Bóng đá Anh 1971–72
Mùa giải 1971–72 là mùa giải bóng đá thứ 92 tại Anh.
Danh hiệu
| Giải đấu | Vô địch | Á quân |
|---|---|---|
| First Division | Derby County (1) | Leeds United |
| Second Division | Norwich City | Birmingham City |
| Third Division | Aston Villa | Brighton & Hove Albion |
| Fourth Division | Grimsby Town | Southend United |
| Cúp FA | Leeds United (1) | Arsenal |
| League Cup | Stoke City (1) | Chelsea |
| Charity Shield | Leicester City | Liverpool |
| Home Championship | Đồng vô địch: | |
Ghi chú = Con số trong ngoặc là số lần câu lạc bộ đó đã giành danh hiệu này. * cho biết kỉ lục mới của giải đấu.
Cúp FA
Leeds United giành Cúp FA lần đầu tiên trong lịch sử sau khi đánh bại nhà đương kim vô địch Arsenal 1-0 trong trận chung kết tại Wembley. Allan Clarke ghi bàn thắng quyết định.[1]
Mùa giải 1971–72 cũng đánh dấu kỉ niệm 100 năm Cúp FA. Đội bóng non-League Hereford United của Southern League đã tạo nên một trong những cú sốc của mùa giải khi loại Newcastle United với chiến thắng 2-1 sau hiệp phụ ở trận đá lại vòng Ba.
League Cup
Stoke City giành chiến thắng trong Chung kết Football League Cup 1972 để đoạt danh hiệu lớn duy nhất trong lịch sử câu lạc bộ.
Ở trận bán kết với West Ham United, bàn thắng của John Ritchie cùng một pha cản phá phạt đền của Gordon Banks đã giúp Stoke buộc đối thủ phải đá lại tại Hillsborough,[2] rồi trận đá lại đó tiếp tục kết thúc với tỉ số hòa. Trong trận đá lại bán kết lần thứ Hai, tại Old Trafford, Stoke vượt qua một West Ham buộc phải dùng Bobby Moore làm thủ môn tạm thời, qua đó đưa họ vào chung kết League Cup lần đầu tiên.[3]
Football League
First Division
Brian Clough, khi mới 37 tuổi, đã giành danh hiệu lớn đầu tiên trong sự nghiệp huấn luyện khi đưa Derby County tới chức vô địch giải vô địch đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ. Họ vượt qua Leeds United, Liverpool và Manchester City trong một cuộc đua tứ mã mà khoảng cách giữa các đội chỉ là một điểm. Cuộc đua sít sao đến mức khi Manchester City thắng trận cuối cùng của mình trong mùa giải - gặp Derby vào ngày 22 tháng 4 năm 1972 - họ đứng đầu bảng với một điểm nhiều hơn nhưng không còn cơ hội vô địch, vì Derby và Liverpool đều còn trận chưa đấu, còn phải gặp nhau, và cả hai đều có hệ số trung bình bàn thắng tốt hơn City.[4][5]
Dù Derby đánh bại Liverpool để vượt qua Manchester City ở ngôi đầu bảng, Liverpool, kém hai điểm, và Leeds, kém một điểm, đều vẫn còn một trận chưa đấu. Leeds, đội đã vô địch Cúp FA lần đầu tiên trong lịch sử, có thể hoàn tất cú đúp nếu tránh được thất bại trước Wolverhampton Wanderers, nhưng cuối cùng lại thua 1-2.[6][7] Liverpool cũng có thể vượt qua Derby nếu đánh bại Arsenal, nhưng chỉ có thể hòa 0-0.[8] Kết quả đó giúp Derby vô địch với cách biệt đúng một điểm.
Tờ The Sun đã đưa ra những cáo buộc hối lộ liên quan đến huấn luyện viên Don Revie của Leeds, khi cho rằng ông tìm cách mua chuộc Wolves ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải. Đội trưởng Billy Bremner của Leeds đã thắng kiện tại tòa án cấp cao để minh oan cho mình trước những cáo buộc đó, với lời khai làm chứng từ tiền đạo Derek Dougan của Wolves.
