Địa lý Mozambique
| Tập tin:Mozambique (orthographic projection).svg | |
| Vùng | Đông Phi / Nam Phi |
|---|---|
| Tọa độ | 18°15′N 35°00′Đ / 18,25°N 35°Đ |
| Diện tích | |
| • Đất | 98.37% |
| • Nước | 1.63% |
| Biên giới | Tổng cộng: 4.783 km Malawi: 1.498 km Zimbabwe: 1.400 km Tanzania: 840 km Nam Phi: 496 km Zambia: 450 km Eswatini: 105 km |
| Điểm cao nhất | Monte Binga, 2.436 m |
| Điểm thấp nhất | Ấn Độ Dương, 0 m |
| Sông dài nhất | Sông Zambezi |
| Hồ lớn nhất | Hồ Malawi (chung biên giới) |
| Địa hình | Chủ yếu là vùng đất thấp duyên hải rộng lớn, xen lẫn với các vùng đất cao ở trung tâm và các cao nguyên ở phía tây bắc. |
Địa lý Mozambique mô tả các đặc điểm tự nhiên của Mozambique, một quốc gia tọa lạc trên bờ biển phía đông của miền nam lục địa Châu Phi. Lãnh thổ Mozambique chủ yếu bao gồm các vùng đồng bằng duyên hải rộng lớn, với khu vực trung tâm là những vùng đất cao nhấp nhô và phía tây bắc được đặc trưng bởi những cao nguyên hùng vĩ. Ngoài ra, còn có các dãy núi lớn trải dài ở phần phía tây của đất nước. Mozambique nằm trực diện ở phía tây của đảo Madagascar, bị ngăn cách bởi Eo biển Mozambique. Khí hậu của quốc gia này mang tính chất nhiệt đới rõ rệt với hai mùa chính: mùa mưa kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 và mùa khô từ tháng 4 đến tháng 9.
Đặc điểm tự nhiên
Bờ biển
Đường bờ biển của Mozambique trải dài từ vĩ độ 26° 52′ Nam đến 10° 40′ Nam, và hướng từ nam lên bắc tạo thành một đường cong kép uốn lượn với xu hướng chung là mở rộng ra về phía đông. Tổng chiều dài của đường bờ biển lên tới khoảng 2.300 kilômét (1.430 dặm) (theo một số nguồn CIA là 2.500 km).
Đường bờ biển phía nam nổi bật với những bãi biển cát trắng tuyệt đẹp được che chắn bởi các cồn cát duyên hải đồ sộ. Những cồn cát này có thể cao tới 120 mét (390 ft), và các cồn cát lâu năm thường được bao phủ bởi một thảm thực vật rậm rạp. Ẩn mình ngay sau các cồn cát ven biển này là hệ thống các đầm phá, bao gồm vùng cửa sông, các đầm phá nước mặn khép kín và cả hồ muối.[1] Nằm cách biên giới Nam Phi khoảng 65 km (40 dặm) về phía bắc là vùng vịnh lún sâu mang tên Vịnh Maputo (trước đây gọi là Vịnh Delagoa). Sau đó, vùng đất này cong ra ngoài hướng về phía Mũi Correntes, và chếch lên phía bắc một chút là Vịnh Inhambane. Đường bờ biển tiếp tục uốn lượn về phía tây, đi ngang qua Quần đảo Bazaruto gồm nhiều hòn đảo nhỏ, trong đó đảo lớn nhất là đảo Bazaruto.
Bờ biển miền trung Mozambique, kéo dài từ đảo Bazaruto về phía bắc đến đảo Angoche, được biết đến với tên gọi là Vịnh Sofala (Bight of Sofala). Khu vực này còn được gọi là Bờ biển đầm lầy, đặc trưng bởi những khu rừng đầm lầy ngập mặn và các vùng đất ngập nước ven biển trải rộng mênh mông. Giống như vùng phía nam, bờ biển ở đây nhìn chung khá thấp, có rất ít bến cảng tự nhiên và chất lượng cảng cũng rất kém. Beira là hải cảng chính ở bờ biển miền trung, đóng vai trò sống còn nhờ kết nối hệ thống đường sắt và đường cao tốc với sâu trong nội địa lục địa.
