Yacine Brahimi
|
Tập tin:Algérie - Arménie - 20140531 - Yacine Brahimi.jpg Brahimi thi đấu cho Algérie năm 2014 | ||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | ||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Yacine Nasreddine Brahimi[1] | |||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 8 tháng 2, 1990 [2] | |||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Paris, Pháp | |||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,71 m[2] | |||||||||||||||||||
| Vị trí | tiền vệ cánh, tiền vệ tấn công | |||||||||||||||||||
| Thông tin đội | ||||||||||||||||||||
Đội hiện nay | Al-Gharafa | |||||||||||||||||||
| Số áo | 8 | |||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | ||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | |||||||||||||||||||
| 1997–2000 | Montreuil | |||||||||||||||||||
| 2000–2004 | Vincennois | |||||||||||||||||||
| 2003–2006 | Clairefontaine | |||||||||||||||||||
| 2004–2006 | Paris Saint-Germain | |||||||||||||||||||
| 2006–2007 | Rennes | |||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | ||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||||||||
| 2007–2013 | Rennes | 39 | (6) | |||||||||||||||||
| 2009–2010 | → Clermont (mượn) | 32 | (8) | |||||||||||||||||
| 2012–2013 | → Granada (mượn) | 27 | (0) | |||||||||||||||||
| 2013–2014 | Granada | 35 | (3) | |||||||||||||||||
| 2014–2019 | Porto | 148 | (39) | |||||||||||||||||
| 2019–2022 | Al-Rayyan | 56 | (25) | |||||||||||||||||
| 2022– | Al-Gharafa | 71 | (40) | |||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | ||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | |||||||||||||||||
| 2006 | U-16 Pháp | 7 | (2) | |||||||||||||||||
| 2006 | U-17 Pháp | 3 | (0) | |||||||||||||||||
| 2007–2008 | U-18 Pháp | 5 | (1) | |||||||||||||||||
| 2008–2009 | U-19 Pháp | 11 | (7) | |||||||||||||||||
| 2010 | U-20 Pháp | 5 | (1) | |||||||||||||||||
| 2010–2012 | U-21 Pháp | 8 | (1) | |||||||||||||||||
| 2021–2025 | Algérie A’ | 6 | (3) | |||||||||||||||||
| 2013–2024 | Algérie | 72 | (15) | |||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| ||||||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến 17 tháng 1 năm 2026 ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến 9 tháng 12 năm 2025 | ||||||||||||||||||||
Yacine Nasreddine Brahimi (tiếng Ả Rập: يَاسِين نَصْر الدِّين إِبْرَاهِيمِيّ; sinh ngày 8 tháng 2 năm 1990) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp thi đấu và giữ băng đội trưởng cho câu lạc bộ Qatar Al-Gharafa. Sinh tại Pháp, anh thi đấu cho đội tuyển quốc gia Algérie.[3][4][5] Anh thi đấu ở vị trí tiền vệ tấn công và tiền vệ cánh, đồng thời được mô tả là cầu thủ "có kỹ thuật tốt".[6]
Brahimi bắt đầu sự nghiệp tại nhiều câu lạc bộ khác nhau ở Île-de-France, từng tập luyện tại ASB Montreuil và CO Vincennois. Năm 2003, anh được chọn vào học viện Clairefontaine. Brahimi trải qua ba năm tại học viện này và sau khi rời đi, anh ký hợp đồng với Rennes. Khi còn ở học viện trẻ của câu lạc bộ, anh giành được một số danh hiệu cấp câu lạc bộ. Sau khi chuyển sang chuyên nghiệp, Brahimi được cho câu lạc bộ hạng nhì Clermont Foot mượn. Tại Clermont, anh có một mùa giải 2009–10 thành công về mặt cá nhân. Sau mùa giải trước đó thi đấu tại đây theo dạng cho mượn, anh chuyển tới câu lạc bộ La Liga Granada CF năm 2013, rồi gia nhập Porto một năm sau đó với mức phí 6,5 triệu euro.
Là tuyển thủ quốc gia Algérie, Brahimi từng là tuyển thủ trẻ Pháp và đại diện cho quốc gia này ở mọi cấp độ trẻ. Năm 2009, anh thi đấu cho U-19 Pháp, đội vào tới bán kết Giải vô địch bóng đá U-19 châu Âu. Tháng 2 năm 2013, Brahimi chuyển đội tuyển quốc gia sang Algérie và có trận ra mắt một tháng sau đó, đồng thời góp mặt tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 và các kỳ 2015, 2017, 2019 và Cúp bóng đá châu Phi, trong đó vô địch giải đấu năm 2019.