Stoke City vô địch League Cup, danh hiệu lớn đầu tiên của câu lạc bộ.
Nottingham Forest và Huddersfield Town đánh mất vị thế ở First Division. Mùa giải 1971–72 là mùa giải cuối cùng của Huddersfield ở hạng đấu cao nhất cho tới năm 2017, và chỉ vài mùa giải sau đó họ còn rơi xuống tận Fourth Division.
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | TBB | Đ | Giành quyền tham dự hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Derby County (C) | 42 | 24 | 10 | 8 | 69 | 33 | 2,091 | 58 | Giành quyền tham dự vòng Một European Cup |
| 2 | Leeds United | 42 | 24 | 9 | 9 | 73 | 31 | 2,355 | 57 | Giành quyền tham dự vòng Một European Cup Winners’ Cup[a] |
| 3 | Liverpool | 42 | 24 | 9 | 9 | 64 | 30 | 2,133 | 57 | Giành quyền tham dự vòng Một Cúp UEFA |
| 4 | Manchester City | 42 | 23 | 11 | 8 | 77 | 45 | 1,711 | 57 | |
| 5 | Arsenal | 42 | 22 | 8 | 12 | 58 | 40 | 1,450 | 52 | |
| 6 | Tottenham Hotspur | 42 | 19 | 13 | 10 | 63 | 42 | 1,500 | 51 | Giành quyền tham dự vòng Một Cúp UEFA[b] |
| 7 | Chelsea | 42 | 18 | 12 | 12 | 58 | 49 | 1,184 | 48 | |
| 8 | Manchester United | 42 | 19 | 10 | 13 | 69 | 61 | 1,131 | 48 | |
| 9 | Wolverhampton Wanderers | 42 | 18 | 11 | 13 | 65 | 57 | 1,140 | 47 | Giành quyền tham dự Watney Cup[c] |
| 10 | Sheffield United | 42 | 17 | 12 | 13 | 61 | 60 | 1,017 | 46 | |
| 11 | Newcastle United | 42 | 15 | 11 | 16 | 49 | 52 | 0,942 | 41 | |
| 12 | Leicester City | 42 | 13 | 13 | 16 | 41 | 46 | 0,891 | 39 | |
| 13 | Ipswich Town | 42 | 11 | 16 | 15 | 39 | 53 | 0,736 | 38 | |
| 14 | West Ham United | 42 | 12 | 12 | 18 | 47 | 51 | 0,922 | 36 | |
| 15 | Everton | 42 | 9 | 18 | 15 | 37 | 48 | 0,771 | 36 | |
| 16 | West Bromwich Albion | 42 | 12 | 11 | 19 | 42 | 54 | 0,778 | 35 | |
| 17 | Stoke City | 42 | 10 | 15 | 17 | 39 | 56 | 0,696 | 35 | Giành quyền tham dự vòng Một Cúp UEFA |
| 18 | Coventry City | 42 | 9 | 15 | 18 | 44 | 67 | 0,657 | 33 | |
| 19 | Southampton | 42 | 12 | 7 | 23 | 52 | 80 | 0,650 | 31 | |
| 20 | Crystal Palace | 42 | 8 | 13 | 21 | 39 | 65 | 0,600 | 29 | |
| 21 | Nottingham Forest (R) | 42 | 8 | 9 | 25 | 47 | 81 | 0,580 | 25 | Xuống hạng Second Division |
| 22 | Huddersfield Town (R) | 42 | 6 | 13 | 23 | 27 | 59 | 0,458 | 25 |
Quy tắc xếp hạng: 1) Điểm; 2) Trung bình bàn thắng; 3) Số bàn thắng ghi được
(C) Vô địch; (R) Xuống hạng
Ghi chú:
- ^ Leeds United giành quyền tham dự European Cup Winners’ Cup với tư cách vô địch Cúp FA 1971–72.
