Bước tới nội dung

Địa lý Togo

8°00′B 1°10′Đ / 8°B 1,167°Đ / 8.000; 1.167
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Địa lý Togo
VùngTây Phi
Tọa độ8°00′B 1°10′Đ / 8°B 1,167°Đ / 8.000; 1.167
Diện tích
 • Đất95.77%
 • Nước4.23%
Biên giớiTổng cộng: 1.881 km (1.169 dặm)
Ghana: 1.098 km (682 dặm)
Bénin: 651 km (405 dặm)
Burkina Faso: 132 km (82 dặm)
Điểm cao nhấtNúi Agou (Mont Agou), 986 m (3.235 ft)
Điểm thấp nhấtBiển Đại Tây Dương (Vịnh Benin), 0 m (0 ft)
Sông dài nhấtSông Mono, 467 km (290 dặm)
Hồ lớn nhấtHồ Togo (Lac Togo)
Địa hìnhPhía bắc là thảo nguyên trập trùng; miền trung là dải đồi núi dốc thoai thoải chạy theo hướng đông bắc - tây nam; phía nam là một cao nguyên thấp thoải dần xuống đồng bằng ven duyên hải trù phú với các đầm phá lớn.

Địa lý Togo mô tả các đặc điểm tự nhiên, địa thế, cấu trúc thủy văn, khí hậu và tài nguyên sinh thái của Togo (tên gọi chính thức là Cộng hòa Togo), một quốc gia nằm ở khu vực Tây Phi, kẹp giữa Ghana ở phía tây và Bénin ở phía đông.[1] Lãnh thổ đất nước có hình dáng vô cùng đặc trưng khi kéo dài như một dải đất hẹp thẳng đứng chạy từ bờ biển lên sâu trong nội địa lục địa, với chiều dài khoảng 579 kilômét (360 dặm) từ bắc xuống nam nhưng chiều rộng trung bình chỉ dao động từ 48 đến 160 kilômét (30 đến 100 dặm).[2]

Togo sở hữu tổng diện tích lãnh thổ là 56.785 kilômét vuông (khoảng 21.925 dặm vuông). Trong đó, diện tích đất liền chiếm khoảng 54.385 kilômét vuông và diện tích mặt nước, bao gồm hệ thống sông ngòi và các hồ chứa, đầm phá ven biển, chiếm 2.400 kilômét vuông (phần trăm đất chiếm 95,77%).[3] Quốc gia này sở hữu một dải đường bờ biển ngắn, chỉ dài khoảng 56 kilômét (35 dặm) dọc theo Vịnh Benin thuộc Đại Tây Dương, nhưng lại đóng vai trò là cửa ngõ hàng hải chiến lược cho các quốc gia nội lục phía bắc như Burkina Faso, NigerMali.[3] Togo có chung đường biên giới đất liền dài 1.881 kilômét (1.169 dặm) với ba quốc gia láng giềng: Ghana ở phía tây (1.098 km), Bénin ở phía đông (651 km), và Burkina Faso ở phía bắc (132 km).[3]

Cấu trúc địa hình của đất nước bị cắt xẻ xiên qua bởi dãy núi Togo (hay dãy núi Atakora), chạy dọc theo hướng đông bắc - tây nam, chia tách cấu trúc sinh thái thành các vùng xavan rộng lớn ở phía bắc và hệ thống cao nguyên thoải dốc thấp dần về dải đồng bằng ven duyên hải trù phú với các đầm phá lớn ở phía nam.[1] Thủ đô kiêm thành phố cảng lớn nhất nước là Lomé, tọa lạc ngay tại góc tây nam cực nam của bờ biển Đại Tây Dương.[2]

Bản đồ địa hình của Togo, hiển thị dải đất hẹp dài chạy từ bắc xuống nam bị cắt xẻ bởi chuỗi núi Togo ở miền trung.