Sự nghiệp câu lạc bộ
Sự nghiệp ban đầu
Brahimi sinh tại Paris trong một gia đình có cha mẹ là người Algérie và lớn lên ở vùng ngoại ô phía đông Paris, tại Montreuil thuộc Seine-Saint-Denis.[7] Khi còn nhỏ, anh thường bắt chước Zinedine Zidane khi chơi bóng đá đường phố với bạn bè.[8] Brahimi bắt đầu sự nghiệp bóng đá khi thi đấu cho câu lạc bộ địa phương ASB Montreuil. Sau bốn năm tại đây, anh gia nhập CO Vincennois, một câu lạc bộ ở gần Vincennes nổi tiếng vì từng đào tạo cầu thủ Ligue 1 Blaise Matuidi. Hai năm sau, Brahimi được chọn vào học viện danh tiếng Clairefontaine năm 2003 để tiếp tục phát triển.[9] Trong thời gian tập luyện tại Clairefontaine vào các ngày trong tuần, anh thường xuyên thi đấu cho Vincennois vào cuối tuần. Ở năm cuối tại Clairefontaine, Brahimi trải qua một năm tại Camp des Loges, trung tâm đào tạo trẻ của Paris Saint-Germain, tập luyện cùng đồng đội ở đội tuyển trẻ quốc gia là Mamadou Sakho.[9] Dù được một số câu lạc bộ Pháp và châu Âu theo đuổi sau thời gian tại Clairefontaine, anh ký hợp đồng aspirant với Rennes. Tháng 10 năm 2010, Brahimi cho biết anh chọn Rennes vì giá trị giáo dục của câu lạc bộ, nói rằng: "Tại Rennes, học viện rất coi trọng việc học", và "Đó là sự bảo đảm đối với cha mẹ tôi. Họ khuyên tôi chọn Stade Rennes. Như vậy, tôi có thể tiếp tục tập luyện bóng đá trong khi chuẩn bị cho kỳ thi Baccalauréat."[9]
Rennes
Brahimi gia nhập Rennes và nhanh chóng trở thành một phần trong nhóm tài năng của học viện trẻ câu lạc bộ. Anh cùng Damien Le Tallec — em trai của Anthony Le Tallec — Yann M'Vila, Yohann Lasimant, Kévin Théophile-Catherine và Samuel Souprayen nằm trong số những triển vọng được săn đón nhất của câu lạc bộ. Sự kết hợp giữa M'Vila, Brahimi, Camara và Le Tallec — cả bốn đều thuộc lứa sinh năm 1990 — đặc biệt có vai trò quan trọng trong các thành công của đội trẻ. Với đội U-16, bộ tứ này giành Tournoi Carisport, một giải đấu quốc gia thường quy tụ các học viện hàng đầu tại Pháp. Hai mùa giải sau, với đội U-18, Brahimi giành chức vô địch giải U-18 mùa giải 2006–07. Năm 2008, học viện trẻ đạt danh hiệu lớn nhất khi vô địch Coupe Gambardella. Đây là danh hiệu Gambardella Cup thứ ba của Rennes và là lần đầu tiên của câu lạc bộ kể từ năm 2003, thời điểm những cầu thủ như Yoann Gourcuff và Sylvain Marveaux còn thi đấu ở giải này. Sau mùa giải 2007–08, vào ngày 23 tháng 6, Brahimi ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên, đồng ý với bản hợp đồng ba năm đến tháng 6 năm 2011.[10] Dù đã ký hợp đồng chuyên nghiệp, Brahimi không được trao số áo ở đội một mà thi đấu cho đội Championnat de France amateur của câu lạc bộ tại giải hạng tư, ra sân 22 trận và ghi ba bàn, giúp đội kết thúc ở vị trí số một trong nhóm các câu lạc bộ chuyên nghiệp, qua đó giành quyền dự vòng play-off của giải đấu, nơi họ thua Lyon ở bán kết.[11]
Clermont (cho mượn)
Sau một mùa giải quốc tế thành công với Pháp, Rennes quyết định rằng phương án tốt nhất là cho cầu thủ trẻ này đi mượn để có thêm thời gian thi đấu cần thiết. Ngày 3 tháng 7 năm 2009, câu lạc bộ thông báo rằng Brahimi sẽ gia nhập câu lạc bộ Ligue 2 Clermont Foot theo dạng cho mượn trong toàn bộ mùa giải 2009–10.[12] Brahimi đến câu lạc bộ sau Giải vô địch bóng đá U-19 châu Âu, cùng một cầu thủ khác được mượn từ Juventus là Carlo Vecchione, và được trao áo số 28. Anh có trận ra mắt chuyên nghiệp ở vòng mở màn mùa giải, vào sân từ ghế dự bị trong thất bại 1–2 trước Arles-Avignon.[13] Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ vào ngày 25 tháng 9, thực hiện thành công một quả phạt đền trong chiến thắng 3–2 của đội trước Angers.[14] Bàn thắng đầu tiên từ bóng sống của Brahimi đến vào ngày 4 tháng 12, trong chiến thắng 3–1 của Clermont trên sân Bastia.[15] Hai tuần sau, anh tiếp tục ghi bàn, thực hiện thành công một quả phạt đền khác trong trận hòa 1–1 với Guingamp.[16]
Ngày 23 tháng 3 năm 2010, Brahimi ghi bàn mở tỷ số trong chiến thắng 3–0 của Clermont trước Ajaccio.[17] Ba ngày sau, anh ghi một bàn và kiến tạo một bàn trong chiến thắng 3–1 trên sân khách trước Istres.[18] Một tháng sau, Brahimi thực hiện thành công quả phạt đền thứ ba của mình trong mùa giải, giúp đội thắng Dijon 3–2.[19] Chiến thắng này đưa Clermont lên vị trí thứ tư trên bảng xếp hạng và chỉ còn kém suất thăng hạng ba điểm. Tuần tiếp theo, Brahimi tiếp tục thể hiện khả năng tấn công khi ghi bàn vào lưới Le Havre. Tuy nhiên, trận đấu kết thúc với thất bại 1–2 của Clermont.[20] Đây là thất bại đầu tiên của câu lạc bộ trong một trận đấu mà Brahimi ghi bàn. Ba ngày sau, Brahimi ghi bàn thắng thứ tám của mình trong mùa giải, trong chiến thắng 3–1 trước Guingamp.[21] Chiến thắng này tạo nên một trận đấu mang tính chất play-off thăng hạng ở vòng cuối mùa giải, khi Clermont xếp thứ tư gặp Arles-Avignon xếp thứ ba, với chiến thắng sẽ giúp đội giành quyền lên Ligue 1. Đáng tiếc cho Clermont, câu lạc bộ không thể lần đầu tiên trong lịch sử giành quyền thăng hạng lên Ligue 1 khi thua trận 0–1. Brahimi thi đấu 89 phút trong trận này và nhận một thẻ vàng.[22]
