Địa lý Sudan
| Vùng | Bắc Phi (cũng được tính thuộc Đông Phi) |
|---|---|
| Tọa độ | 15°00′B 30°00′Đ / 15°B 30°Đ |
| Diện tích | |
| • Đất | 93.03% |
| • Nước | 6.97% |
| Biên giới | Tổng cộng: 6.819 km (4.237 dặm) Nam Sudan: 2.158 km (1.341 dặm) Cộng hòa Trung Phi: 1.161 km (721 dặm) Chad: 1.403 km (872 dặm) Ai Cập: 1.276 km (793 dặm) Eritrea: 682 km (424 dặm) Ethiopia: 744 km (462 dặm) Libya: 382 km (237 dặm) |
| Điểm cao nhất | Deriba Caldera (Jebel Marra), 3.042 m (9.980 ft) |
| Điểm thấp nhất | Biển Đỏ, 0 m (0 ft) |
| Sông dài nhất | Sông Nile, 6.650 km (4.132 dặm) (tính toàn bộ lưu vực) |
| Hồ lớn nhất | Hồ Nubia (phần phía nam của Hồ Nasser) |
| Địa hình | Chủ yếu là các bình nguyên bằng phẳng, rộng lớn, bị chia cắt bởi các thung lũng sông; có các dãy núi lớn ở phía tây (Jebel Marra) và phía đông (Dãy núi Biển Đỏ). |
Địa lý Sudan mô tả các đặc điểm tự nhiên, địa thế, cấu trúc thủy văn, khí hậu và sinh thái của Sudan, một quốc gia nằm ở khu vực đông bắc Châu Phi. Trước khi xảy ra sự kiện Nam Sudan ly khai vào năm 2011 để trở thành một quốc gia độc lập, Sudan từng là quốc gia có diện tích lớn nhất châu Phi và thế giới Ả Rập.[1] Hiện nay, Sudan là quốc gia lớn thứ ba tại châu lục này, xếp sau Algérie và Cộng hòa Dân chủ Congo.
Sudan sở hữu tổng diện tích lãnh thổ là 1.861.484 kilômét vuông (khoảng 718.723 dặm vuông). Trong đó, diện tích đất liền chiếm khoảng 1.731.671 kilômét vuông và diện tích mặt nước, bao gồm hệ thống sông ngòi và các hồ chứa nhân tạo, chiếm 129.813 kilômét vuông.[2] Quốc gia này có đường bờ biển dài 853 kilômét (530 dặm) dọc theo Biển Đỏ, mở ra các tuyến hải hành chiến lược kết nối Ấn Độ Dương và Địa Trung Hải.[3] Sudan có chung đường biên giới đất liền với 7 quốc gia láng giềng: Ai Cập ở phía bắc, Libya ở phía tây bắc, Chad ở phía tây, Cộng hòa Trung Phi ở phía tây nam, Nam Sudan ở phía nam, Ethiopia ở phía đông nam, và Eritrea ở phía đông.[2]
Địa hình cốt lõi của Sudan là một bồn địa phẳng khổng lồ được bao bọc ở phía đông bởi Dãy núi Biển Đỏ và ở phía tây bởi khối núi núi lửa Jebel Marra. Dòng Sông Nile chạy xuyên qua trung tâm bồn địa này từ nam lên bắc, đóng vai trò là mạch sống tối thượng cấu thành nên toàn bộ đời sống kinh tế và sinh thái của đất nước.[1]


Các vùng địa lý tự nhiên
Lãnh thổ Sudan có thể được chia thành ba đới địa lý tự nhiên lớn chạy từ bắc xuống nam, tương ứng với sự phân hóa của khí hậu và thảm thực vật:
Vùng hoang mạc phía Bắc
Khu vực này chiếm hơn một phần ba diện tích đất nước, bao gồm Hoang mạc Libya ở phía tây và Hoang mạc Nubia ở phía đông sông Nile.[1] Đây là sự mở rộng liên tục của Hoang mạc Sahara. Cảnh quan nơi đây bị thống trị bởi các đụn cát di động khổng lồ, các bình nguyên đá sỏi (reg) và các cao nguyên đá vôi cằn cỗi trơ trọi. Lượng mưa ở vùng này gần như bằng không, thảm thực vật chỉ xuất hiện tại một số ốc đảo nhỏ hoặc dọc theo dải đất hẹp ven bờ sông Nile.[4]