- ^ Tottenham Hotspur giành quyền tham dự Cúp UEFA với tư cách vô địch Cúp UEFA 1971–72.
- ^ Wolverhampton Wanderers và Sheffield United giành quyền tham dự Watney Cup với tư cách hai đội ghi nhiều bàn thắng nhất mà chưa giành quyền tham dự một giải đấu châu Âu.
Second Division
Norwich City vô địch Second Division và thăng hạng cùng với Birmingham City. Đây là lần đầu tiên Norwich City vươn lên hạng đấu cao nhất trong lịch sử, chưa đầy 70 năm sau khi câu lạc bộ được thành lập. Charlton Athletic và Watford rớt hạng.
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | TBB | Đ | Giành quyền tham dự hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Norwich City (C, P) | 42 | 21 | 15 | 6 | 60 | 36 | 1,667 | 57 | Thăng hạng First Division |
| 2 | Birmingham City (P) | 42 | 19 | 18 | 5 | 60 | 31 | 1,935 | 56 | |
| 3 | Millwall | 42 | 19 | 17 | 6 | 64 | 46 | 1,391 | 55 | |
| 4 | Queens Park Rangers | 42 | 20 | 14 | 8 | 57 | 28 | 2,036 | 54 | |
| 5 | Sunderland | 42 | 17 | 16 | 9 | 67 | 57 | 1,175 | 50 | |
| 6 | Blackpool | 42 | 20 | 7 | 15 | 70 | 50 | 1,400 | 47 | Giành quyền tham dự Watney Cup |
| 7 | Burnley | 42 | 20 | 6 | 16 | 70 | 55 | 1,273 | 46 | |
| 8 | Bristol City | 42 | 18 | 10 | 14 | 61 | 49 | 1,245 | 46 | |
| 9 | Middlesbrough | 42 | 19 | 8 | 15 | 50 | 48 | 1,042 | 46 | |
| 10 | Carlisle United | 42 | 17 | 9 | 16 | 61 | 57 | 1,070 | 43 | |
| 11 | Swindon Town | 42 | 15 | 12 | 15 | 47 | 47 | 1,000 | 42 | |
| 12 | Hull City | 42 | 14 | 10 | 18 | 49 | 53 | 0,925 | 38 | |
| 13 | Luton Town | 42 | 10 | 18 | 14 | 43 | 48 | 0,896 | 38 | |
| 14 | Sheffield Wednesday | 42 | 13 | 12 | 17 | 51 | 58 | 0,879 | 38 | |
| 15 | Oxford United | 42 | 12 | 14 | 16 | 43 | 55 | 0,782 | 38 | |
| 16 | Portsmouth | 42 | 12 | 13 | 17 | 59 | 68 | 0,868 | 37 | |
| 17 | Orient | 42 | 14 | 9 | 19 | 50 | 61 | 0,820 | 37 | |
| 18 | Preston North End | 42 | 12 | 12 | 18 | 52 | 58 | 0,897 | 36 | |
| 19 | Cardiff City | 42 | 10 | 14 | 18 | 56 | 69 | 0,812 | 34 | |
| 20 | Fulham | 42 | 12 | 10 | 20 | 45 | 68 | 0,662 | 34 | |
| 21 | Charlton Athletic (R) | 42 | 12 | 9 | 21 | 55 | 77 | 0,714 | 33 | Xuống hạng Third Division |
| 22 | Watford (R) | 42 | 5 | 9 | 28 | 24 | 75 | 0,320 | 19 |
Quy tắc xếp hạng: 1) Điểm; 2) Trung bình bàn thắng; 3) Số bàn thắng ghi được
(C) Vô địch; (P) Thăng hạng; (R) Xuống hạng
Third Division
Aston Villa chấm dứt quãng thời gian hai năm ở Third Division bằng chức vô địch và suất thăng hạng, và tới cuối thập niên này họ đã vững vàng trở lại vị thế một đội bóng First Division. Brighton & Hove Albion theo chân Villa lên Second Division. Mansfield Town, Barnsley, Torquay United và Bradford City rớt hạng.
