mưa nhiệt đới bồn địa Congo rậm rạp.[2]
Uganda sở hữu tổng diện tích lãnh thổ là 241.038 kilômét vuông (khoảng 93.065 dặm vuông), xếp thứ 81 trên thế giới.[3] Trong cơ cấu trắc địa của đất nước, diện tích đất liền chiếm khoảng 197.100 kilômét vuông (phần trăm đất chiếm 81,77%) và diện tích mặt nước chiếm một tỷ lệ khổng lồ hiếm thấy lên tới 43.938 kilômét vuông (18,23%), do quốc gia này sở hữu một phần lớn của Hồ Victoria cùng hàng loạt hệ thống hồ và đầm lầy lớn nội địa.[3] Về mặt biên giới đất liền, Uganda có chung đường ranh giới dài tổng cộng 2.729 kilômét (1.696 dặm) tiếp giáp với năm quốc gia: Cộng hòa Dân chủ Congo ở phía tây (877 km), Kenya ở phía đông (814 km), Nam Sudan ở phía bắc (475 km), Tanzania ở phía nam (391 km) và Rwanda ở phía tây nam (172 km).[3]
Địa hình tổng thể của Uganda mang đặc trưng của một cao nguyên lượn sóng khổng lồ thoải dốc nhẹ từ nam xuống bắc.[1] Rìa phía tây của đất nước bị cắt xẻ sâu sắc bởi hệ thống thung lũng đứt gãy Albertine Rift (một nhánh của Thung lũng tách giãn Lớn), nơi tập trung các đỉnh núi cao phủ băng tuyết vĩnh cửu và các hồ nước sâu thẳm.[2] Thủ đô kiêm đô thị trung tâm kinh tế lớn nhất nước là Kampala, một thành phố sầm uất được xây dựng trên chuỗi các đồi thấp sát bờ hồ Victoria.[1]
Các khu vực địa hình
Địa hình Uganda phân hóa thành các vùng sinh thái đặc trưng chạy dọc theo cấu trúc địa chất kiến tạo của Đông Phi:[2]
Cao nguyên Trung tâm (The Central Plateau)
Chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ đất nước với độ cao trung bình ổn định từ 900 đến 1.500 mét so với mực nước biển. Bề mặt cao nguyên phẳng đến trập trùng đồi núi thấp, bị chia cắt mạnh bởi mạng lưới đầm lầy dày đặc nối liền với Hồ Kyoga.[1] Đây là vùng đất nông nghiệp cốt lõi, tập trung đông đúc cư dân nhờ lượng mưa điều hòa trù phú.
Chuỗi núi Rwenzori và Nhánh đứt gãy phía Tây
Chạy dọc theo sườn biên giới phía tây giáp với Cộng hòa Dân chủ Congo. Nơi đây sừng sững dãy núi Dãy núi Rwenzori (được mệnh danh là Núi Mặt Trăng trong sử thi cổ đại) — một trong những rặng núi cao nhất châu Phi không có nguồn gốc từ núi lửa.[4] Tại đây vươn lên Đỉnh Margherita thuộc khối núi Stanley đạt độ cao kỷ lục 5.109 mét (16.762 ft), quanh năm mây mù bao phủ và có băng hà tuyết phủ vĩnh cửu.[3] Phía dưới chân núi hạ sụt mạnh mẽ thành lòng thung lũng đứt gãy chứa Hồ Albert và Hồ Edward.[2]
Các khối núi lửa cổ sườn Đông
Nằm dọc biên giới phía đông giáp với Kenya, địa hình nâng cao đột ngột thành các khối núi lửa cổ lớn đã tắt. Nổi bật nhất là Núi Elgon, một ngọn núi lửa hình khiên khổng lồ có đường kính chân núi lớn nhất thế giới, đạt độ cao 4.321 mét.[5] Sườn núi Elgon dồi dào đất đá bazan phì nhiêu, là vựa sản xuất cà phê Arabica chất lượng cao xuất khẩu của đất nước.[6]