Vùng thảo nguyên bụi gai Sahel
Nằm ở trung tâm Sudan, đây là một vành đai chuyển tiếp sinh thái giữa hoang mạc khô cằn phía bắc và xavan ẩm ướt phía nam. Vùng này bao gồm các bình nguyên gợn sóng bán khô hạn trải dài qua các bang Kordofan và Darfur.[5] Thảm thực vật ở đây là sự kết hợp giữa cỏ ngắn mùa mưa và các loài cây bụi có gai, đặc biệt là cây keo (Acacia senegal), nguồn cung cấp sản phẩm cao su tự nhiên (gum arabic) đứng đầu thế giới của Sudan.[6]
Vùng cao nguyên biên giới và núi dốc
- Khối núi Jebel Marra: Nằm ở phía tây (vùng Darfur), đây là một dãy núi có nguồn gốc núi lửa với đỉnh Deriba Caldera cao 3.042 mét (9.980 ft), là điểm cao nhất hiện nay của Sudan. Nhờ độ cao lớn, vùng này đón được lượng mưa bán nhiệt đới ẩm, hình thành nên các thung lũng nông nghiệp trù phú.[7]
- Dãy núi Biển Đỏ: Chạy cắt dọc bờ biển phía đông, cấu thành từ các khối đá móng kết tinh cổ đại gồ ghề, dốc đứng hướng ra dải đồng bằng duyên hải hẹp hòi sát Biển Đỏ.[3]
Địa chất và thổ nhưỡng

Cấu trúc địa chất của Sudan được định hình bởi nền đá móng kết tinh cổ đại thuộc Khiên Phi-Ả Rập có niên đại tiền Cambri. Lớp đá móng này lộ ra rõ rệt ở vùng đồi núi phía đông và các khu vực phía tây.[8] Phủ lên trên nền đá móng cổ là các thành tạo Sa thạch Nubia trầm tích (Nubian Sandstone) trải rộng khắp miền bắc và miền trung, đóng vai trò là một trong những tầng ngậm nước (aquifer) chứa trữ lượng nước ngầm lớn nhất trên thế giới.[9]
Hệ thống thổ nhưỡng của Sudan phân hóa sâu sắc theo các đới khí hậu vĩ độ:
- Đất hoang mạc cát sỏi (Aridisols): Thống trị nửa phía bắc đất nước. Loại đất này hầu như không có tầng mùn hữu cơ, chứa nhiều khoáng chất chưa phong hóa và tích tụ muối bề mặt do tốc độ bốc hơi quá cao.[10]
- Đất sét đen phồng nở (Vertisols): Trải rộng trên các bình nguyên trung tâm và dọc theo các thung lũng sông Nile Xanh và sông Atbara. Đây là loại đất vô cùng đặc biệt; chúng bị nứt nẻ sâu hoắm vào mùa khô nhưng lại phồng nở, dẻo quánh khi có nước mưa, rất giàu khoáng chất bồi đắp thích hợp cho canh tác cơ giới hóa các loại cây bông, lúa mì và lúa miến.[11]
Khí hậu

Khí hậu của Sudan có sự phân hóa mạnh mẽ từ khí hậu hoang mạc siêu khô hạn ở phía bắc đến khí hậu bán khô hạn xavan ở phía nam. Nền nhiệt độ trên khắp đất nước luôn duy trì ở mức cực cao quanh năm, khiến Sudan trở thành một trong những quốc gia nóng nhất trên thế giới.[12]
Các mùa khí hậu và lượng mưa