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | TBB | Đ | Giành quyền tham dự hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Aston Villa (C, P) | 46 | 32 | 6 | 8 | 85 | 32 | 2,656 | 70 | Thăng hạng Second Division |
| 2 | Brighton & Hove Albion (P) | 46 | 27 | 11 | 8 | 82 | 47 | 1,745 | 65 | |
| 3 | Bournemouth | 46 | 23 | 16 | 7 | 73 | 37 | 1,973 | 62 | |
| 4 | Notts County | 46 | 25 | 12 | 9 | 74 | 44 | 1,682 | 62 | Giành quyền tham dự Watney Cup |
| 5 | Rotherham United | 46 | 20 | 15 | 11 | 69 | 52 | 1,327 | 55 | |
| 6 | Bristol Rovers | 46 | 21 | 12 | 13 | 75 | 56 | 1,339 | 54 | Giành quyền tham dự Watney Cup |
| 7 | Bolton Wanderers | 46 | 17 | 16 | 13 | 51 | 41 | 1,244 | 50 | |
| 8 | Plymouth Argyle | 46 | 20 | 10 | 16 | 74 | 64 | 1,156 | 50 | |
| 9 | Walsall | 46 | 15 | 18 | 13 | 62 | 57 | 1,088 | 48 | |
| 10 | Blackburn Rovers | 46 | 19 | 9 | 18 | 54 | 57 | 0,947 | 47 | |
| 11 | Oldham Athletic | 46 | 17 | 11 | 18 | 59 | 63 | 0,937 | 45 | |
| 12 | Shrewsbury Town | 46 | 17 | 10 | 19 | 73 | 65 | 1,123 | 44 | |
| 13 | Chesterfield | 46 | 18 | 8 | 20 | 57 | 57 | 1,000 | 44 | |
| 14 | Swansea City | 46 | 17 | 10 | 19 | 46 | 59 | 0,780 | 44 | |
| 15 | Port Vale | 46 | 13 | 15 | 18 | 43 | 59 | 0,729 | 41 | |
| 16 | Wrexham | 46 | 16 | 8 | 22 | 59 | 63 | 0,937 | 40 | Giành quyền tham dự Vòng Một Cup Winners’ Cup |
| 17 | Halifax Town | 46 | 13 | 12 | 21 | 48 | 61 | 0,787 | 38 | |
| 18 | Rochdale | 46 | 12 | 13 | 21 | 57 | 83 | 0,687 | 37 | |
| 19 | York City | 46 | 12 | 12 | 22 | 57 | 66 | 0,864 | 36 | |
| 20 | Tranmere Rovers | 46 | 10 | 16 | 20 | 50 | 71 | 0,704 | 36 | |
| 21 | Mansfield Town (R) | 46 | 8 | 20 | 18 | 41 | 63 | 0,651 | 36 | Xuống hạng Fourth Division |
| 22 | Barnsley (R) | 46 | 9 | 18 | 19 | 32 | 64 | 0,500 | 36 | |
| 23 | Torquay United (R) | 46 | 10 | 12 | 24 | 41 | 69 | 0,594 | 32 | |
| 24 | Bradford City (R) | 46 | 11 | 10 | 25 | 45 | 77 | 0,584 | 32 |
Quy tắc xếp hạng: 1) Điểm; 2) Trung bình bàn thắng; 3) Số bàn thắng ghi được
(C) Vô địch; (P) Thăng hạng; (R) Xuống hạng
Fourth Division
Grimsby Town, Southend United, Brentford và Scunthorpe United thăng hạng từ Fourth Division. Barrow bị bỏ phiếu loại khỏi Football League và được thay thế bởi Hereford United, đội không lâu trước đó đã tạo nên chiến thắng gây sốc ở Cúp FA trước Newcastle United.