Vịnh Sofala có diện tích khổng lồ lên tới 801.590 km² (309.500 dặm vuông). Thềm lục địa ở khu vực Beira mở rộng lên tới 140 km (87 dặm) và là ngư trường hàng hải quan trọng nhất của Mozambique. Một số con sông lớn, bao gồm sông Save, Pungwe và Zambezi, tạo ra các cửa sông và vùng đồng bằng châu thổ trù phú, trong đó đồng bằng sông Zambezi là lớn nhất.[1] Ở phía bắc dòng Zambezi là sự xuất hiện của các dải đảo san hô nhỏ thuộc quần đảo Primeiras và Segundas nằm song song với bờ biển.
Bờ biển phía bắc của quốc gia này có độ thụt lún vô cùng mạnh mẽ, dồi dào các mũi đá lởm chởm và vách đá gồ ghề, với một dải các hòn đảo chạy gần như liên tục. Nằm trên một trong những hòn đảo này chính là Đảo Mozambique, và ngay phía bắc hải cảng đó là Vịnh Conducia. Xa hơn một chút về phía bắc là hai vịnh lớn: Vịnh Fernao Veloso và Vịnh Memba. Nacala trên Vịnh Fernao Veloso là hải cảng chính ở bờ biển phía bắc, nối liền bằng đường sắt với quốc gia láng giềng Malawi và các mỏ than khổng lồ ở tây bắc Mozambique. Phía bắc của vịnh Fernao Veloso và Memba là Vịnh Pemba, nơi có bến neo đậu rộng rãi và an toàn cho các tàu biển có mớn nước lớn. Phía bắc Vịnh Pemba là Quần đảo Quirimbas nằm ngoài khơi, và vô số các vịnh, cửa sông khác chia cắt sâu vào đường bờ biển. Mũi Delgado, điểm cực bắc trên bờ biển Mozambique, là một phần của vùng châu thổ sông Ruvuma, tạo thành biên giới tự nhiên giữa Mozambique và Tanzania.
Đường bờ biển phía bắc này là một phần của hệ thống bờ biển san hô Đông Phi, một vùng sinh thái biển trải dài dọc theo bờ biển phía bắc Mozambique, Tanzania và Kenya. Dọc theo bờ biển phía bắc, Dòng hải lưu Mozambique (chảy về phía nam giữa Madagascar và lục địa) áp sát bờ biển và xói mòn tất cả các vật liệu địa chất mềm hơn, trong khi đó ở các vùng nước sâu, các rạn san hô vẫn đang không ngừng bồi đắp và phát triển.