Vị trí

Togo tọa lạc tại tọa độ địa lý khoảng 8°00' Bắc và 1°10' Đông. Vùng giáp ranh biên giới phía nam hướng ra Vịnh Benin, một bộ phận cấu thành của Vịnh Guinea thuộc Đại Tây Dương.[2] Đường biên giới đất liền của Togo phần lớn được thiết lập dựa trên các hiệp ước phân định thuộc địa cũ giữa Pháp, Anh và Đức:

  • Biên giới với Ghana (Phía Tây): Là đường biên giới dài nhất (1.098 km), ban đầu phân chia vùng Togoland thuộc Pháp và Togoland thuộc Anh (sau này sáp nhập vào Ghana). Đường biên giới này chạy cắt ngang qua một số vùng đồi núi hiểm trở và thung lũng sông.[1]
  • Biên giới với Bénin (Phía Đông): Dài 651 km, phần lớn chạy dọc theo hoặc song song với lưu vực của dòng sông Mono ở phía nam.[4]
  • Biên giới với Burkina Faso (Phía Bắc): Dài 132 km, chạy theo một đường thẳng tương đối nhân tạo phân chia vùng xavan bán khô hạn của hai nước.[3]

Địa hình

Dựa trên các đặc điểm hình thái, địa chất và sinh thái, lãnh thổ Togo được chia thành sáu vùng địa lý tự nhiên rõ rệt chạy tiếp nối nhau từ nam lên bắc:[2]

Vùng đồng bằng duyên hải thấp (Coastal Zone)

Nằm ở cực nam của đất nước, đây là một dải đồng bằng duyên hải thấp, hẹp, có độ cao trung bình dưới 20 mét so với mực nước biển. Bờ biển của Togo mang đặc trưng của các rặng cát dài phẳng và các bãi biển cát mịn bị chia cắt bởi hệ thống các đầm phá nông, trù phú nước lợ, trong đó lớn nhất là Hồ Togo (Lac Togo).[5] Nền đất vùng này chủ yếu là đất cát phù sau biển nghèo dinh dưỡng.

Tập tin:Togo2021OSM.png
Bản đồ Togo.

Vùng cao nguyên đất đỏ (Ouatchi Plateau)

Nằm ngay phía sau dải đồng bằng ven biển, địa hình nâng cao thoai thoải thành một cao nguyên có độ cao trung bình từ 60 đến 90 mét. Vùng này còn được biết đến với tên gọi địa phương là vùng đất đỏ Ouatchi, do bị bao phủ hoàn toàn bởi lớp đất laterit màu đỏ sẫm giàu oxit sắt, được người dân khai thác thâm canh các loại cây công nghiệp quan nghiệp như cọ dầu, sắn và ngô.[1]

Vùng cao nguyên trung tâm (Mono Plateau)

Tiến sâu hơn về phía bắc, địa hình chuyển tiếp thành một cao nguyên rộng lớn có độ cao dao động từ 120 đến 400 mét. Vùng này được tưới mát bởi hệ thống thủy văn thượng nguồn của sông Mono và sông Haho, tạo nên các thung lũng sông trù phú cắt xẻ qua dải rừng thưa xavan nhiệt đới.[2]

Dãy núi Togo (Togo Mountains)

Đây là rặng núi xương sống chạy chéo xiên qua miền trung đất nước theo hướng tây nam - đông bắc, là một phần của hệ thống núi Atakora kéo dài từ Ghana sang Bénin.[6] Địa hình vùng này dốc, hiểm trở với nhiều vách đá đứng và thung lũng sâu rừng rậm. Tại sườn phía tây nam của rặng núi này, gần biên giới Ghana, tọa lạc đỉnh Núi Agou (Mont Agou) — ngọn núi lửa cổ đã tắt sừng sững vươn lên độ cao 986 mét (3.235 ft), trở thành điểm cao nhất của đất nước Togo.[3]

Tập tin:Kpalimé 5.jpg
Rừng và thảo nguyên Guinea (vùng lân cận Kpalimé).

Vùng bình nguyên Oti (Oti Valley)

Nằm ở phía tây bắc của chuỗi núi Togo, đây là một lưu vực sụt trũng bằng phẳng được bồi đắp bởi sông Oti (một phụ lưu chính của sông Volta). Bình nguyên này có đất đai chủ yếu là đất sét màu mỡ nhưng thường xuyên phải đối mặt với hiện tượng lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa và khô cằn trơ trọi vào mùa khô.[7]

Vùng thảo nguyên đá phía Bắc (Dapaong)

Nằm ở cực bắc đất nước, xung quanh khu vực thành phố Dapaong. Địa hình ở đây thoải dần thành một bình nguyên cao, mang đặc trưng của dải khí hậu Sahel bán khô hạn với các khối đá móng kết tinh granit nhô cao cô lập (inselbergs). Thảm thực vật bị thống trị bởi các đồng cỏ hoang sơ rải rác cây bao sáp (baobab) và cây keo còi cọc.[2]