Ernie Tagg đã tự sa thải chính mình khỏi vị trí huấn luyện viên của Crewe Alexandra vì cảm thấy một huấn luyện viên trẻ hơn nên tiếp quản câu lạc bộ.
| VT | Đội | ST | T | H | B | BT | BB | TBB | Đ | Thăng hạng hoặc xuống hạng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Grimsby Town (C, P) | 46 | 28 | 7 | 11 | 88 | 56 | 1,571 | 63 | Thăng hạng Third Division |
| 2 | Southend United (P) | 46 | 24 | 12 | 10 | 81 | 55 | 1,473 | 60 | |
| 3 | Brentford (P) | 46 | 24 | 11 | 11 | 76 | 44 | 1,727 | 59 | |
| 4 | Scunthorpe United (P) | 46 | 22 | 13 | 11 | 56 | 37 | 1,514 | 57 | |
| 5 | Lincoln City | 46 | 21 | 14 | 11 | 77 | 59 | 1,305 | 56 | Giành quyền tham dự Watney Cup[a] |
| 6 | Workington | 46 | 16 | 19 | 11 | 50 | 34 | 1,471 | 51 | |
| 7 | Southport | 46 | 18 | 14 | 14 | 66 | 46 | 1,435 | 50 | |
| 8 | Peterborough United | 46 | 17 | 16 | 13 | 82 | 64 | 1,281 | 50 | Giành quyền tham dự Watney Cup[a] |
| 9 | Bury | 46 | 19 | 12 | 15 | 73 | 59 | 1,237 | 50 | |
| 10 | Cambridge United | 46 | 17 | 14 | 15 | 62 | 60 | 1,033 | 48 | |
| 11 | Colchester United | 46 | 19 | 10 | 17 | 70 | 69 | 1,014 | 48 | |
| 12 | Doncaster Rovers | 46 | 16 | 14 | 16 | 56 | 63 | 0,889 | 46 | |
| 13 | Gillingham | 46 | 16 | 13 | 17 | 61 | 67 | 0,910 | 45 | |
| 14 | Newport County | 46 | 18 | 8 | 20 | 60 | 72 | 0,833 | 44 | |
| 15 | Exeter City | 46 | 16 | 11 | 19 | 61 | 68 | 0,897 | 43 | |
| 16 | Reading | 46 | 17 | 8 | 21 | 56 | 76 | 0,737 | 42 | |
| 17 | Aldershot | 46 | 9 | 22 | 15 | 48 | 54 | 0,889 | 40 | |
| 18 | Hartlepool | 46 | 17 | 6 | 23 | 58 | 69 | 0,841 | 40 | |
| 19 | Darlington | 46 | 14 | 11 | 21 | 64 | 82 | 0,780 | 39 | |
| 20 | Chester | 46 | 10 | 18 | 18 | 47 | 56 | 0,839 | 38 | |
| 21 | Northampton Town | 46 | 12 | 13 | 21 | 66 | 79 | 0,835 | 37 | Được tái bầu |
| 22 | Barrow (R) | 46 | 13 | 11 | 22 | 40 | 71 | 0,563 | 37 | Không được tái bầu và bị giáng xuống Northern Premier League |
| 23 | Stockport County | 46 | 9 | 14 | 23 | 55 | 87 | 0,632 | 32 | Được tái bầu |
| 24 | Crewe Alexandra | 46 | 10 | 9 | 27 | 43 | 69 | 0,623 | 29 |
- ^ a b Hai đội ghi nhiều bàn thắng nhất ở mỗi hạng đấu, đồng thời không giành quyền tham dự cúp châu Âu và không thăng hạng, sẽ giành quyền tham dự Watney Cup.