Một phân tích viễn thám toàn cầu gần đây đã chỉ ra rằng có khoảng 2.029 km² bãi bùn bồi tích thủy triều (tidal flats) ở Mozambique, khiến quốc gia này xếp hạng thứ 16 trên thế giới về diện tích bãi triều.[2]
Hệ thống địa hình đồi núi
Về mặt hình thái học, "xương sống" của đất nước là chuỗi đồi núi tạo thành sườn dốc phía đông của cao nguyên lục địa Nam Phi. Sườn dốc này không hạ thấp đồng đều xuống các vùng đồng bằng, mà ở một số nơi, như ở vùng hạ lưu sông Zambezi, nó thoai thoải giảm dần xuống tận bờ biển. Dãy núi Lebombo, nằm phía sau Vịnh Delagoa, không ở đâu vượt quá độ cao 630 mét (2.070 ft). Tuy nhiên, Cao nguyên Manica, nằm xa hơn về phía bắc giữa sông Save và sông Zambezi, lại cao hơn nhiều, vươn lên hướng tới Đông Nguyên (Eastern Highlands) dọc theo đường biên giới với Zimbabwe. Đỉnh Monte Binga (2.440 m hay 8.010 ft), ngự trị ngay trên biên giới với Zimbabwe, là đỉnh núi cao nhất của Mozambique. Núi Gorongosa (2.000 m hay 6.550 ft) nằm ở phía đông bắc của Cao nguyên Manica, và cũng giống như cao nguyên này, nó có cấu trúc từ đá granit. Đỉnh Gorongosa, mọc lên cô lập với các sườn dốc đứng ngoạn mục bao quanh, thường được ví như một thành trì kiên cố cau mày nhìn xuống đồng bằng. Xa hơn về phía đông của Gorongosa, một thung lũng địa hào (graben) kéo dài từ lưu vực Zambezi đến tận Vịnh Pungwe, đóng vai trò như phần mở rộng phía nam của hệ thống Thung lũng Rạn nứt Lớn (Đông Phi). Cao nguyên Cheringoma nằm ở phía đông của địa hào này, dốc nhẹ nhàng đổ về phía bờ biển.
Dãy núi chính của quốc gia nằm ở phía bắc dòng Zambezi, và phía đông của Hồ Chilwa, mang tên là Dãy núi Namuli. Tại đây, Đỉnh Namuli kiêu hãnh vươn cao tới 2.700 mét (8.860 ft), cùng với các đỉnh Molisani, Mruli và Mresi đều đạt được độ cao từ 2.000 đến 2.400 mét (6.500 đến 8.000 ft). Dãy núi này được che phủ bởi những cánh rừng nguyên sinh tráng lệ. Xa hơn về phía bắc, các lưu vực sông bị phân chia rõ rệt bởi các dãy núi nổi bật với độ cao trên 900 mét (3.000 ft). Gần bờ đông nam của Hồ Malawi, có một dải núi cao (từ 1.500 đến 1.800 mét hay 5.000 đến 6.000 ft) với một sườn dốc đứng đột ngột lao thẳng xuống hồ — chênh lệch độ cao có thể lên tới 900 mét (3.000 ft) chỉ trong một khoảng cách 10 km (6 dặm). Khu vực nằm giữa Malawi và Ibo cực kỳ nổi bật với vô số các đỉnh đá granit có hình thù kỳ dị (được gọi là inselberg - núi đảo), mọc nhô lên đột ngột từ bề mặt cao nguyên.
Các vùng cao nguyên nằm ở phía tây của các vách đá sườn dốc có độ cao vừa phải — trung bình từ 600 đến 750 mét (2.000 đến 2.500 ft). Tuy nhiên, chỉ dọc theo sông Zambezi và khu vực phía bắc của con sông này, lãnh thổ Mozambique mới thực sự chạm đến mảng cao nguyên lục địa trung tâm. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) đã phân loại vùng bình nguyên phía bắc này là một phần của vùng sinh thái rừng thưa miombo phía Đông (Eastern miombo woodlands ecoregion).
Sông ngòi
Bên cạnh con sông vĩ đại Zambezi, dòng sông đáng kể nhất ở Mozambique là sông Limpopo, đổ vào Ấn Độ Dương ở vị trí cách Vịnh Maputo khoảng 160 km (100 dặm) về phía bắc. Các con sông lớn khác sở hữu lưu vực thoát nước đáng kể bao gồm Komati, Save, Buzi, và Pungwe ở phía nam sông Zambezi; cùng với sông Licungo (Likungo), Ligonha, Lúrio, Montepuez, Messalo, và sông Ruvuma (cùng chi lưu lớn của nó là sông Lugenda) ở phía bắc sông Zambezi.