Khí hậu

Togo nằm hoàn toàn trong vành đai khí hậu nhiệt đới, nhưng do lãnh thổ trải dài theo vĩ độ từ bắc xuống nam, khí hậu của đất nước phân hóa thành hai đới rõ rệt chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự dịch chuyển của Đới hội tụ liên nhiệt đới (ITCZ):[8]

Phân hóa khí hậu theo vùng vĩ độ

  • Khí hậu nhiệt đới ẩm phía Nam (Vùng ven biển): Vùng này mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới xavan ẩm (Aw theo Phân loại khí hậu Köppen). Do nằm trong vùng dị thường khí hậu Tây Phi (Dahomey Gap), miền nam Togo có lượng mưa tương đối thấp so với các quốc gia ven vịnh Guinea khác, dao động từ 800 mm đến 1.000 mm/năm. Vùng này trải qua hai mùa mưa: mùa mưa lớn từ tháng 4 đến tháng 7 và mùa mưa nhỏ từ tháng 9 đến tháng 11. Nhiệt độ trung bình quanh năm ổn định mát mẻ, từ 23 °C (73 °F) đến 32 °C (90 °F).[8]
  • Khí hậu nhiệt đới bán khô hạn phía Bắc (Vùng nội địa): Mang kiểu khí hậu Sudan-Sahel khô nóng. Lượng mưa ở đây chỉ có một mùa duy nhất trong năm, kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9, đạt trung bình khoảng 1.100 mm/năm nhưng bốc hơi rất nhanh. Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau với sự thống trị tuyệt đối của gió Harmattan khô khốc, nóng bỏng tràn xuống từ sa mạc Sahara, khiến nhiệt độ ban ngày vào mùa hè thường xuyên vượt ngưỡng 40 °C (104 °F).[9]

Bảng dữ liệu Khí hậu tại Lomé

Lomé là thủ đô và là thành phố cảng lớn nhất của Togo, tọa lạc ở cực nam của đất nước bên bờ Đại Tây Dương, mang khí hậu nhiệt đới ẩm xavan điều hòa hải dương.

Bảng dữ liệu Khí hậu tại Lomé (Weather box)

Dữ liệu khí hậu của Lomé (1961–1990)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình ngày tối đa °C (°F) 31.7
(89.1)
32.3
(90.1)
32.5
(90.5)
31.9
(89.4)
30.5
(86.9)
28.8
(83.8)
28.0
(82.4)
27.5
(81.5)
28.5
(83.3)
29.9
(85.8)
31.4
(88.5)
31.6
(88.9)
30.4
(86.7)
Trung bình ngày °C (°F) 27.1
(80.8)
28.2
(82.8)
28.5
(83.3)
28.1
(82.6)
27.1
(80.8)
25.6
(78.1)
24.8
(76.6)
24.3
(75.7)
25.1
(77.2)
26.0
(78.8)
27.1
(80.8)
27.1
(80.8)
26.6
(79.9)
Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) 22.5
(72.5)
24.0
(75.2)
24.5
(76.1)
24.4
(75.9)
23.7
(74.7)
22.5
(72.5)
22.0
(71.6)
21.3
(70.3)
21.9
(71.4)
22.2
(72.0)
22.7
(72.9)
22.6
(72.7)
22.9
(73.1)
Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) 8.8
(0.35)
27.0
(1.06)
63.8
(2.51)
98.7
(3.89)
143.5
(5.65)
213.7
(8.41)
58.5
(2.30)
16.2
(0.64)
42.1
(1.66)
87.2
(3.43)
31.0
(1.22)
6.4
(0.25)
796.9
(31.37)
Số ngày giáng thủy trung bình 1.0 2.0 4.0 6.0 10.0 14.0 7.0 4.0 6.0 9.0 3.0 1.0 67
Độ ẩm tương đối trung bình (%) 79 80 80 81 83 86 85 85 85 84 82 81 83
Số giờ nắng trung bình tháng 217.5 214.0 227.9 215.1 213.9 147.2 142.2 139.4 159.2 216.4 233.1 233.5 2.359,4
Nguồn: WMO[10]