Các cầu thủ ghi bàn hàng đầu
First Division
- Francis Lee (Manchester City) - 33 bàn thắng[9]
Second Division
- Bob Latchford (Birmingham City) - 23 bàn thắng[9]
Third Division
- Ted MacDougall (AFC Bournemouth) - 35 bàn thắng[9]
Fourth Division
- Peter Price (Peterborough United) - 28 bàn thắng[9]
Các giải đấu châu Âu
Chung kết Cúp UEFA 1972 là trận chung kết đầu tiên trong lịch sử của Cúp UEFA, và được tranh tài giữa hai câu lạc bộ Anh là Wolverhampton Wanderers và Tottenham Hotspur. Spurs thắng 2-1 ở lượt đi tại Molineux vào ngày 3 tháng 5 năm 1972. Trận lượt về, diễn ra vào ngày 17 tháng 5 tại White Hart Lane, kết thúc với tỉ số 1-1. Chiến thắng chung cuộc 3-2 của Tottenham Hotspur mang về cho họ danh hiệu châu Âu thứ Hai trong lịch sử.[10]
Nhật kí mùa giải
Phần này cần được mở rộng. Bạn có thể giúp bằng cách mở rộng nội dung của nó. (tháng 9 năm 2014) |
- 8 tháng 7 năm 1971: Bill Shankly kí hợp đồng ba năm với tư cách huấn luyện viên Liverpool, qua đó tiếp tục nắm quyền cho tới cuối mùa giải 1973-74.[11]
- 7 tháng 8 năm 1971: FA Charity Shield 1971 được tổ chức, nhưng không có sự tham dự của nhà đương kim vô địch giải vô địch và cúp quốc gia là Arsenal, do đội bóng này đang du đấu nước ngoài trước mùa giải. Danh hiệu thuộc về nhà vô địch Second Division Leicester City, đội đánh bại á quân Chung kết Cúp FA 1971 là Liverpool nhờ bàn thắng của Steve Whitworth; Arsenal thua Feyenoord 0-1.[12]
- 20 tháng 8 năm 1971: Manchester United đánh bại Arsenal 3-1 trong một trận "sân nhà" được tổ chức tại Anfield ở Liverpool, do lệnh cấm tổ chức hai trận sân nhà đầu tiên của họ tại Manchester; trận còn lại sẽ được tổ chức tại Victoria Ground ở Stoke-on-Trent.[13]
- 13 tháng 10 năm 1971: Anh giành một chiến thắng quan trọng ở vòng loại Giải vô địch châu Âu tại Thụy Sĩ. Anton Weibel phản lưới nhà ở cuối trận, giúp Anh thắng 3-2 tại Basel để vươn lên đầu Bảng 3.
- 6 tháng 11 năm 1971: derby Manchester tại Maine Road khép lại với trận hòa kịch tính 3-3, trong đó cầu thủ chạy cánh 17 tuổi ra mắt đội một là Sammy McIlroy ghi bàn cho United.[14]
- 10 tháng 11 năm 1971: Anh hòa Thụy Sĩ 1-1 tại Wembley để tiếp tục nắm quyền chủ động trong cuộc đua giành vé vào tứ kết Giải vô địch châu Âu. Mike Summerbee mở tỉ số từ sớm, trước khi Karl Odermatt gỡ hòa cho đội khách.
- 27 tháng 11 năm 1971: Alan Woodward ghi bốn trong tổng số bảy bàn thắng mà Sheffield United nã vào lưới Ipswich Town mà không để thủng lưới bàn nào, trong khi ở các trận khác, George Best lập hat-trick giúp Manchester United đánh bại Southampton 5-2, còn Wolverhampton Wanderers thắng West Bromwich Albion 3-2 trong trận Black Country derby.[15]
- 1 tháng 12 năm 1971: Anh vô địch bảng vòng loại Giải vô địch châu Âu sau chiến thắng 2-0 tại Hi Lạp. Geoff Hurst và Martin Peters là những người ghi bàn.