Trở lại Rennes
Sau mùa giải, vào ngày 15 tháng 5 năm 2010, huấn luyện viên Rennes Frédéric Antonetti xác nhận rằng Brahimi sẽ trở lại đội bóng, bất chấp sự quan tâm từ Arsenal và Real Madrid, đồng thời anh sẽ được đặt nhiều kỳ vọng ở mùa giải 2010–11, có thể đảm nhiệm vai trò tiền vệ kiến thiết thay thế Jérôme Leroy đã lớn tuổi.[23][24][25][26][27] Ngày 7 tháng 8 năm 2010, Brahimi có trận ra mắt câu lạc bộ Rennes trong trận mở màn giải vô địch quốc gia của đội gặp Lille. Anh đá chính và thi đấu 71 phút trong trận hòa 1–1.[28] Ngày hôm sau, Rennes thông báo rằng Brahimi đã ký gia hạn hợp đồng bốn năm với câu lạc bộ.[29] Bản hợp đồng mới giữ anh ở lại câu lạc bộ đến tháng 6 năm 2014.[30]
Ngày 14 tháng 8 năm 2010, Brahimi ghi bàn thắng đầu tiên trong sự nghiệp cho câu lạc bộ trong chiến thắng 3–0 trước Nancy.[31] Trong một giai đoạn của mùa thu, cầu thủ kiến thiết này trải qua thời gian sa sút khi không ghi bàn hay kiến tạo. Do đó, Brahimi bắt đầu luân phiên ra vào đội hình xuất phát. Sau kỳ nghỉ đông, Brahimi lấy lại phong độ khi ghi bàn và kiến tạo trong chiến thắng đậm 7–0 của đội trước câu lạc bộ Championnat National Cannes tại Cúp bóng đá Pháp.[32] Một tuần sau, anh lập cú đúp trong chiến thắng 4–0 tại giải vô địch quốc gia trước Arles-Avignon.[33] Ngày 5 tháng 2 năm 2011, Brahimi ghi bàn vào lưới câu lạc bộ trẻ cũ Paris Saint-Germain. Cú sút xa này là bàn thắng duy nhất của trận đấu, giúp Rennes cân bằng điểm số với PSG ở vị trí thứ hai.[34]
Granada
Ngày 30 tháng 8 năm 2012, Brahimi gia nhập Granada CF của La Liga Tây Ban Nha theo dạng cho mượn với mức phí 700.000 euro, kèm điều khoản mua đứt trị giá 4 triệu euro sau đó.[35] Điều khoản này được kích hoạt vào ngày 4 tháng 6 năm 2013, khi anh ký hợp đồng bốn năm với câu lạc bộ.[36] Tại Giải thưởng LFP, anh được bầu chọn là cầu thủ châu Phi xuất sắc nhất mùa giải 2013–14.[37]
Porto
Ngày 22 tháng 7 năm 2014, FC Porto thông báo chiêu mộ Brahimi từ Granada với mức phí chuyển nhượng 6,5 triệu euro theo hợp đồng năm năm.[38][39][40] Ngày 24 tháng 7 năm 2014, Porto bán 80% quyền kinh tế của anh cho Doyen Sports với giá 5 triệu euro.[41] Các thỏa thuận này về thực chất khiến Porto nắm 20% quyền kinh tế của cầu thủ với mức giá 1,5 triệu euro.
Bàn thắng đầu tiên của Brahimi cho câu lạc bộ đến ở trận lượt về vòng play-off UEFA Champions League gặp Lille, khi anh ghi bàn trực tiếp từ một quả đá phạt, giúp Porto vào vòng bảng với chiến thắng chung cuộc 3–0.[42] Anh lập hat-trick đầu tiên cho câu lạc bộ trong trận mở màn vòng bảng Champions League của Porto, chiến thắng 6–0 trên sân nhà trước BATE Borisov vào ngày 17 tháng 9.[43] Ở trận đấu châu Âu kế tiếp, anh bị thủ môn Andriy Pyatov cản phá quả phạt đền khi tỷ số vẫn là 0–0 trên sân Shakhtar Donetsk.[44] Anh ghi bàn thắng đầu tiên tại giải vô địch quốc gia trước C.D. Nacional trong chiến thắng 2–0 vào ngày 1 tháng 11. Ngày 5 tháng 11, Brahimi ghi một bàn và kiến tạo một bàn khi Porto đánh bại Athletic Bilbao 2–0 để giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp của Champions League.[45]
Ngày 26 tháng 6 năm 2015, Porto mua lại 30% quyền kinh tế từ Doyen với giá 3,8 triệu euro.[46]
Brahimi ghi một bàn khi Porto đánh bại Maccabi Tel Aviv 2–0 ở vòng bảng UEFA Champions League.[47]
Anh rời Porto sau khi hợp đồng hết hạn vào ngày 30 tháng 6 năm 2019.[48]
Al-Rayyan
Ngày 22 tháng 7 năm 2019, Brahimi gia nhập câu lạc bộ Giải bóng đá các ngôi sao Qatar Al-Rayyan.[49] Trong mùa giải đầu tiên, anh ghi 15 bàn và có 5 pha kiến tạo sau 22 lần ra sân tại giải vô địch quốc gia. Câu lạc bộ kết thúc ở vị trí thứ hai mà không giành danh hiệu nào, đồng thời bị loại ở vòng play-off AFC Champions League. Ở mùa giải thứ hai, sau khởi đầu chệch choạc của đội bóng, Brahimi được liên hệ với khả năng chuyển tới nhà vô địch QSL Al-Duhail vào tháng 1 năm 2021.[50]
Sự nghiệp quốc tế
Pháp