Biểu đồ Khí hậu tại Lomé

Lomé
Biểu đồ khí hậu (giải thích)
 1 2 3 4 5 6 7 8 9101112
 
 
8.8
 
 
32
23
 
 
27
 
 
32
24
 
 
64
 
 
33
25
 
 
99
 
 
32
24
 
 
144
 
 
31
24
 
 
214
 
 
29
23
 
 
59
 
 
28
22
 
 
16
 
 
28
21
 
 
42
 
 
29
22
 
 
87
 
 
30
22
 
 
31
 
 
31
23
 
 
6.4
 
 
32
23
Trung bình tối đa và tối thiểu (°C)
Tổng lượng giáng thủy (mm)
Nguồn: WMO

Hệ thống thủy văn

Mạng lưới thủy văn của Togo tương đối dày dặn, được nuôi dưỡng bởi các cơn mưa xavan gió mùa, phần lớn được chia tách thành hai lưu vực chính chảy theo hai hướng trái ngược nhau:[2]

Lưu vực miền Nam (Hướng Vịnh Guinea)

  • Sông Mono: Dòng sông lớn nhất và quan trọng nhất chảy trong lòng miền nam Togo với chiều dài 467 kilômét (290 dặm). Sông bắt nguồn từ vùng núi miền trung, chảy uốn khúc về phía nam và tạo thành ranh giới tự nhiên giữa Togo và Bénin trước khi đổ ra vịnh. Sông Mono có ý nghĩa to lớn về thủy lợi và sản xuất điện năng thông qua đập thủy điện Nangbéto khổng lồ.[11]
  • Các dòng sông nội địa ngắn hơn chảy ra hệ thống đầm phá ven đại dương bao gồm sông Haho và sông Sio, cấp nước cho hệ sinh thái trù phú quanh Hồ Togo.[2]
Tập tin:Map of rivers of Togo OSM.png
Togo với sông Oti (phía bắc) và sông Mono (phía nam).

Lưu vực miền Bắc (Hướng Sông Volta)

  • Sông Oti: Là phụ lưu dòng chảy vĩ đại vây quanh khu vực phía bắc và tây bắc nước này. Sông Oti bắt nguồn từ Bénin, cắt xiên ngang qua bình nguyên miền bắc Togo trước khi đổ chảy vào dòng Hồ Volta rộng lớn của quốc gia láng giềng Ghana. Dòng sông này là xương sống cung cấp nguồn nước ngọt nuôi sống các vùng đồng cỏ mục súc miền bắc trong mùa khô hạn khắc nghiệt.[12]

Tài nguyên thiên nhiên

Cấu trúc địa chất và thổ nhưỡng

Cấu trúc địa chất của Togo được phân tách thành hai miền rõ rệt bởi dải đứt gãy xiên miền trung:[13]

  • Nền đá cổ Tiền Cambri: Chiếm phần lớn diện tích miền trung và miền bắc, cấu thành từ các loại đá biến chất như gneis, thạch anh và đá phiến thuộc hệ nếp uốn Dahomeyide. Sự phong hóa của nền đá này đã tạo ra các mỏ quặng sắt và đá thạch anh quý giá cho đất nước.[14]
  • Lớp trầm tích ven biển (Kỷ Đệ Tam và Đệ Tứ): Tập trung ở lưu vực bồn địa phía nam. Lớp trầm tích biển này chứa các vỉa Phosphat trầm tích vô cùng khổng lồ ở khu vực Hahotoé và Dagbati. Đây là nguồn tài nguyên khoáng sản chiến lược hàng đầu, đưa Togo trở thành một trong những nhà sản xuất và xuất khẩu phosphat lớn nhất trên phạm vi toàn cầu.[3]

Hệ thổ nhưỡng phân hóa tương ứng với địa hình: đất cát nghèo dinh dưỡng ven bờ, đất laterit đỏ dồi dào oxit trên cao nguyên Ouatchi, đất sét phù sa giữ nước màu mỡ dọc các thung lũng sông Mono và Oti thuận lợi cho trồng trọt trắc địa nông nghiệp.[2]

Sử dụng đất

  • Đất phục vụ nông nghiệp: 44,2%
    • Đất canh tác trồng trọt: 14,3%
    • Cây trồng lâu năm: 2,4%
    • Đồng cỏ lâu năm dành cho chăn nuôi: 27,5%
  • Diện tích rừng và thảm che phủ xanh: 4,9% (một tỷ lệ khá thấp và đang suy giảm mạnh do áp lực phá rừng đốt than sinh hoạt).
  • Khác: 23,4%
  • Đất có tưới tiêu: 73 km² (28 dặm vuông) (Ước tính năm 2012).[3]

Các vấn đề môi trường

Togo hiện đang đối mặt với một số thách thức môi trường nghiêm trọng do sức ép dân số và các hoạt động kinh tế khai khoáng, nông nghiệp nghiệp dư gây ra:[3]