- 31 tháng 12 năm 1971: Vào cuối năm, Manchester United đứng đầu First Division, hơn Manchester City ba điểm và hơn Leeds United bốn điểm. West Bromwich Albion và Nottingham Forest đang nằm ở các vị trí rớt hạng.[16]
- 19 tháng 2 năm 1972: Leeds United vùi dập Manchester United 5-1 tại Elland Road và hiện chỉ còn kém Manchester City hai điểm ở ngôi đầu bảng. Manchester United lúc này đã thua năm trận giải liên tiếp.[16]
- 23 tháng 2 năm 1972: Đội Second Division Sheffield Wednesday tiếp đón đội bóng Brasil đang du đấu là Santos tại Hillsborough stadium trong một trận đấu được tổ chức vào chiều ngày thường do cuộc đình công của thợ mỏ. 37.000 khán giả đã chứng kiến chiến thắng 2-0 của đội bóng Brasil, đội có Pelé trong đội hình.
- 4 tháng 3 năm 1972: Leeds United đánh bại Southampton 7-0 và sẽ vượt lên đầu bảng nếu thắng hai trận đá bù của mình. Manchester United nhận thất bại thứ sáu liên tiếp tại giải khi thua Tottenham Hotspur 0-2.[16]
- 6-7 tháng 3 năm 1972: Huấn luyện viên Derby County Brian Clough tuyên bố đã chiêu mộ tiền đạo Nottingham Forest là Ian Storey-Moore; tuy nhiên thương vụ này bị câu lạc bộ chủ quản và chính cầu thủ phản đối, và cuối cùng anh gia nhập Manchester United với giá 200.000 bảng.
- 8 tháng 3 năm 1972: Rodney Marsh chuyển từ Queens Park Rangers sang Manchester City với mức phí 200.000 bảng.[17]
- 31 tháng 3 năm 1972: Brian Clough bác bỏ các tin đồn cho rằng ông sẽ là người kế nhiệm Noel Cantwell trên cương vị huấn luyện viên Coventry City.[18] Trong khi đó trên sân cỏ, ở First Division, việc Leeds không thể đánh bại West Ham khiến họ bỏ lỡ cơ hội lên đầu bảng; chiến thắng của Millwall giúp đội bóng này vươn lên đầu Second Division, vượt qua Norwich City và Birmingham City; đội đầu bảng Third Division Aston Villa nới rộng khoảng cách với AFC Bournemouth; còn ở hạng đấu thấp nhất, Grimsby Town đánh bại Reading để leo lên vị trí thứ Hai sau đối thủ vùng Scunthorpe United, đồng thời trở thành đội đầu tiên trong Football League ghi được 50 bàn ở mùa giải này.[19]
- 1 tháng 4 năm 1972: Derby County đánh bại Leeds United 2-0 để chiếm ngôi đầu First Division.[16]
- 26 tháng 4 năm 1972: Derby County vô địch Texaco Cup sau khi đánh bại Airdrieonians 2-1 sau hai lượt trận.[20] Chiến thắng 2-0 của Crystal Palace trước Stoke City khiến cả Nottingham Forest lẫn Huddersfield Town rớt khỏi First Division.
- 1 tháng 5 năm 1972: Derby County, trong trận giải vô địch cuối cùng của mùa giải, đánh bại Liverpool 1-0. Leeds United vượt qua Chelsea 2-0 và sẽ vô địch nếu họ đánh bại Wolverhampton Wanderers ở trận cuối cùng của mình.[16]
- 8 tháng 5 năm 1972: Derby County vô địch giải vô địch khi cả Leeds United lẫn Liverpool đều không thể thắng trong trận cuối cùng của mùa giải. Leeds sẽ vượt qua Derby nhờ hệ số trung bình bàn thắng nếu họ hòa Wolverhampton Wanderers tại Molineux, nhưng lại thua 1-2, còn Liverpool hòa Arsenal 0-0 tại Highbury.[16]
- 11 tháng 5 năm 1972: Mùa giải First Division khép lại khi Tottenham Hotspur đánh bại Arsenal 2-0 trong trận North London derby tại Highbury.[16]
Các cầu thủ nổi bật
- Gordon Banks được bầu là FWA Footballer of the Year, bên cạnh huy chương vô địch League Cup của ông.