Sự phân chia mùa ở Sudan phụ thuộc hoàn toàn vào sự dịch chuyển lên phía bắc và phía nam của Đới hội tụ liên nhiệt đới (ITCZ):[12]
- Mùa hè và mùa mưa (tháng 6 – tháng 9): Luồng gió mùa Tây Nam mang hơi ẩm từ Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương tràn vào đất liền. Lượng mưa hàng năm tăng dần theo vĩ độ từ bắc xuống nam; ở vùng hoang mạc phía bắc lượng mưa chỉ dưới 25 mm, tăng lên khoảng 100 mm đến 250 mm ở khu vực Khartoum, và đạt từ 500 mm đến hơn 700 mm ở các thảo nguyên phía nam giáp biên giới Nam Sudan.[13]
- Mùa đông và mùa khô (tháng 10 – tháng 5): Gió đông bắc khô khốc từ sa mạc thổi về (Harmattan). Bầu trời trở nên trong xanh, độ ẩm sụt giảm xuống mức tối thiểu và hầu như không có mưa.[5]
Hiện tượng bão cát Haboob
Vào các tháng mùa hè chuyển tiếp (tháng 5 đến tháng 7), trước khi những trận mưa gió mùa chính thức ập đến, Sudan thường xuyên phải hứng chịu những trận bão cát khổng lồ gọi là Haboob. Luồng gió mạnh bất ngờ cuốn tung hàng triệu tấn cát mịn tạo thành những bức tường bụi sừng sững cao tới vài ngàn mét, làm giảm tầm nhìn về mức bằng không và nhuộm đỏ cả bầu trời trong nhiều giờ liền.[14]
Bảng dữ liệu khí hậu tại Khartoum
Khartoum là thủ đô của Sudan, nằm tại điểm hợp lưu của sông Nile Trắng và sông Nile Xanh, mang đặc trưng của khí hậu hoang mạc nóng (BWh).
Bảng dữ liệu Khí hậu tại Khartoum (Weather box)
| Dữ liệu khí hậu của Khartoum (1971–2000) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 30.7 (87.3) |
32.6 (90.7) |
36.5 (97.7) |
40.4 (104.7) |
41.9 (107.4) |
41.3 (106.3) |
38.5 (101.3) |
37.6 (99.7) |
38.7 (101.7) |
39.3 (102.7) |
35.2 (95.4) |
31.7 (89.1) |
37.0 (98.7) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 23.2 (73.8) |
25.0 (77.0) |
28.7 (83.7) |
32.5 (90.5) |
34.3 (93.7) |
34.3 (93.7) |
32.1 (89.8) |
31.5 (88.7) |
32.5 (90.5) |
32.4 (90.3) |
28.1 (82.6) |
24.5 (76.1) |
29.9 (85.9) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 15.6 (60.1) |
17.0 (62.6) |
20.5 (68.9) |
24.3 (75.7) |
26.9 (80.4) |
27.2 (81.0) |
25.7 (78.3) |
25.3 (77.5) |
26.2 (79.2) |
25.6 (78.1) |
21.0 (69.8) |
17.1 (62.8) |
22.7 (72.9) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 0.0 (0.0) |
0.0 (0.0) |
0.0 (0.0) |
0.4 (0.02) |
4.0 (0.16) |
4.0 (0.16) |
46.3 (1.82) |
75.2 (2.96) |
25.4 (1.00) |
4.8 (0.19) |
0.7 (0.03) |
0.0 (0.0) |
160.8 (6.34) |
| Số ngày giáng thủy trung bình | 0.0 | 0.0 | 0.1 | 0.1 | 0.9 | 1.2 | 6.4 | 8.3 | 2.9 | 0.6 | 0.1 | 0.0 | 20.6 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 27 | 22 | 17 | 16 | 22 | 30 | 43 | 49 | 40 | 28 | 28 | 30 | 29 |
| Số giờ nắng trung bình tháng | 316.2 | 296.6 | 316.2 | 318.0 | 310.0 | 279.0 | 269.7 | 272.8 | 273.0 | 306.9 | 303.0 | 319.3 | 3.580,7 |