Sông Save (hoặc Sabi) bắt nguồn từ lãnh thổ Zimbabwe ở độ cao hơn 900 mét (3.000 ft), và sau khi chảy về phía nam khoảng 320 km (200 dặm), nó ngoặt sang hướng đông và đâm xuyên qua các dãy núi cách bờ biển khoảng 270 km (170 dặm), nơi nó được hợp lưu bởi dòng Lundi ngay gần biên giới Zimbabwe-Mozambique. Các thác nước hiểm trở hoàn toàn ngăn cản hoạt động giao thông đường thủy ở đoạn trên của điểm hợp lưu này. Bên dưới điểm hợp lưu Lundi, lòng sông Save trở nên rộng lớn hơn đáng kể, biến thiên từ 1 đến 3 km (1⁄2 đến 2 dặm). Vào mùa mưa, sông Save biến thành một dòng nước khổng lồ và ngay cả trong những tháng mùa khô, các tàu hơi nước có mớn nước nông vẫn có thể đi từ cửa sông ngược dòng lên trên 240 km (150 dặm). Hướng chảy chính của nó xuyên qua Mozambique là hướng đông hơi lệch bắc. Tại cửa sông, nó hình thành một đồng bằng châu thổ rộng tới 100 km (60 dặm).
Sông Buzi (dài 350 km hay 220 dặm) và sông Pungwe (dài 290 km hay 180 dặm) là các dòng chảy nằm ở phía bắc sông Save và mang các đặc điểm tương tự. Cả hai đều khởi nguồn từ Cao nguyên Manica và đổ ra đại dương qua một vùng cửa sông rộng lớn, với các cửa thoát nước chỉ cách nhau 1,5 đến 3 km. Các đoạn hạ lưu của cả hai con sông này đều cho phép tàu thuyền đi lại được: sông Buzi có thể đi sâu vào 40 km (25 dặm), và sông Pungwe khoảng 3 km (2 dặm). Hải cảng Beira nằm án ngữ ngay tại cửa sông Pungwe.
Trong số các dòng sông ở phía bắc Zambezi, sông Licungo (bắt nguồn từ những ngọn đồi phía đông nam Hồ Chilwa) chảy về hướng nam và đổ vào đại dương không xa khu vực phía bắc Quelimane. Sông Lúrio, bắt nguồn từ Dãy Namuli, chảy về phía đông bắc và có tổng chiều dài lên tới 320 km (200 dặm). Hai con sông Montepuez và Messalo chịu trách nhiệm thoát nước cho toàn bộ vùng lãnh thổ nằm kẹp giữa lưu vực sông Lúrio và sông Ruvuma. Đôi bờ của chúng nhìn chung rất rõ rệt và sự dâng cao của mực nước vào mùa mưa dường như khá ổn định.
Mảng Somali
Các nhà địa chất học đã phân chia Liên đại Hiển Sinh (Phanerozoic) của địa chất Mozambique thành hai kỷ nguyên chính là Karoo và hậu-Karoo. Thuật ngữ này chủ yếu được ứng dụng khi tiến hành các nghiên cứu sâu về cấu trúc và thành phần địa tầng của các khối đá trong thung lũng sông Zambezi.[3] Toàn bộ lãnh thổ của Mozambique đều nằm trọn vẹn bên trên Mảng Somali.[4]
Khí hậu
Mozambique sở hữu kiểu khí hậu nhiệt đới phân hóa thành hai mùa rất rõ rệt: một mùa mưa kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, và một mùa khô hạn kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9. Điều kiện khí hậu thay đổi đáng kể phụ thuộc vào độ cao của địa hình. Lượng mưa thường trút xuống rất nặng hạt dọc theo dải bờ biển và giảm dần khi đi sâu vào vùng phía bắc và phía nam của đất nước.
Lượng mưa hàng năm dao động từ 500 đến 900 mm (19,7 đến 35,4 in) tùy thuộc vào từng khu vực, với mức trung bình cả nước là 590 mm (23,2 in). Các cơn bão nhiệt đới (Cyclones) tàn khốc cũng thường xuyên ập đến trong suốt mùa mưa. Biên độ nhiệt độ trung bình tại thủ đô Maputo dao động từ 13 đến 24 °C (55,4 đến 75,2 °F) vào tháng 7 (mát mẻ nhất) và tăng lên ngưỡng 22 đến 31 °C (71,6 đến 87,8 °F) vào tháng 2 (nóng bức nhất).