Vùng trũng sụt sườn Bắc (Karamoja)
Nằm ở cực đông bắc đất nước. Địa hình chuyển tiếp hạ thấp xuống một bình nguyên khô cằn gồ ghề rải rác các vách đá đứng cô lập. Vùng Karamoja mang đặc trưng sinh thái của dải bán khô hạn thảo nguyên cây bụi gai xơ xác, thường xuyên chịu hạn hán cực đoan.[2]
Địa chất
Nền tảng kiến tạo của Uganda vô cùng vững chắc và lâu đời, liên quan mật thiết đến cấu trúc của móng lục địa châu Phi:[7]
- Lớp móng Tiền Cambri cổ đại: Chiếm hơn 80% cấu trúc nền đất nước, bao gồm các khối đá granite, gneiss và đá phiến thuộc khiên lục địa cổ có tuổi đời từ 1,5 đến 3 tỷ năm. Lớp đá cổ này chứa các mạch khoáng sản kim loại màu giá trị như đồng ở Kilembe và vàng bồi tích ở vùng Busia.[8]
- Hệ thống Đứt gãy Đông Phi (Cenozoic): Quá trình tách giãn kiến tạo vẫn đang tiếp diễn ở phía tây đã hình thành nên bồn địa sụt trũng sâu, tích tụ lớp trầm tích hữu cơ dày hàng ngàn mét dưới lòng Hồ Albert. Đây chính là nơi phát hiện ra các mỏ Dầu mỏ trữ lượng thương mại khổng lồ của Uganda.[3]
Hệ thổ nhưỡng của Uganda được bách khoa đánh giá là thuộc hàng màu mỡ nhất châu Phi:[2]
- Đất Đỏ Bazan phì nhiêu (Nitisols): Tập trung bạt ngàn quanh bồn địa hồ Victoria và sườn núi Elgon, núi Rwenzori. Đất hình thành từ đá núi lửa và đá trầm tích cổ phong hóa, dồi dào chất dinh dưỡng và giữ nước cực tốt, tạo điều kiện lý tưởng cho thâm canh chè, cà phê, chuối và ngô.[1]
- Đất Cát Pha và Đất Sét Đầm Lầy (Gleysols): Chiếm các thung lũng sụt và lòng chảo hồ Kyoga, thích hợp cho canh tác lúa nước hữu cơ.[2]
Khí hậu
Mặc dù nằm ngay trên đường xích đạo, Uganda không phải chịu kiểu khí hậu xích đạo nóng nực, oi bức điển hình nhờ có cao nguyên nội địa nâng cao địa hình đáng kể. Khí hậu toàn quốc chủ yếu mang đặc trưng nhiệt đới xavan ẩm hoặc khí hậu gió mùa bán duyên hải, với thời tiết ôn hòa, dễ chịu quanh năm.[9]
Chế độ mưa gió mùa
Uganda trải qua hai mùa mưa rõ rệt trong năm do sự dịch chuyển của Đới hội tụ liên nhiệt đới (ITCZ):[9]
- Mùa mưa thứ nhất: Kéo dài từ tháng 3 đến tháng 5.
- Mùa mưa thứ hai: Kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11.
- Vùng bồn địa Hồ Victoria nhận được lượng mưa dồi dào nhất đất nước, thường xuyên vượt quá 2.000 mm/năm do hiện tượng bốc hơi nước liên tục tạo đối lưu giông bão tại chỗ. Ngược lại, khu vực phía bắc và vùng Karamoja ở đông bắc có khí hậu khô cằn nhất, với lượng mưa hàng năm dưới 700 mm và chỉ có một mùa mưa ngắn ngủi duy nhất.[10] Nhiệt độ trung bình tại vùng cao nguyên Kampala dao động ổn định mát mẻ từ 16 °C (61 °F) vào ban đêm đến 28 °C (82 °F) vào ban ngày.[9]
Bảng dữ liệu Khí hậu tại thủ đô Kampala
Thủ đô Kampala tọa lạc ở phía nam đất nước bên bờ hồ Victoria, mang khí hậu nhiệt đới xavan ẩm chuyển tiếp xích đạo điều hòa cao nguyên độc đáo.