Ngay từ năm 13 tuổi, Brahimi đã góp mặt trong các đội trẻ khu vực, thi đấu cho Île-de-France cùng những đồng đội sau này cũng là tuyển thủ trẻ quốc gia như Mamadou Sakho, Tripy Makonda, Maxime Partouche và Sébastien Corchia. Brahimi có trận ra mắt đội U-16 vào ngày 21 tháng 3 năm 2006, thực hiện thành công một quả phạt đền trong chiến thắng 3–1 trước U-16 Đức.[51] Anh thi đấu cho đội U-16 tại giải Montaigu Tournament năm 2006, góp mặt trong cả bốn trận của đội khi Pháp lên ngôi vô địch sau chiến thắng 2–1 trước Ý ở chung kết.[52] Với đội U-17, Brahimi có trận ra mắt vào ngày 25 tháng 9 trong một trận vòng loại Giải vô địch bóng đá U-17 châu Âu 2007 gặp Litva. Pháp thắng 4–2, còn Brahimi vào sân từ ghế dự bị.[53] Dù góp mặt ở vòng loại đầu tiên, Brahimi vắng mặt tại giải đấu chính thức do cầu thủ này gặp khó khăn trong việc thích nghi tại câu lạc bộ mới ở cấp trong nước.[9] Sau đó, anh không có tên trong đội hình giành quyền dự Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới, thành tích có được nhờ việc đội vào bán kết giải đấu do UEFA tổ chức. Brahimi có trận ra mắt đội U-18 vào ngày 18 tháng 12 năm 2007 trong một trận đấu giao hữu gặp Bồ Đào Nha, trận đấu kết thúc với thất bại 0–1, và sau đó góp mặt trong hai trận giao hữu với Đức, một trong số đó diễn ra tại GAZi-Stadion auf der Waldau ở Stuttgart.[54][55]
Với U-19 Pháp, Brahimi góp mặt trong toàn bộ 19 trận và ghi 12 bàn thắng. Anh có vai trò nổi bật trong vòng loại Giải vô địch bóng đá U-19 châu Âu, ghi nhiều nhất đội với năm bàn trước U-19 Liechtenstein, U-19 Malta và U-19 Cộng hòa Ireland, trong đó ghi cú đúp trước Liechtenstein và đội chủ nhà.[56][57][58] Brahimi cũng ghi một số bàn thắng trong các trận giao hữu. Ngày 30 tháng 3 năm 2009, anh ghi bàn trước U-19 Ukraina và tháng sau đó lập cú đúp trước U-19 Phần Lan trong chiến thắng đậm 7–0.[59][60] Tại Giải vô địch bóng đá U-19 châu Âu, Brahimi ghi hai bàn, một trước U-19 Serbia và một trước U-19 Tây Ban Nha.[61][62] Bàn thắng quyết định trước Tây Ban Nha giúp Pháp giành quyền vào bán kết, nơi đội thua Anh.[63]
Sau một mùa giải thành công với Clermont, anh được Liên đoàn bóng đá Algérie liên hệ và được đề nghị cơ hội khoác áo đội tuyển tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2010.[7] Brahimi được dự kiến có tên trong danh sách sơ bộ của huấn luyện viên Rabah Saadane cho giải đấu, nhưng đã từ chối cơ hội này vì muốn tiếp tục sự nghiệp quốc tế với U-20 Pháp.[7][64][65] Ngày 12 tháng 5 năm 2010, sau gần một năm không đại diện cho Pháp ở cấp độ quốc tế, Brahimi được huấn luyện viên Patrick Gonfalone triệu tập vào U-20 Pháp để tham dự Toulon Tournament. Trong trận thứ hai của đội ở vòng bảng gặp Nhật Bản, Brahimi ghi bàn trong chiến thắng 4–1 của đội.[66] Anh thi đấu trong cả năm trận của đội khi Pháp kết thúc ở vị trí thứ ba.
Ngày 26 tháng 8 năm 2010, Brahimi lần đầu được huấn luyện viên Erick Mombaerts triệu tập vào U-21 Pháp cho các trận vòng loại Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu gặp U-21 Ukraina và U-21 Malta. Anh có trận ra mắt đội U-21 trong trận gặp Malta. Brahimi thi đấu trọn vẹn trận đấu trong chiến thắng 2–0.[67] Sau đó, anh góp mặt trong ba trận tiếp theo của đội trước khi rút khỏi danh sách cho trận giao hữu gặp Slovakia vào tháng 2 năm 2011 do chấn thương.[68]
Algérie
Tháng 2 năm 2013, có thông báo rằng Brahimi đã quyết định chuyển tư cách đội tuyển quốc gia theo FIFA để đại diện cho Algérie.[69] Anh có trận ra mắt một tháng sau đó khi đá chính trong chiến thắng 3–1 trước Bénin tại vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014.[70]
Ngày 22 tháng 6 năm 2014, Brahimi ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển quốc gia, là bàn thứ tư của Algérie trong chiến thắng 4–2 trước Hàn Quốc ở vòng bảng Giải vô địch bóng đá thế giới 2014.[71] Anh đá chính trong tất cả các trận vòng bảng của Algérie và vào sân từ ghế dự bị ở vòng 16 đội, nơi đội thua nhà vô địch sau đó là Đức trong hiệp phụ.[72]
Brahimi cũng có tên trong đội hình Algérie tham dự Cúp bóng đá châu Phi 2015. Trong trận đầu tiên ở vòng bảng gặp Nam Phi, đường tạt bóng của anh dẫn đến bàn gỡ hòa khi Thulani Hlatshwayo phản lưới nhà, trước khi Algérie lội ngược dòng thắng 3–1.[73] Ở trận tiếp theo, anh được chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận, dù đội thua Ghana 0–1.[74] Brahimi cũng góp mặt trong hai trận tiếp theo của đội, kết thúc bằng thất bại ở tứ kết trước nhà vô địch sau đó là Bờ Biển Ngà.
Phong cách thi đấu
Được mô tả là một "cầu thủ có kỹ thuật tốt", Brahimi nổi tiếng với khả năng rê bóng xuất sắc và khả năng vượt qua đối thủ. Được nhiều huấn luyện viên và nhà báo mô tả là một "tiền vệ cánh đa năng và khó đoán",[75] Brahimi tạo dựng danh tiếng là một cầu thủ rê bóng giỏi và một tiền vệ cánh có tốc độ, kỹ năng, qua đó giành giải Cầu thủ châu Phi xuất sắc nhất năm 2014 của BBC.