  • Nạn phá rừng: Đây là vấn đề cấp bách nhất khi diện tích rừng nguyên sinh bị thu hẹp nhanh chóng do phương thức canh tác phát nương làm rẫy, khai thác gỗ thương mại bất hợp pháp và chặt cây đốt củi làm than sinh hoạt cho đại đa số cư dân nông thôn.[1]
  • Sa mạc hóa và Suy thoái đất: Hiện tượng hoang mạc hoang hóa sụt giảm độ phì nhiêu xảy ra mạnh mẽ ở các bang cực bắc do tác động của gió Harmattan kết hợp với việc chăn thả gia súc quá mức trên các thảo nguyên sinh thái.[2]
  • Ô nhiễm nguồn nước ven biển: Các hoạt động khai thác quặng bừa bãi và việc xả thải nước thải công nghiệp từ quá trình chế biến phosphat ở vùng duyên hải phía nam đang đe dọa nghiêm trọng đến hệ sinh thái đầm phá Hồ Togo và làm suy sụp các quần thể động vật thủy sinh, chim biển bản địa.[15]

Các điểm cực địa lý

Dưới đây là bốn điểm cực địa lý vươn xa nhất của lãnh thổ Cộng hòa Togo:

  • Cực Bắc: Điểm biên giới ba bên giáp với Ghana và Burkina Faso, nằm về phía tây thị trấn Sinkassé, Vùng Savanes.
  • Cực Nam: Mũi đất bãi cát ven biển tiếp giáp thủ đô Lomé sát đường biên giới quốc gia Ghana hướng ra Đại Tây Dương.
  • Cực Đông: Điểm uốn khúc của dòng Sông Mono nằm trên đường ranh giới tự nhiên giáp quốc gia Bénin, thuộc Vùng Plateaux.
  • Cực Tây: Đoạn biên giới thẳng đứng kéo dài chạy dọc giáp với Ghana, nằm ở phía tây nam thị trấn Badou, Vùng Plateaux.

Thư viện ảnh

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a b c d e Decalo, Samuel (1996). Historical Dictionary of Togo. Lanham, Md.: Scarecrow Press. ISBN 978-0810830738.
  2. ^ a b c d e f g h i j "Togo - Land, Relief, and Drainage". Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2026.
  3. ^ a b c d e f g h "Togo - The World Factbook". Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2026.
  4. ^ Affaton, P. (1980). "The Dahomeyide orogen: a tectonostratigraphic approach". Geologische Rundschau. Quyển 69. tr. 140–162. doi:10.1007/BF01801261.
  5. ^ Millet, B. (1986). "Hydrology and sedimentology of Lac Togo". Hydrobiologia. Quyển 141 số 3. tr. 223–236. doi:10.1007/BF00014217.
  6. ^ Blier, Suzanne Preston (1995). The Anatomy of Architecture: Ontology and Metaphor in Batammaliba Architectural Expression. Chicago: University of Chicago Press. ISBN 978-0226058610.
  7. ^ Amisigo, B. A. (2008). "Hydrological assessment of the Volta River Basin". Water Resources Management. Quyển 22. tr. 1055–1071.
  8. ^ a b Oliver, John E. (2005). The Encyclopedia of World Climatology. Dordrecht: Springer. ISBN 978-1402032646.
  9. ^ Sultan, B. (2003). "The West African monsoon dynamics. Part I: Description of the right monsoon onset". Journal of Climate. Quyển 16. tr. 3389–3406.
  10. ^ "World Weather Information Service – Lomé". World Meteorological Organization. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2026.
  11. ^ De Georges, Leo (2006). Dams and Geopolitics in the Mono River Basin. Routledge.
  12. ^ Amisigo, B. A. (2008). "Hydrological assessment of the Volta River Basin". Water Resources Management. Quyển 22. tr. 1055–1071.
  13. ^ Affaton, P. (1980). "The Dahomeyide orogen: a tectonostratigraphic approach". Geologische Rundschau. Quyển 69. tr. 140–162. doi:10.1007/BF01801261.
  14. ^ Affaton, P. (1980). "The Dahomeyide orogen: a tectonostratigraphic approach". Geologische Rundschau. Quyển 69. tr. 140–162. doi:10.1007/BF01801261.
  15. ^ UNEP (2014). "Environmental Performance Review: Togo" (Tài liệu). United Nations Environment Programme.

Liên kết ngoài