Bảng dữ liệu Khí hậu tại Kampala (Weather box)
| Dữ liệu khí hậu của Kampala (1961–1990) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 28.6 (83.5) |
29.3 (84.7) |
28.7 (83.7) |
27.5 (81.5) |
27.0 (80.6) |
26.9 (80.4) |
26.8 (80.2) |
27.3 (81.1) |
28.1 (82.6) |
28.7 (83.7) |
28.5 (83.3) |
28.0 (82.4) |
28.0 (82.3) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 23.2 (73.8) |
23.8 (74.8) |
23.7 (74.7) |
23.3 (73.9) |
22.9 (73.2) |
22.4 (72.3) |
22.0 (71.6) |
22.2 (72.0) |
22.7 (72.9) |
23.2 (73.8) |
23.2 (73.8) |
22.8 (73.0) |
23.0 (73.3) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 17.7 (63.9) |
18.2 (64.8) |
18.6 (65.5) |
19.1 (66.4) |
18.8 (65.8) |
17.9 (64.2) |
17.1 (62.8) |
17.1 (62.8) |
17.2 (63.0) |
17.7 (63.9) |
17.9 (64.2) |
17.5 (63.5) |
17.9 (64.2) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 46 (1.8) |
61 (2.4) |
130 (5.1) |
175 (6.9) |
147 (5.8) |
74 (2.9) |
46 (1.8) |
86 (3.4) |
91 (3.6) |
97 (3.8) |
122 (4.8) |
99 (3.9) |
1.174 (46.2) |
| Số ngày giáng thủy trung bình | 4 | 5 | 9 | 14 | 12 | 6 | 5 | 8 | 9 | 11 | 12 | 8 | 103 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 66 | 65 | 69 | 76 | 76 | 74 | 72 | 73 | 71 | 70 | 71 | 68 | 71 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 176.7 | 173.6 | 186.0 | 162.0 | 170.5 | 183.0 | 189.1 | 182.9 | 168.0 | 182.9 | 174.0 | 164.3 | 2.113 |
| Nguồn: WMO[11] | |||||||||||||
Biểu đồ Khí hậu tại Kampala
| Kampala | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Biểu đồ khí hậu (giải thích) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thủy văn
Uganda sở hữu một trong những mạng lưới thủy văn trù phú và kỳ vĩ bậc nhất thế giới, là trung tâm điều tiết nước cốt lõi của toàn bộ Đông Phi:[2]
Sông Nile Trắng và Lưu vực đầu nguồn
- Sông Nile: Uganda là nơi thượng nguồn vĩ đại của dòng sông Nile Trắng bắt đầu hải trình xuyên lục địa. Dòng sông Nile chảy thoát ra khỏi Hồ Victoria tại thành phố Jinja (được gọi là Victoria Nile), chảy cắt xiên ngang qua thác nước Murchison Falls nổi tiếng đổ vào Hồ Albert. Từ hồ Albert, sông tiếp tục chảy ngược lên phía bắc với tên gọi Albert Nile hướng thẳng sang biên giới Nam Sudan.[12]
Hệ thống hồ nước ngọt
- Hồ Victoria: Là hồ nước ngọt lớn nhất châu Phi và lớn thứ hai trên thế giới. Phần diện tích thuộc chủ quyền của Uganda chiếm khoảng 31.000 km², mang lại nguồn sinh kế thủy sản khổng lồ cho đất nước.[1]
- Hồ Kyoga: Tọa lạc ngay trung tâm đất nước, đây là một hệ thống hồ nông trù phú nước ngọt, bao quanh bởi dải rừng đầm lầy và cây giấy papyrus khổng lồ, đóng vai trò như một hồ điều hòa lưu lượng cho sông Nile Trắng.[2]
- Hồ Albert và Hồ Edward: Nằm sâu trong thung lũng tách giãn phía tây, sở hữu lượng nước rất sâu và phong phú về các loài cá rạn đặc hữu Swahili.[8]
Tài nguyên thiên nhiên
Lãnh thổ Uganda sở hữu các vùng lâm thổ sản đa dạng sinh học vô giá cùng nguồn tài nguyên khoáng sản phi sinh học phong phú:[3]
- Tài nguyên khai khoáng: Phát hiện chiến lược về các túi dầu mỏ lớn dưới lòng bồn địa bồi tích hồ Albert mở ra trang sử mới cho kinh tế quốc gia. Ngoài ra, đất nước còn lưu giữ các quặng đồng, cobalt, vàng và đá vôi nguyên liệu xi măng.[3]
- Sử dụng đất (Ước tính năm 2018):
- Đất phục vụ nông nghiệp: 71,2%
- Đất thâm canh canh tác trồng trọt: 34,3%
- Cây trồng lâu năm (chuối, chè, cà phê, ca cao): 11,3%
- Đồng cỏ lâu năm dành cho chăn nuôi mục súc: 25,6%
- Diện tích rừng và thảm phủ xanh tự nhiên: 14,5%
- Khác (Diện tích đô thị, đầm lầy hồ nội địa): 14,3%
- Đất phục vụ nông nghiệp: 71,2%
- Đất có hệ thống tưới tiêu trắc địa: 140 km² (54 dặm vuông) (Ước tính năm 2012).[3]
Các vấn đề môi trường