Đời tư
Brahimi là một tín đồ Hồi giáo.[76][77]
Thống kê sự nghiệp
Câu lạc bộ
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải vô địch | Cúp quốc gia[a] | Cúp Liên đoàn[b] | Châu lục | Khác | Tổng cộng | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| Clermont | 2009–10 | Ligue 2 | 32 | 8 | 0 | 0 | 2 | 0 | — | — | 34 | 8 | ||
| Rennes | 2010–11 | Ligue 1 | 22 | 4 | 2 | 2 | 1 | 0 | — | — | 25 | 6 | ||
| 2011–12 | Ligue 1 | 17 | 2 | 5 | 1 | 1 | 0 | 5[c] | 0 | — | 28 | 3 | ||
| Tổng cộng | 39 | 6 | 7 | 3 | 2 | 0 | 5 | 0 | — | 53 | 9 | |||
| Granada | 2012–13 | La Liga | 27 | 0 | 1 | 0 | — | — | — | 28 | 0 | |||
| 2013–14 | La Liga | 35 | 3 | 1 | 0 | — | — | — | 36 | 3 | ||||
| Tổng cộng | 62 | 3 | 2 | 0 | — | — | — | 64 | 3 | |||||
| Porto | 2014–15 | Giải bóng đá Ngoại hạng Bồ Đào Nha | 28 | 7 | 1 | 0 | 2 | 0 | 11[d] | 6 | — | 42 | 13 | |
| 2015–16 | Primeira Liga | 33 | 7 | 4 | 1 | 0 | 0 | 7[e] | 1 | — | 44 | 9 | ||
| 2016–17 | Primeira Liga | 22 | 6 | 3 | 0 | 1 | 0 | 5[d] | 1 | — | 31 | 7 | ||
| 2017–18 | Primeira Liga | 33 | 9 | 5 | 1 | 4 | 1 | 7[d] | 1 | — | 49 | 12 | ||
| 2018–19 | Primeira Liga | 32 | 10 | 3 | 1 | 4 | 1 | 9[d] | 0 | 1[f] | 1 | 49 | 13 | |
| Tổng cộng | 148 | 39 | 16 | 3 | 11 | 2 | 39 | 9 | 1 | 1 | 215 | 54 | ||
| Al-Rayyan | 2019–20 | Giải bóng đá các ngôi sao Qatar | 22 | 15 | 0 | 0 | 2 | 0 | 1[g] | 0 | 1[h] | 0 | 26 | 15 |
| 2020–21 | Giải bóng đá các ngôi sao Qatar | 18 | 5 | 3 | 2 | 3 | 2 | 6[g] | 0 | 1[h] | 0 | 31 | 9 | |
| 2021–22 | Giải bóng đá các ngôi sao Qatar | 16 | 5 | 2 | 0 | 5 | 2 | 6[g] | 2 | — | 19 | 6 | ||
| Tổng cộng | 56 | 25 | 5 | 2 | 10 | 4 | 13 | 2 | 2 | 0 | 86 | 33 | ||
| Al-Gharafa | 2022–23 | Giải bóng đá các ngôi sao Qatar | 17 | 7 | 2 | 2 | 3 | 1 | — | — | 22 | 10 | ||
| 2023–24 | Giải bóng đá các ngôi sao Qatar | 21 | 21 | 3 | 3 | 3 | 0 | — | — | 27 | 24 | |||
| 2024–25 | Giải bóng đá các ngôi sao Qatar | 8 | 4 | 0 | 0 | 1 | 0 | 5[g] | 1 | — | 14 | 5 | ||
| Tổng cộng | 46 | 32 | 5 | 5 | 7 | 1 | 5 | 1 | — | 63 | 39 | |||
| Tổng cộng sự nghiệp | 386 | 116 | 32 | 10 | 32 | 7 | 62 | 12 | 3 | 1 | 516 | 144 | ||
- ^ Bao gồm Cúp bóng đá Pháp, Cúp Nhà vua Tây Ban Nha, Cúp bóng đá Bồ Đào Nha và Emir of Qatar Cup
- ^ Bao gồm Cúp Liên đoàn bóng đá Pháp, Cúp Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha và Qatari Stars Cup
- ^ Lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ a b c d Lần ra sân ở UEFA Champions League
- ^ Năm lần ra sân và một bàn thắng ở UEFA Champions League, hai lần ra sân ở UEFA Europa League
- ^ Lần ra sân ở Siêu cúp bóng đá Bồ Đào Nha
- ^ a b c d Lần ra sân ở AFC Champions League
- ^ a b Lần ra sân ở Qatar Cup
Quốc tế
- Tính đến trận đấu diễn ra ngày 26 tháng 3 năm 2024[80]
| Đội tuyển quốc gia | Năm | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|
| Algérie | 2013 | 4 | 0 |
| 2014 | 11 | 4 | |
| 2015 | 11 | 2 | |
| 2016 | 5 | 1 | |
| 2017 | 9 | 4 | |
| 2018 | 5 | 0 | |
| 2019 | 7 | 0 | |
| 2020 | 4 | 0 | |
| 2021 | 6 | 3 | |
| 2022 | 4 | 0 | |
| 2023 | 0 | 0 | |
| 2024 | 2 | 1 | |
| Tổng cộng | 68 | 15 | |
- Tỷ số và kết quả liệt kê bàn thắng của Algeria trước, cột tỷ số biểu thị tỷ số sau mỗi bàn thắng của Brahimi.[80]
| Thứ tự | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 22 tháng 6 năm 2014 | Sân vận động Beira-Rio, Porto Alegre, Brasil | 4–1 | 4–2 | Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 | |
| 2 | 6 tháng 9 năm 2014 | Sân vận động Addis Ababa, Addis Ababa, Ethiopia | 2–0 | 2–1 | Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2015 | |
| 3 | 15 tháng 10 năm 2014 | Sân vận động Mustapha Tchaker, Blida, Algérie | 1–0 | 3–0 | Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2015 | |
| 4 | 15 tháng 11 năm 2014 | Sân vận động Mustapha Tchaker, Blida, Algérie | 3–1 | 3–1 | Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2015 | |
| 5 | 13 tháng 10 năm 2015 | Sân vận động 5 tháng 7, Algiers, Algérie | 1–0 | 1–0 | Giao hữu | |
| 6 | 17 tháng 11 năm 2015 | Sân vận động Mustapha Tchaker, Blida, Algérie | 1–0 | 7–0 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 | |
| 7 | 25 tháng 3 năm 2016 | Sân vận động Mustapha Tchaker, Blida, Algérie | 4–0 | 7–1 | Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2017 | |
| 8 | 2 tháng 9 năm 2017 | Sân vận động Quốc gia Heroes, Lusaka, Zambia | 1–2 | 1–3 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 | |
| 9 | 10 tháng 11 năm 2017 | Sân vận động Mohamed Hamlaoui, Constantine, Algérie | 1–1 | 1–1 | Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 | |
| 10 | 14 tháng 11 năm 2017 | Stade du 5 Juillet, Algiers, Algérie | 1–0 | 3–0 | Giao hữu | |
| 11 | 2–0 | |||||
| 12 | 4 tháng 12 năm 2021 | Sân vận động Al Janoub, Al Wakrah, Qatar | 1–0 | 2–0 | FIFA Arab Cup 2021 | |
| 13 | 11 tháng 12 năm 2021 | Sân vận động Al Thumama, Doha, Qatar | 1–0 | 2–2 | FIFA Arab Cup 2021 | |
| 14 | 18 tháng 12 năm 2021 | Sân vận động Al Bayt, Al Khor, Qatar | 2–0 | 2–0 | Chung kết FIFA Arab Cup 2021 | |
| 15 | 26 tháng 3 năm 2024 | Sân vận động Nelson Mandela, Algiers, Algérie | 2–2 | 3–3 | FIFA Series 2024 |
Danh hiệu
Porto
Al-Gharafa
Algérie
Cá nhân
- Cầu thủ bóng đá Ả Rập xuất sắc nhất năm của El Heddaf: 2014[85]
- Cầu thủ bóng đá châu Phi xuất sắc nhất năm của BBC: 2014[86]
- Tài năng triển vọng nhất năm của CAF: 2014[87]
- Đội hình tiêu biểu CAF: 2014,[88] 2015[89]