Bảng dữ liệu Khí hậu tại Maputo (Weather box)
| Dữ liệu khí hậu của Maputo (độ cao 39 m), Mozambique (1961–1990) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 29.9 (85.8) |
29.6 (85.3) |
29.3 (84.7) |
27.8 (82.0) |
26.4 (79.5) |
24.6 (76.3) |
24.4 (75.9) |
25.3 (77.5) |
26.1 (79.0) |
26.5 (79.7) |
27.4 (81.3) |
29.1 (84.4) |
27.2 (81.0) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 26.3 (79.3) |
26.2 (79.2) |
25.6 (78.1) |
23.5 (74.3) |
21.4 (70.5) |
18.9 (66.0) |
18.8 (65.8) |
20.0 (68.0) |
21.5 (70.7) |
22.4 (72.3) |
23.8 (74.8) |
25.5 (77.9) |
22.8 (73.1) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 22.3 (72.1) |
22.3 (72.1) |
21.5 (70.7) |
19.4 (66.9) |
16.9 (62.4) |
14.4 (57.9) |
14.2 (57.6) |
15.4 (59.7) |
17.2 (63.0) |
18.3 (64.9) |
19.7 (67.5) |
21.4 (70.5) |
18.6 (65.4) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 171.1 (6.74) |
130.5 (5.14) |
105.6 (4.16) |
56.5 (2.22) |
31.9 (1.26) |
17.6 (0.69) |
19.6 (0.77) |
15.0 (0.59) |
44.4 (1.75) |
54.7 (2.15) |
81.7 (3.22) |
85.0 (3.35) |
813.6 (32.04) |
| Số ngày giáng thủy trung bình | 8.1 | 7.6 | 7.0 | 4.4 | 2.8 | 2.4 | 1.8 | 2.2 | 3.2 | 5.5 | 7.9 | 7.5 | 60.4 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 76 | 76 | 77 | 76 | 74 | 73 | 72 | 71 | 73 | 75 | 75 | 74 | 74 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 223 | 210 | 225 | 229 | 253 | 246 | 256 | 252 | 228 | 210 | 198 | 220 | 2.750 |
| Nguồn 1: Deutscher Wetterdienst[5] | |||||||||||||
| Nguồn 2: Viện Khí tượng Đan Mạch (chỉ số giờ nắng)[6] | |||||||||||||
Biểu đồ Khí hậu tại Maputo
| Maputo | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Biểu đồ khí hậu (giải thích) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Tài nguyên rừng
Diện tích che phủ và mức độ mất rừng
Theo dữ liệu phân tích vệ tinh toàn cầu do nền tảng Global Forest Watch cung cấp, hệ sinh thái rừng tại Mozambique đang chịu áp lực dữ dội.[7] Tình trạng phá rừng để lấy gỗ, sản xuất than củi và mở rộng đất nông nghiệp là những nguyên nhân hàng đầu làm sụt giảm nghiêm trọng độ che phủ cây xanh tại quốc gia này.[8] Dưới đây là bảng thống kê ước tính về sự suy giảm diện tích rừng (đối với mật độ che phủ cây lớn hơn 30%) trong những năm gần đây:
| Năm | Tổng diện tích che phủ rừng còn lại (km²) | Lượng rừng mất đi trong năm (km²) |
|---|---|---|
| 2022 | 248.864,45 | 2.378,76 |
| 2023 | 246.242,35 | 2.622,10 |
| 2024 | 243.256,04 | 2.986,31 |
Mức tham chiếu REDD+ và hệ thống giám sát
Để ứng phó với cuộc khủng hoảng mất rừng, Mozambique đã tích cực tham gia vào sáng kiến REDD+ (Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng) của quốc tế. Quốc gia này đã đệ trình và thiết lập một mức tham chiếu cơ sở để liên tục giám sát và đo lường sự thành công của các nỗ lực bảo tồn rừng, nhằm hướng tới nhận được tài trợ carbon từ cộng đồng quốc tế.