| Nguồn: WMO[15] | |||||||||||||
Biểu đồ Khí hậu tại Khartoum
| Khartoum | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Biểu đồ khí hậu (giải thích) | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Hệ thống thủy văn sông Nile

Sông Nile là đặc trưng thủy văn quan trọng nhất của địa lý tự nhiên và kinh tế nhân văn của Sudan. Lưu vực sông Nile bao phủ gần như toàn bộ diện tích của quốc gia này.[16]
Sự hợp lưu lịch sử
- Sông Nile Trắng: Chảy từ khu vực Các hồ lớn Đông Phi tiến lên phía bắc xuyên qua Nam Sudan rồi vào Sudan. Dòng sông này có lưu lượng chảy tương đối ổn định quanh năm do có sự điều tiết của các đầm lầy lớn, nhưng hàm lượng phù sa thấp.[17]
- Sông Nile Xanh: Bắt nguồn từ Hồ Tana trên vùng cao nguyên Ethiopia đầy mưa. Dòng sông này chảy xiết và mang theo lượng nước khổng lồ vào mùa hè (chiếm hơn 80% tổng lưu lượng nước của sông Nile chính trong mùa lũ) cùng lượng phù sa màu mỡ sẫm màu đặc trưng.[18]
- hai dòng sông vĩ đại này gặp nhau tại một điểm hợp lưu lịch sử ngay tại trung tâm của thủ đô Khartoum, cùng nhau tạo ra dòng sông Nile chính để tiếp tục hành trình chảy ngược lên hướng bắc tiến vào Ai Cập.[1]
Sông Atbarah
Trước khi ra khỏi lãnh thổ Sudan, sông Nile nhận thêm phụ lưu lớn cuối cùng là Sông Atbarah, một dòng sông cũng bắt nguồn từ Ethiopia nhưng chỉ có nước vào mùa mưa xuân dồi dào. Để phục vụ cho nền nông nghiệp, Sudan đã xây dựng các hệ thống đập nhân tạo lớn dọc lưu vực như đập Sennar, đập Roseires trên sông Nile Xanh và đập Merowe vĩ đại trên sông Nile chính.[17] Ở cực bắc, việc xây dựng đập Aswan của Ai Cập đã làm ngập một phần đất của Sudan, hình thành nên Hồ Nubia (phần lãnh thổ Sudan của Hồ Nasser).[19]
Tài nguyên thiên nhiên và sử dụng đất
Khoáng sản chiến lược
Sudan giàu tài nguyên thiên nhiên dưới lòng đất. Quốc gia này sở hữu các mỏ quặng sắt, đồng, chromit, kẽm, thạch cao và vàng với trữ lượng khai thác lớn tại vùng đồi núi sát Biển Đỏ. Kể từ cuối thế kỷ 20, hoạt động khai thác và xuất khẩu dầu mỏ tại các bể trầm tích miền trung nam đã trở thành một cột trụ kinh tế hàng đầu của đất nước.[2]
Sử dụng đất (2018)
- Đất nông nghiệp: 28,7%
- Đất canh tác trồng trọt: 15,7%
- Cây trồng lâu năm: 0,2%
- Đồng cỏ lâu năm phục vụ chăn nuôi: 12,8%
- Diện tích rừng và thảm xanh: 10,7%
- Khác (hoang mạc đá cát): 60,6%
- Đất có tưới tiêu: 18.900 km² (7.297 dặm vuông) (Ước tính năm 2012).[2]
Các điểm cực địa lý
Dưới đây là các điểm tọa độ giới hạn của đất nước Sudan:
- Cực Bắc: Điểm uốn khúc của Sông Nile nằm trên đường biên giới với Ai Cập tại vĩ tuyến 22°00'B (phía bắc thị trấn Wadi Halfa, Vùng Northern). (Ngoại trừ khu vực tranh chấp Tam giác Hala'ib tiến xa hơn về phía đông bắc).