- Cầu thủ bóng đá Algérie xuất sắc nhất năm: 2014[90]
- Vận động viên Algérie xuất sắc nhất năm của Algerian Olympic and Sports Awards: 2014
- Bàn thắng đẹp nhất tháng của Giải bóng đá Ngoại hạng Bồ Đào Nha: tháng 10/tháng 11 năm 2015 (trước C.D. Tondela),[91] tháng 10 năm 2016 (trước F.C. Arouca),[92] tháng 1 năm 2018 (trước Vitória de Guimarães)[93]
- Cầu thủ xuất sắc nhất năm Porto: 2017[94]
- Đội hình tiêu biểu Giải bóng đá Ngoại hạng Bồ Đào Nha "Quinas de Ouro" của FPF: 2017[95]
- Đội hình tiêu biểu Primeira Liga của SJPF: 2017[96]
- Đội hình tiêu biểu Giải bóng đá các ngôi sao Qatar: 2019–20, 2023–24
- Vua phá lưới Giải bóng đá các ngôi sao Qatar: 2019–20
- Cầu thủ kiến tạo nhiều nhất Giải bóng đá các ngôi sao Qatar: 2022–23[97]
- Cúp Ả Rập FIFA Quả bóng vàng: 2021[98]
- Cúp Ả Rập FIFA Chiếc giày bạc: 2021[98]
- Đội hình tiêu biểu Cúp Ả Rập FIFA: 2021[99]
Tham khảo
- ^ "2014 FIFA World Cup Brazil: List of players: Algeria" (PDF). FIFA. ngày 14 tháng 7 năm 2014. tr. 1. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2019.
- ^ a b "FIFA Arab Cup Qatar 2021: List of players: Algeria" (PDF). FIFA. ngày 4 tháng 12 năm 2021. tr. 1. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Yacine Brahimi voted Cầu thủ bóng đá châu Phi xuất sắc nhất năm của BBC 2014". BBC. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Transfer News: Porto sign Algerian midfielder Yacini Brahimi from Rennes". Sky Sports. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Algeria: Yacine Brahimi Wins Cầu thủ bóng đá châu Phi xuất sắc nhất năm của BBC 2014 Award". allAfrica. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Yacine Brahimi se construit un avenir radieux". Rennes Maville (bằng tiếng Pháp). 9 tháng 1. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp) - ^ a b c "Yacine Brahimi: J'ai dit non à la Coupe du monde, mais je ne dis pas non à l'Algérie". 123 Vive Algérie. ngày 11 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Yacine Brahimi, le feu follet veut oublier". Caen Maville. ngày 23 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ a b c d "Brahimi, marked out for success". Stade Rennais F.C. ngày 16 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011.
- ^ "Yacine Brahimi passe pro". Stade Rennais F.C. (bằng tiếng Pháp). ngày 23 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Réserves, demi-finale: Lyon élimine Rennes aux tirs au but". Stade Rennais F.C. (bằng tiếng Pháp). 2 tháng 6. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp) - ^ "Rennes: Yacine Brahimi prêté à Clermont". Fédération Internationale de Football Association (bằng tiếng Pháp). ngày 3 tháng 7 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Clermont v. Arles Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 7 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Clermont v. Angers Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 25 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Bastia v. Clermont Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 4 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Guingamp v. Clermont Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 22 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Clermont v. Ajaccio Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 23 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Istres v. Clermont Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 26 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Dijon v. Clermont Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 23 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Le Havre v. Clermont Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 4 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Clermont v. Guingamp Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 7 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011.
- ^ "Arles-Avignon v. Clermont Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 15 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011.
- ^ "Rennes prospect Yacine Brahimi aware of Real Madrid interest". Tribal Football. ngày 11 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Arsenal & Real Madrid target Rennes starlet Yacine Brahimi". New York Daily News. ngày 6 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ^ "Antonetti compte cur Brahimi". Mercato365. ngày 1 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Antonetti "compte sur Brahimi"". France Football (bằng tiếng Pháp). ngày 1 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Yacine Brahimi grandit à l'ombre des volcans". Rennes Maville (bằng tiếng Pháp). ngày 31 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Rennes v. Lille Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 7 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Y. Brahimi signe un contrat de 4 ans". Stade Rennais F.C. (bằng tiếng Pháp). ngày 7 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Brahimi jusqu'en 2014". France Football (bằng tiếng Pháp). ngày 8 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ^ "Nancy v. Rennes Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 14 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011.
- ^ "Rennes v. Cannes Match Report". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). ngày 9 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011.