Uganda hiện đang phải đối diện với các cuộc khủng hoảng sinh thái nghiêm trọng, do áp lực từ đà bùng nổ dân số và biến đổi khí hậu nhiệt đới:[3]
- Nạn phá rừng ở mức báo động: Diện tích thảm che phủ rừng tự nhiên bị suy giảm mạnh mẽ do người dân chặt cây bừa bãi lấy củi làm than sinh hoạt chiếm tới 90% nhu cầu năng lượng và phá rừng mở rộng đồn điền nông nghiệp nghiệp dư.[1]
- Suy thoái đất và Xói mòn đồi cao: Canh tác quá mức trên các sườn dốc hiểm trở của vùng núi Kabale và Elgon mà không áp dụng ruộng bậc thang làm gia tăng hiện tượng sạt lở đất nghiêm trọng vào mùa mưa lớn Masika.[6]
- Hủy hoại các vùng đất ngập nước: Việc lấn chiếm và thoát nước các đầm lầy quanh hồ Kyoga, hồ Victoria để trồng lúa nước và xây nhà xưởng công nghiệp đang làm suy sụp nghiêm trọng nguồn nước sạch tự nhiên và đẩy nhiều loài chim di cư, sinh vật hoang dã bản địa vào thế nguy cấp.[13]
Các điểm cực địa lý
Dưới đây là bốn điểm cực địa lý vươn xa nhất của lãnh thổ Cộng hòa Uganda:
- Cực Bắc: Đường biên giới thẳng đứng tiếp giáp với Nam Sudan, nằm ở phía bắc thị trấn Lokichogio thuộc quận Yumbe.
- Cực Nam: Điểm ranh giới ba bên giáp với Rwanda trên dòng sông Kagera, thuộc quận Kabale.
- Cực Đông: Đoạn biên giới chạy dọc sườn núi lửa cổ Elgon giáp với Kenya, thuộc quận Kaabong.
- Cực Tây: Khúc uốn cực tây của dòng Sông Semliki trên đường ranh giới giáp với Cộng hòa Dân chủ Congo, thuộc quận Bundibugyo.
Thư viện ảnh
-
Hươu cao cổ Mặt Lưới tại Vườn quốc gia Hồ Mburo.
-
Đường xích đạo đi qua Uganda.
-
Nguồn của dòng sông Nile Trắng thoát ra từ hồ Victoria tại Jinja.
-
Cảnh quan thảo nguyên bao la hoang sơ tại Vườn quốc gia Thung lũng Kidepo, cực bắc Uganda.
-
Thác nước Sipi ba tầng tuyệt đẹp đổ dốc từ sườn núi lửa cổ Elgon, miền đông Uganda.
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b c d e f g Langlands, B. W. (1971). A Geography of Uganda. Kampala: Uganda Publishing House.
- ^ a b c d e f g h i "Uganda - Land, Relief, and Drainage". Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2026.
- ^ a b c d e f g h i "Uganda - The World Factbook". Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2026.
- ^ Osmaston, Henry (1998). Glaciers and Environmental Change in the Rwenzori Mountains. Kampala: Makerere University.
- ^ Davies, T. C. (2008). "The environmental geochemistry of Mount Elgon, Uganda". Environmental Geochemistry and Health. Quyển 30. tr. 451–466. doi:10.1007/s10653-008-9198-3.
- ^ a b Davies, T. C. (2008). "The environmental geochemistry of Mount Elgon, Uganda". Environmental Geochemistry and Health. Quyển 30. tr. 451–466. doi:10.1007/s10653-008-9198-3.
- ^ Schlüter, Thomas (1997). "Geology of Uganda". Geologisches Jahrbuch. Quyển 15. tr. 34–89.
- ^ a b Schlüter, Thomas (1997). "Geology of Uganda". Geologisches Jahrbuch. Quyển 15. tr. 34–89.
- ^ a b c Oliver, John E. (2005). The Encyclopedia of World Climatology. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402032646.
- ^ Sultan, B. (2003). "The East African monsoon dynamics and rainfall variability over Uganda". Journal of Climate. Quyển 16. tr. 3389–3406.
- ^ "World Weather Information Service – Kampala". World Meteorological Organization. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2026.
- ^ Sutcliffe, J. V. (1999). The Hydrology of the Nile. Wallingford: IAHS Press. ISBN 978-1901502756.
- ^ NEMA (2019). "National State of the Environment Report for Uganda" (Tài liệu). National Environment Management Authority.
Liên kết ngoài
- Bản đồ và dữ liệu trắc địa bách khoa toàn diện về quốc gia Uganda Lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2021 tại Wayback Machine trên CIA World Factbook.