- Cực Nam: Ranh giới giáp quốc gia Nam Sudan tại bang Nam Darfur.
- Cực Đông: Mũi đất nhô ra Biển Đỏ giáp ranh giới quốc gia Eritrea, thuộc Bang Biển Đỏ.
- Cực Tây: Điểm biên giới ba bên giáp với Chad và Cộng hòa Trung Phi, thuộc Bang Trung Darfur.
Thư viện ảnh
-
Hoạt động canh tác dọc theo sông Nile Trắng và sông Nile Xanh, gần Khartoum, Sudan.
-
Vùng đất hoang mạc Nubia khô cằn bao quanh quần thể Kim tự tháp Meroë cổ đại bên bờ sông Nile.
-
Ngôi đền lớn bằng gạch bùn, được biết đến với tên gọi Tây Deffufa, nằm trong thành phố cổ Kerma.
Xem thêm
Tham khảo
- ^ a b c d Berry, LaVerle (2015). Sudan: a country study. Washington, D.C.: Federal Research Division, Library of Congress. ISBN 978-0844495699.
- ^ a b c d "Sudan - The World Factbook". Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2026.
- ^ a b "Sudan - Land, Relief, and Drainage". Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2026.
- ^ Cloudsley-Thompson, J. L. (1984). Sahara Desert. Oxford: Pergamon Press. ISBN 978-0080288697.
- ^ a b Metz, Helen Chapin (1992). Sudan: a country study. Washington: Library of Congress.
- ^ Ballal, M. E. (2005). "Gum arabic production in relation to gum belt decline in Sudan". Forest Ecology and Management. Quyển 219 số 1. tr. 53–68. doi:10.1016/j.foreco.2005.08.031.
- ^ Vail, J. R. (1972). "Jebel Marra volcano, Sudan". American Journal of Science. Quyển 272 số 6. tr. 504–527. doi:10.2475/ajs.272.6.504.
- ^ Whiteman, A. J. (1971). The Geology of the Republic of Sudan. Oxford: Clarendon Press.
- ^ Gossel, W. (2004). "A geographic information system based groundwater model of the Nubian Sandstone Aquifer System". Hydrogeology Journal. Quyển 12 số 6. tr. 700–713. doi:10.1007/s10040-004-0352-3.
- ^ FAO (2006). "Soil Atlas of Africa" (Tài liệu). European Commission. tr. 78–85.
- ^ Blokhuis, W. A. (1993). "Vertisols in the Central Clay Plain of Sudan". Geoderma. Quyển 56 số 1. tr. 131–148. doi:10.1016/0016-7061(93)90105-C.
- ^ a b Oliver, John E. (2005). The Encyclopedia of World Climatology. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402032646.
- ^ Hulme, M. (1992). "Rainfall instability and regression in the Sudan". Applied Geography. Quyển 12 số 2. tr. 129–144. doi:10.1016/0143-6228(92)90003-O.
- ^ Sutton, L. J. (1925). "Haboobs". Quarterly Journal of the Royal Meteorological Society. Quyển 51 số 213. tr. 25–30. doi:10.1002/qj.49705121305.
- ^ "World Weather Information Service – Khartoum". World Meteorological Organization. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2026.
- ^ Shahin, Mamdouh (2002). Hydrology and Water Resources of Africa. Dordrecht: Kluwer Academic Publishers. ISBN 978-1402008665.
- ^ a b Shahin, Mamdouh (2002). Hydrology and Water Resources of Africa. Dordrecht: Kluwer Academic Publishers. ISBN 978-1402008665.
- ^ Conway, Declan (2000). "The Nile Basin: An introduction to the hydrology of a large river basin". International Journal of Water Resources Development. Quyển 16 số 3. tr. 329–346. doi:10.1080/713672221.
- ^ Siddig, Khalid (2014). The Economy-wide Impacts of Further Dams on the Nile in Sudan. Peter Lang.
Liên kết ngoài
- Dữ liệu địa lý tổng quan quốc gia Sudan Lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine trên CIA World Factbook.