- ^ "Rennes v. Arles-Avignon Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 15 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011.
- ^ "Rennes v. Paris Saint-Germain Match Report". Ligue de Football Professionnel (bằng tiếng Pháp). ngày 5 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011.
- ^ Prieto, Juan (ngày 30 tháng 8 năm 2012). "Yacine Brahimi llega como cedido al Granada [Yacine Brahimi arrives on loan at Granada]". Marca (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
- ^ "El Granada se queda con Brahimi [Granada stick with Brahimi]". Marca (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 4 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
- ^ "gala de premios LFP 2013/14" [Giải thưởng LFP show 2013/14] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Liga de Fútbol Profesional. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2014.
- ^ "Porto sign Algeria's Brahimi from Granada". King Fut. ngày 23 tháng 7 năm 2014.
- ^ "Porto sign Yacine Brahimi". GIVEMESPORT. ngày 23 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014.
- ^ "COMUNICADO" (PDF). FC Porto (bằng tiếng Bồ Đào Nha). CMVM. ngày 22 tháng 7 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2014.
- ^ "COMUNICADO" (PDF). FC Porto (bằng tiếng Bồ Đào Nha). CMVM. ngày 24 tháng 7 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2014.
- ^ "Porto oust LOSC for 19th group appearance". UEFA. ngày 26 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
- ^ "FC Porto 6–0 BATE Bor". BBC Sport. ngày 17 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2014.
- ^ "Martínez earns Porto stunning draw at Shakhtar". UEFA. ngày 30 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2014.
- ^ "Porto secure progress as Athletic hopes end". UEFA. ngày 5 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2014.
- ^ "Comunicado" [Communication] (PDF). F.C. Porto (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Hosted by CMVM. ngày 26 tháng 6 năm 2015. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2016.
- ^ Bản mẫu:Chú thích web 2015–16
- ^ "Herrera e Brahimi terminam hoje contrato com o FC Porto" [Herrera and Brahimi contracts with FC Porto end today] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Bancada. ngày 30 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2019.
- ^ "Afcon winner Yacine Brahimi joins Qatari's club Al-Rayyan". Goal.com. ngày 22 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2019.
- ^ "Qatar : Al Rayyan dément le départ de Brahimi". DZfoot.com (bằng tiếng Pháp). ngày 11 tháng 11 năm 2020.
- ^ "La France bat l'Allemagne (3–1)". French Football Federation (bằng tiếng Pháp). ngày 21 tháng 3 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "La France remporte la finale (2–1)" (bằng tiếng Pháp). French Football Federation. ngày 17 tháng 4 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Belle entrée en matière (4–2)" (bằng tiếng Pháp). French Football Federation. ngày 25 tháng 9 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Courte défaite tricolore (1–0)" (bằng tiếng Pháp). French Football Federation. ngày 18 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Succès allemand à Stuttgart (1–0)" (bằng tiếng Pháp). French Football Federation. ngày 11 tháng 3 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "France v. Liechtenstein Match Report". Union of European Football Associations. ngày 21 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Malta v. France Match Report". Union of European Football Associations. ngày 23 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "France v. Republic of Ireland Match Report". Union of European Football Associations. ngày 26 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Victoire convaincante (7–0)" (bằng tiếng Pháp). French Football Federation. ngày 29 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Premier succès tricolore (2–0)" (bằng tiếng Pháp). French Football Federation. ngày 30 tháng 3 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Aleksić ensures honours are shared". Union of European Football Associations. ngày 21 tháng 7 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Brahimi fires France into last four". Union of European Football Associations. ngày 27 tháng 7 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Outnumbered France succumb to England". Union of European Football Associations. ngày 27 tháng 7 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Rabah Saâdane a une liste de 35 joueurs" (bằng tiếng Pháp). TSA Algérie. ngày 27 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Brahimi refuse de jouer avec l'Algérie et attend l'appel des bleus" (bằng tiếng Pháp). Football 360. ngày 1 tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010.
- ^ "France v. Japan Match Report" (bằng tiếng Pháp). International Festival "Espoirs". ngày 20 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010.
- ^ "France prevail in stormy 2011e". Union of European Football Associations. ngày 7 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011.
- ^ "Kakuta et Brahimi forfaits, Cabella appelé" (bằng tiếng Pháp). French Football Federation. ngày 6 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011.
- ^ "Yacine Brahimi opte pour l'Algérie" (bằng tiếng Pháp). DZFoot. ngày 6 tháng 2 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2013.
- ^ "Algérie 3–1 Benin" (bằng tiếng Pháp). DZFoot. ngày 26 tháng 3 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2013.
- ^ "Hàn Quốc 2–4 Algeria". BBC. ngày 22 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.
- ^ Ornstein, David (ngày 1 tháng 7 năm 2014). "Germany 2-1 Algeria". BBC Sport. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015.
- ^ "Algeria 3-1 South Africa". BBC Sport. ngày 19 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015.
- ^ "Match report: Ghana 1–0 Algeria" (PDF). Confederation of African Football. ngày 23 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2015.
- ^ "Yacine Brahimi is Porto's rising star". ESPN.com (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 11 năm 2014.
- ^ Kreo (ngày 26 tháng 9 năm 2017). "Equipe d'Algérie : EN: Mahrez et Brahimi à la Mecque pour effectuer une Omra". lebuteur.com (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2017.
- ^ Gueddouh, Nadir (ngày 12 tháng 6 năm 2017). "Riyad Mahrez, Yacine Brahimi in Mecca, to perform Umrah- Photos". DZ Breaking. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2017.
- ^ Yacine Brahimi tại Soccerway. Truy cập 1 tháng 1 năm 2015.
- ^ "Yacine Brahimi". BDFutbol. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2022.
- ^ a b "Yacine Brahimi". National Football Teams. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015.
- ^ talkSPORT (ngày 7 tháng 5 năm 2018). "Porto break Benfica dominance in Portugal to win first league title since 2013 and have a massive party". talkSPORT (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2018.