Thông tin thêm
Lãnh thổ của Mozambique vô cùng rộng lớn, tạo ra một không gian địa lý chuyển tiếp thú vị. Mặc dù là một quốc gia không giáp biên giới với vùng sa mạc trung tâm, nhưng sự khô hạn vẫn lan tỏa đến vùng tây nam của đất nước do ảnh hưởng từ đới khí hậu cận nhiệt đới lân cận. Quốc gia này sở hữu vùng đặc quyền kinh tế trên biển vô cùng giá trị, rộng 578.986 km² (223.548 dặm vuông), bao gồm một trữ lượng khí đốt tự nhiên (LNG) khổng lồ vừa được phát hiện tại lưu vực Rovuma ngoài khơi bờ biển phía bắc, hứa hẹn thay đổi hoàn toàn cục diện kinh tế của vùng này trong tương lai.
Các điểm cực địa lý
Dưới đây là danh sách các địa điểm vươn xa nhất về 4 hướng của lãnh thổ Mozambique so với bất kỳ nơi nào khác trong nước:
- Cực Bắc: Mũi Delgado, nằm trên bán đảo vươn ra Ấn Độ Dương tại cửa sông Ruvuma, thuộc Tỉnh Cabo Delgado.
- Cực Nam: Một điểm không tên tiếp giáp đường biên giới trên biển với Nam Phi, gần bãi biển Ponta do Ouro.
- Cực Tây: Điểm ngã ba biên giới (tripoint) giáp với Zambia và Zimbabwe, nằm trên dòng sông Zambezi.
- Cực Đông: Một mỏm đá nằm ngay sát Mũi d'Uele (Ponta d'Uele), sát bờ biển Nacala, thuộc Tỉnh Nampula.
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b Burgess, Neil; D'Amico Hales, J.; Underwood, E. (2004). Terrestrial Ecoregions of Africa and Madagascar: A Conservation Assessment. Washington D.C.: Island Press.
- ^ Murray, N.J.; Phinn, S.R.; DeWitt, M. (2019). "The global distribution and trajectory of tidal flats". Nature. Quyển 565 số 7738. tr. 222–225. doi:10.1038/s41586-018-0805-8. PMID 30568300. S2CID 56481043.
- ^ Salman, G.; Abdula, I. (1995). "Development of the Mozambique and Ruvuma sedimentary basins, offshore Mozambique". Sedimentary Geology. Quyển 96 số 1–2. tr. 7–41. doi:10.1016/0037-0738(94)00125-R.
- ^ Emerick, C. M.; Duncan, R. A. (1982). "Age progressive volcanism in the Comores Archipelago, western Indian Ocean and implications for Somali plate tectonics". Earth and Planetary Science Letters. Quyển 60 số 3. tr. 415–428. doi:10.1016/0012-821X(82)90077-2.
- ^ a b "Klimatafel von Maputo-Mavalane (Flugh.) / Mosambik" (PDF). Federal Ministry of Transport and Digital Infrastructure. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016.
- ^ "STATIONSNUMMER 67341" (PDF). Ministry of Energy, Utilities and Climate. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2016.
- ^ "Mozambique Deforestation Rates & Statistics". Global Forest Watch.
- ^ Hansen, Matthew C.; Potapov, Peter V.; Moore, Rebecca (2013). "High-Resolution Global Maps of 21st-Century Forest Cover Change". Science. Quyển 342 số 6160. tr. 850–853. doi:10.1126/science.1244693.
Liên kết ngoài
- Dữ liệu tổng quát về Mozambique Lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2021 tại Wayback Machine trên The World Factbook (CIA).