- Norman Hunter và Billy Bremner đã góp công giúp Leeds vô địch Cúp FA.
- Roy McFarland và Colin Todd đã góp công giúp Derby vô địch giải vô địch.
Các huấn luyện viên nổi bật
- Brian Clough đã đưa Derby tới chức vô địch giải vô địch đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ.
- Don Revie giúp Leeds vô địch Cúp FA lần đầu tiên.
- Tony Waddington chấm dứt lịch sử không danh hiệu của Stoke City bằng chức vô địch League Cup.
Đội tuyển quốc gia
Anh bị loại khỏi Giải vô địch châu Âu 1972 ở tứ kết sau khi thua Tây Đức với tổng tỉ số 1-3 sau hai lượt trận, 1-3 tại Wembley và 0-0 tại Tây Berlin; Tây Đức sau đó đã vô địch giải đấu.
Tham khảo
- ^ "FA Cup Final 1972". Fa-cupChung kết.co.uk. kt-228g.co.uk/1972.htm Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2011.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị|url=(trợ giúp) - ^ "Stoke City earn Cup replay". The Age. Melbourne. Australian Associated Press; Reuters. ngày 17 tháng 12 năm 1971. tr. 26. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2014.
- ^ Edwards, Richard (ngày 26 tháng 1 năm 2016). "The most mental semi-final ever: when Bobby Moore went in goal... and saved a penalty". fourfourtwo.com. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2017.
- ^ "Manchester City football club match record: 1972". 11v11.com. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017.
- ^ "Derby County football club match record: 1972". 11v11.com. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017.
- ^ "Leeds United football club match record: 1972". 11v11.com. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017.
- ^ "Classic match report - Wolves 2 Leeds 1, 1972". Express & Star. ngày 29 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017.
- ^ "Liverpool football club match record: 1972". 11v.11.com. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018.
- ^ a b c d "English League Leading Goalscorers". RSSSF. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2017.
- ^ "Chung kết Cúp UEFA 1972". Spurs Memorabilia. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2011.
- ^ "A timeline for Liverpool Football Club - LFChistory - Stats galore for Liverpool FC!".
- ^ Miller, Nick (ngày 4 tháng 8 năm 2016). "The forgotten story of … Leicester City winning the 1971 Charity Shield". The Guardian. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016.
- ^ Roughley, Gregg (ngày 17 tháng 3 năm 2010). "The forgotten story of ... When Anfield was Manchester United's home ground". The Guardian. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2017.
- ^ Ley, John (ngày 10 tháng 11 năm 2010). "Top 10: Manchester derbies". Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2011.
- ^ "Best kicks three goals". The Sydney Morning Herald. ngày 29 tháng 11 năm 1971. tr. 17. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2014.
- ^ a b c d e f g Smailes, Gordon (2000). The Breedon Book of Football Records. Derby: Breedon Books. ISBN 1859832148.
- ^ "Derby should go three points ahead". The Herald. Glasgow. ngày 3 tháng 4 năm 1972. tr. 4. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018.
- ^ "RUMOUR DENIED". The Herald. Glasgow. ngày 1 tháng 4 năm 1972. tr. 2. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018.
- ^ "Leeds lose chance of going to top". The Herald. Glasgow. ngày 1 tháng 4 năm 1972. tr. 2. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2018.
- ^ "Disputed penalty decision robs Airdrie of cup". The Herald. Glasgow. ngày 27 tháng 4 năm 1972. tr. 9. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2014.