- ^ "FC Porto conquista Supertaça pela 21.ª vez" [FC Porto conquer Supercup for the 21st time] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Rádio e Televisão de Portugal. ngày 4 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Algeria hold on against Senegal to win Afcon". BBC Sport. ngày 19 tháng 7 năm 2019.
- ^ "Algeria beat Tunisia to win FIFA Arab Cup 2021". www.aljazeera.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2021.
- ^ "براهيمي أفضل لاعب عربي في استفتاء جزائري". مصرس. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2022.
- ^ "Brahimi wins Cầu thủ bóng đá châu Phi xuất sắc nhất năm của BBC award 2014". BBC Sport. ngày 1 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2014.
- ^ "BRAHIMI IS MOST PROMISING TALENT OF THE YEAR". CAF Online.com. 8 tháng 1. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2015.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp) - ^ "Glo-CAF awards 2014 winners - Africa - Sports - Ahram Online". english.ahram.org.eg. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2017.
- ^ Football, CAF – Confederation of African. "Aubameyang, Samatta rule Africa". www.cafonline.com. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2017.
- ^ "Yacine Brahimi élu Ballon d'Or algérien !". Foot Mercato : Info Transferts Football – Actu Foot Transfert. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017.
- ^ SJPF. "Melhor Golo de Outubro/Novembro é de Brahimi". SJPF – Sindicato dos Jogadores Profissionais de Futebol. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2017.
- ^ SJPF. "Melhor Golo de Outubro é de Brahimi". SJPF – Sindicato dos Jogadores Profissionais de Futebol. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2017.
- ^ "Jonas e Chiquinho, os melhores de janeiro". Liga Portugal. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2018.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
- ^ "Algerian Olympic, Sports Awards: Brahimi, Feghouli, Rouba, best athletes of 2014" (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập 30 tháng 1.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=(trợ giúp) - ^ "Gala Quinas de Ouro 2018". FPF (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2018.
- ^ "SINDICATO REVELA OS MELHORES 11 DE 2017". ngày 19 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2023.
- ^ "Players - Stars League - Top Scorer & Assist".
- ^ a b "Golden reward for Brahimi, Mbohli and Jaziri". FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 18 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2023.
- ^ "تعرف على التشكيلة المثالية لبطولة كأس العرب 2021". mala3eb.com (bằng tiếng Ả Rập). 19 tháng 12. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2023.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|date=(trợ giúp)
Liên kết ngoài
- {{{first}}} {{{last}}} – Thông số tại LFP.fr (bằng tiếng Pháp)
- Yacine Brahimi tại L'Équipe Football (bằng tiếng Pháp)
- Yacine Brahimi tại ESPN FCLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).
- Trang có lỗi kịch bản
- Lỗi CS1: ngày tháng
- Nguồn CS1 tiếng Pháp (fr)
- Bài có liên kết hỏng
- Bài có liên kết hỏng vĩnh viễn
- Nguồn CS1 tiếng Tây Ban Nha (es)
- Nguồn CS1 tiếng Bồ Đào Nha (pt)
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Nguồn CS1 tiếng Ả Rập (ar)
- Bài có mô tả ngắn
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Các bài viết sử dụng bản mẫu:Huy chương với vô địch
- Hộp thông tin bản mẫu huy chương cần sửa chữa
- Trang sử dụng infobox3cols có các tham số không có tài liệu
- Bài viết có văn bản tiếng Ả Rập
- Bài viết có nguồn tham khảo tiếng Pháp (fr)
- Bản mẫu Portal-inline có liên kết đỏ đến cổng thông tin
- Trang có bản mẫu cổng thông tin trống
- Sinh năm 1990
- Nhân vật còn sống
- Tín hữu Hồi giáo Pháp
- Tín hữu Hồi giáo Algérie
- Cầu thủ bóng đá nam Pháp
- Cầu thủ bóng đá nam Algérie
- Tiền vệ bóng đá nam
- Cầu thủ bóng đá INF Clairefontaine
- Cầu thủ bóng đá Paris Saint-Germain FC
- Cầu thủ bóng đá Stade Rennais FC
- Cầu thủ bóng đá Clermont Foot 63
- Cầu thủ bóng đá Granada CF
- Cầu thủ bóng đá FC Porto
- Cầu thủ bóng đá Al-Rayyan SC
- Cầu thủ bóng đá Al-Gharafa SC
- Cầu thủ bóng đá Ligue 1
- Cầu thủ bóng đá Ligue 2
- Cầu thủ bóng đá La Liga
- Cầu thủ Giải bóng đá vô địch quốc gia Bồ Đào Nha
- Cầu thủ bóng đá Giải bóng đá các ngôi sao Qatar
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá trẻ nam quốc gia Pháp
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá U-21 nam quốc gia Pháp
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Algérie
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2014
- Cầu thủ Cúp bóng đá châu Phi 2015
- Cầu thủ Cúp bóng đá châu Phi 2017
- Cầu thủ Cúp bóng đá châu Phi 2019
- Cầu thủ vô địch Cúp bóng đá châu Phi
- Cầu thủ bóng đá nam Pháp ở nước ngoài
- Cầu thủ bóng đá nam Algérie ở nước ngoài
- Nhân vật thể thao Pháp ở nước ngoài tại Tây Ban Nha
- Nhân vật thể thao Algérie ở nước ngoài tại Tây Ban Nha
- Nhân vật thể thao Pháp ở nước ngoài tại Bồ Đào Nha
- Nhân vật thể thao Algérie ở nước ngoài tại Bồ Đào Nha
- Nhân vật thể thao Pháp ở nước ngoài tại Qatar
- Nhân vật thể thao Algérie ở nước ngoài tại Qatar
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Tây Ban Nha
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Bồ Đào Nha
- Cầu thủ bóng đá nam ở nước ngoài tại Qatar
- Cầu thủ Cúp bóng đá châu Phi 2021
- Cầu thủ bóng đá Montreuil, Seine-Saint-Denis
- Nam vận động viên Pháp thế kỷ 21
- Nam vận động viên Algérie thế kỷ 21
- Người Pháp gốc Algérie
- Công dân nhập tịch Algérie